Hue University Journal of Science (HU JOS)
Not a member yet
4351 research outputs found
Sort by
NĂNG LỰC TƯ DUY PHẢN BIỆN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC SINH HỌC
Critical thinking has been identified as one of the crucial skills for 21st-century global citizens. Developing critical thinking in students essentially involves nurturing their abilities for independent thinking, comprehending and processing rational and scientific information, and aiming to foster problem-solving and creative competence in alignment with the 2018 high school program. This article elucidates the concept of critical thinking, analyzes its role in Biology education, and proposes a framework for the critical thinking competency of high school students, accompanied by a set of indicators. Clearly defining the framework for high school students' critical thinking competency provides a foundation for developing strategies to enhance their critical thinking skills in teaching Biology at the high school level.Tư duy phản biện đã được xác định là một trong những kỹ năng quan trọng của công dân toàn cầu thế kỉ 21. Việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh chính là phát triển năng lực tư duy độc lập, tiếp nhận và xử lý thông tin một cách hợp lý và khoa học, nhằm hướng đến phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh theo định hướng của chương trình giáo dục phổ thông năm 2018. Bài báo này làm rõ khái niệm tư duy phản biện và phân tích vai trò của tư duy phản biện trong dạy học Sinh học. Đồng thời, đề xuất cấu trúc năng lực tư duy phản biện của học sinh trung học phổ thông cùng với hệ thống các chỉ báo. Việc chỉ rõ cấu trúc năng lực tư duy phản biện của học sinh trung học phổ thông là cơ sở để xây dựng các biện pháp nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh trong quá trình dạy học môn Sinh học ở cấp trung học phổ thông
HIỆU QUẢ TRỒNG SẮN Ở CÁC VÙNG SẮN NGUYÊN LIỆU TỈNH ĐẮK LẮK
The study analyzes factors affecting the efficiency of cassava cultivation in industrial cassava areas of Dak Lak province, using data from in-depth interviews with 12 key informants and a survey of 364 farming households in Ea Kar and Krong Bong districts. Descriptive statistical analysis and multivariate regression were employed to analyze data. Results show that nearly 90% of the studied households rarely invest adequately in cassava production as they perceive cassava to be a crop for the poor and an easy crop to grow. Despite this, cassava yield in the studied area is almost equal to the national average, at approximately 20tons/ha. The profit margin from growing cassava is relatively high. With a return of about 2.79 times (in Ea Kar) and 4.27 times (in Krong Bong). Within the scope of this study, the more households invest in growing cassava, the lower profit margin they gain. Varieties of cassava, geography, soil fertility and climate conditions are factors that greatly affect household’s income from cassava. Besides, farm size, level of investment, connections with middlemen, geography and soil fertility are deciding factors of profit margins from cassava farming.Nghiên cứu tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả trồng sắn ở các vùng sắn nguyên liệu của tỉnh Đắk Lắk thông qua dữ liệu được thu thập từ phỏng vấn sâu 12 người am hiểu và khảo sát 364 hộ ở hai huyện Ea Kar và Krông Bông. Phân tích thống kê mô tả và hồi quy đa biến được sử dụng để phân tích dữ liệu nghiên cứu. Kết quả cho thấy gần 90% hộ nghiên cứu chưa đầu tư đúng mức cho trồng sắn do có quan điểm sắn là cây cho người nghèo và là cây dễ trồng. Tuy nhiên, năng suất sắn vẫn đạt mức trung bình so với cả nước với khoảng 20 tấn/ha. Tỷ suất lợi nhuận từ trồng sắn khá cao tương ứng với 2,79 lần (Ea Kar) và 4,27 lần (Krông Bông). Trong phạm vi nghiên cứu này, hộ càng đầu tư vào trồng sắn thì tỷ suất lợi nhuận thu được càng thấp. Giống, địa hình, đất đai, thời tiết là các yếu tố chính quyết định thu nhập của hộ từ trồng sắn và các yếu tố về quy mô, mức độ đầu tư, sự liên kết với thương lái và địa hình đất đai là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến tỷ suất lợi nhuận trồng sắn
NGHIÊN CỨU LỰC KHỬ CỦA DỊCH CHIẾT QUẢ NHÀU ỨNG DỤNG LÀM CHẤT KHỬ TRONG TỔNG HỢP XANH VÀNG NANO
The reducing power of Morinda citrifolia L. Fruit Extract (McFE) for the green synthesis of gold nanoparticles was evaluated by ferricyanide method, infrared spectroscopy (FT-IR) and ABTS•+ free radical scavenging activity. The results showed that the extract sample at the concentration of 75 mg/mL (McFE75) stored for 2 days gave the highest reducing power. FTIR spectroscopy indicated the involvement of carboxyl, amine and hydroxyl groups in the the composition of McFE75. Gold nanoparticles (AuNPs) were green synthesized using McFE75 as a reducing agent with a volume ratio of McFE75/Au3+ 1 mM of 1:10. The UV-vis spectroscopy, TEM and SEM methods were used to monitor the formation and morphology of AuNPs. The Zeta potential method was used to evaluate the stability of the gold colloidal system. The results showed that the time of 110 minutes was suitable to fabricate the gold nano colloidal system at room temperature. The size of obtained AuNPs was of about 17 nm, Zeta potential = -14.2 mV. The obtained nano gold colloidal system was quite stable. After 2.5 months of storage, the size and Zeta potential of AuNPs were 26 nm and -6.5 mV, respectively.Lực khử của dịch chiết quả nhàu đã được đánh giá bằng phương pháp ferricyanide, phổ hồng ngoại (FT-IR) và hoạt tính bắt gốc tự do ABTS•+ để ứng dụng tổng hợp xanh vàng nano. Kết quả cho thấy mẫu dịch chiết ở nồng độ 75 mg/mL (McFE75) được bảo quản trong 2 ngày cho lực khử tốt nhất. Carboxyl, amine và hydroxyl là những nhóm chức chính trong thành phần của McFE75. Các hạt vàng nano đã được tổng hợp bằng cách sử dụng mẫu McFE75 như một chất khử theo tỉ lệ thể tích McFE75/Au3+ 1 mM là 1:10. Phương pháp phổ UV–vis, TEM và SEM được sử dụng để theo dõi sự hình thành và hình thái của các hạt vàng nano. Phương pháp thế Zeta được sử dụng để đánh giá độ bền của hệ keo. Kết quả cho thấy thời gian 110 phút là phù hợp để chế tạo hệ keo vàng nano ở nhiệt độ phòng. Kích thước hạt thu được khoảng 17 nm, thế Zeta = -14,2 mV. Hệ keo vàng nano thu được khá bền. Sau 2,5 tháng lưu giữ, kích thước hạt và thế Zeta lần lượt là 26 nm và -6,5 mV.
NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TRUYỀN HÌNH MYTV TẠI VNPT HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
MyTV television is provided on high-speed Internet via fiber optic cable with technology (Fiber To The Home) and on 3G, 4G, or 5G mobile platforms. The MyTV is currently becoming more and more varied in terms of its package, prices, customer care policies, and significant investment in resources to constantly improve results, efficiency, market share, and quality service. The service and service quality of MyTV at VNPT Dakrong District, Quang Tri Province, are developing relatively well and continuously improving, generating dual revenue based on broadband and mobile structure, which helps the business grow. This study has resolved some of the following basic issues: Overview of theory and research on telecommunications service quality and MyTV service quality; Assessment of the current status of MyTV service quality at VNPT Dakrong District, Quang Tri Province, in the period 2021 to 2023; The study has outlined policy implications and solutions that contribute to improving the quality of MyTV television services at the research unit based on the assessment of the current situation.Dịch vụ truyền hình MyTV được cung cấp trên nền Internet tốc độ cao thông qua cáp quang với công nghệ FTTH (Fiber To The Home) và trên nền tảng di động 3G/4G/5G. Hiện nay, dịch vụ truyền hình MyTV ngày càng đa dạng về gói cước, giá cước, các chính sách chăm sóc khách hàng và đầu tư mạnh các nguồn lực nhằm không ngừng nâng cao kết quả, hiệu quả, thị phần và chất lượng dịch vụ. Dịch vụ và chất lượng dịch vụ truyền hình MyTV tại VNPT huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị đang là dịch vụ phát triển khá tốt và không ngừng nâng cao, tạo nguồn thu kép trên nền tảng hạ tầng băng rộng và di động góp phần cho sự phát triển của doanh nghiệp. Nghiên cứu này đã giải quyết một số vấn đề cơ bản sau: Tổng quan lý luận và nghiên cứu về chất lượng dịch vụ viễn thông, chất lượng dịch vụ MyTV; Đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ MyTV tại VNPT Đakrông trong giai đoạn 2021- 2023; Từ đánh giá thực trạng, nghiên cứu đã nêu một số hàm ý chính sách và giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ MyTV tại đơn vị nghiên cứu.
ASSESSMENT ON SOME OF SANDY SOIL PROPERTIES IN PHU VANG DISTRICT, THUA THIEN HUE PROVINCE
This study was conducted in Phu Da town and Vinh Xuan commune, Phu Vang district, Thua Thien Hue province, with the aim of evaluating and mapping soil properties, including pHKCl, total nitrogen, electrical conductivity, total phosphorus, total potassium, and soil organic carbon. The results showed that most soil properties in the study area were low; the soil was poor in organic carbon and acidic, with a notable decrease in organic carbon content compared to previous studies (0.69% compared to 0.86%). Three out of six soil quality indicators—soil acidity, total nitrogen, and total phosphorus—showed statistically significant differences between land use types. This difference was observed between the two-season rice land use type and all other land use types. This study employs the Ordinary Kriging interpolation method for soil quality indicators mapping. However, the results indicate that the map's accuracy is relatively low. This finding suggests that conventional interpolation methods, which rely on distance and sample residuals, may not be appropriate for soil quality indicators mapping. Consequently, there is a need to explore and apply alternative methods to enhance mapping accuracy
RỪNG NGẬP MẶN TẠI CỬA SÔNG GIANH TỈNH QUẢNG BÌNH VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NGẬP NƯỚC
Rừng ngập mặn tại cửa sông Gianh có diện tích là 22,1 ha, phân bố tại vùng cửa sông và các bãi ngập triều cao với thành phần gồm 23 loài của 17 họ thực vật. Các loài chủ yếu như Trang, Giá, Đước, Vẹt dù chiếm ưu thế về tổ thành. Các nhân tố sinh thái như độ mặn nước, chế độ thủy triều và thể nền có ảnh hưởng đến sự phân bố loài và khả năng sinh trưởng của rừng ngập mặn tại cửa sông Gianh. Rừng ngập mặn vùng cửa sông có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ hệ thống đê điều và đóng góp đáng kể cho sinh kế của cộng đồng. Việc bảo vệ và phục hồi tài nguyên RNM sẽ cải thiện đáng kể cho đời sống của người dân trong khu vực và sẽ góp phần ứng phó biến đổi khí hậu cho vùng ven biển miền Trung
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Phú Lộc là huyện đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn quản lý, bảo vệ và cho đến nay đã giao 1.557,8 ha rừng tự nhiên; 220,7 ha đất trống Ic; 71,2 ha rừng trồng kèm theo chính sách hưởng lợi cho cộng đồng 8 thôn, thuộc 4 xã của huyện quản lý, bảo vệ theo hai hình thức: Cộng đồng thôn và các nhóm hộ trong thôn. Các khu rừng tự nhiên giao cho cộng đồng hầu hết là rừng nghèo, mặc dù cơ chế hưởng lợi từ rừng của cộng đồng đã có tác dụng khuyến khích người dân tham gia, tuy vậy thủ tục khai thác phức tạp khó để cộng đồng thực hiện. Sự hỗ trợ của các dự án đã phần nào làm động lực thúc đẩy, nhưng thời gian hỗ trợ ngắn; sự phối hợp giữa các bên liên quan với cộng đồng trong quá trình quản lý bảo vệ rừng chưa được chặt chẽ. Tuy nhiên nhờ sự tham gia tích cực của người dân mà hạn chế được các vụ vi phạm, trữ lượng cũng như chất lượng rừng (do cộng đồng dân cư thôn quản lý, bảo vệ) ngày càng được nâng cao. Các khu rừng đã có vai trò rất lớn trong bảo vệ sinh thái, môi trường. Cơ cấu thu nhập của người dân thay đổi so với trước khi giao rừng, chủ yếu là sự tăng lên của thu nhập từ lâm nghiệp và nguồn thu từ du lịch sinh thái đóng góp vào cơ cấu thu nhập của cộng đồng. Qua việc giao rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý ở Phú Lộc cho thấy: Cộng đồng dân cư thôn quản lý bảo vệ có hiệu quả hơn so với nhóm hộ
TỔNG HỢP VẬT LIỆU NANO TRÊN CƠ SỞ TRO TRẤU VÀ CeO2 ỨNG DỤNG LÀM CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG CHO CÂY ỚT CHUÔNG (CAPSICUM ANNUUM L.)
In this study, CeO2/SiO2 material was synthesized and applied as a growth stimulant for bell pepper plants from Ce(NO3)4 precursor and rice husk ash using gamma irradiation method. Material morphology and structure were confirmed through physicochemical characterization methods including: XRD, EDX, IR and SEM characterization. The results of surveying the effects of CeO2/SiO2 materials on the growth and development of bell pepper plants show that CeO2/SiO2 significantly affects the growth and development of bell pepper plants. Experimental data obtained showed that bell pepper yield increased by 22 tons/ha, average root length increased by 3.6 cm and harvest time was 11 days less than the control sample. In addition, bell pepper plants supplemented with CeO2/SiO2 are stronger and do not have yellow leaves. This shows that CeO2/SiO2 has a growth stimulating effect on bell pepper plants.Trong nghiên cứu này, vật liệu CeO2/SiO2 được tổng hợp và ứng dụng làm chất kích thích sinh trưởng cây ớt chuông từ tiền chất Ce(NO3)4 và tro trấu bằng phương pháp chiếu xạ gamma. Hình thái và cấu trúc vật liệu được xác nhận thông qua các phương pháp đặc trưng hóa lý bao gồm: đặc trưng XRD, EDX, IR và SEM. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của vật liệu CeO2/SiO2 đến sự sinh trưởng phát triển của cây ớt chuông cho thấy, CeO2/SiO2 ảnh hưởng đáng kể đến sự sinh trưởng, phát triển của cây ớt chuông. Dữ liệu thực nghiệm thu được chỉ ra rằng năng suất ớt chuông tăng 22 tấn/ha, chiều dài rễ trung bình tăng 3,6 cm và thời gian thu hoạch ít hơn 11 ngày so với mẫu đối chứng. Ngoài ra, cây ớt chuông có bổ sung CeO2/SiO2 thì cứng cáp hơn và không có hiện tượng vàng lá. Điều này cho thấy CeO2/SiO2 có tác dụng kích thích sinh trưởng đối với cây ớt chuông
THỰC TRẠNG SỰ GẮN KẾT TRONG CÔNG VIỆC CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC HUẾ
The quality and capacity of the teaching staff hold a crucial position and role, especially important in determining the quality of university education. Developing the quantity and quality of the teaching staff must also be associated with creating excitement, passion, and peace of mind for the profession, aiming to retain core, quality lecturers. This article explores the current state of work engagement among Hue University lecturers. Research data were collected from survey results of 539 lecturers of 8 member universities of Hue University and processed using SPSS 22.0 statistical software. Research results show that, in general, Hue University lecturers are engaged in their work. However, there are still many lecturers who are not enthusiastic, devoted, and passionate about their work. To improve the cohesion in the work of lecturers, Hue University needs to research and analyze the work of lecturers, establish job descriptions and job standards; give more autonomy in work to lecturers, Research and propose a reasonable salary mechanism to ensure good income for lecturers; Build a close and meaningful working environment to help lecturers become more engaged with their work.Chất lượng, năng lực đội ngũ giảng viên giữ vị trí và vai trò chủ đạo, đặc biệt quan trọng, quyết định đến chất lượng giáo dục đại học. Phát triển số lượng, chất lượng đội ngũ giảng viên cũng phải gắn với việc tạo cho giảng viên sự hứng thú, say mê và yên tâm với nghề nghiệp, hướng đến giữ chân những giảng viên nòng cốt, có chất lượng. Bài báo này tìm hiểu thực trạng sự gắn kết trong công việc của đội ngũ giảng viên Đại học Huế. Số liệu nghiên cứu được thu thập từ kết quả khảo sát 539 giảng viên của 8 trường đại học thành viên của Đại học Huế, số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 22.0. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhìn chung giảng viên Đại học Huế gắn kết trong công việc, tuy nhiên vẫn còn tỷ lệ khá lớn giảng viên chưa thực sự hăng hái, cống hiến và say mê trong công việc. Để nâng cao sự gắn kết trong công việc của đội ngũ giảng viên, Đại học Huế cần nghiên cứu phân tích công việc của giảng viên, thiết lập được bản mô tả công việc và bảng tiêu chuẩn công việc; giao quyền tự chủ nhiều hơn trong công việc cho giảng viên; nghiên cứu đề xuất cơ chế hợp lý về lương nhằm đảm bảo thu nhập tốt cho giảng viên; xây dựng môi trường làm việc gần gũi và nhiều ý nghĩa để giúp giảng viên gắn kết hơn với công việc
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÍNH CHẤT HOÁ HỌC ĐẤT TRỒNG RAU MÁ TẠI HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Pennywort (Centella asiatica) plays an important role in cropping systems. Currently, the quality of agricultural production land and pennywort soil is at risk of degradation. Therefore, it is necessary to evaluate the quality of pennywort soil. The study was conducted in Quang Dien district, Thua Thien Hue province in 2024 to survey some pennywort soil chemical properties as a basis for evaluating soil quality and proposing some practices in improving the pennywort productivity and soil properties. 20 composed soil samples were collected from pennywwort soil at the 0-20 cm layer. The analytical parameters included pHKCl, OM (Organic matter), total N, P2O5, K2O, available P2O5 and CEC according to standard methods. The analysis results showed that the soil for growing pennywort contained pHKCl (4.15 – 4.30), OM (2.41 – 2.78%), total N (0.066 – 0.085%), total P2O5 (0.045 – 0.080%), total K2O (0.18 – 0.33%), available P2O5 (3.5 – 7.2 mg/100 g) and CEC (6.10 – 7.95 cmolc/kg). The general fertility of the soil for growing pennywort was from poor to medium level, with potassium content at poor level. Some practices for improving the soil quality by liming and using fertilizers appropriately for pennywort were proposed.Rau má (Centella asiatica) là cây trồng quan trọng trong cơ cấu cây trồng. Hiện này chất lượng đất sản xuất nông nghiệp và đất trồng rau má đang có nguy cơ bị thoái hoá. Do vậy, đánh giá chất lượng đất trồng rau má là rất cần thiết. Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế trong năm 2024 nhằm khảo sát được một số tính chất hóa học đất trồng rau má làm cơ sở đánh giá được chất lượng đất và đề xuất một số biện pháp nâng cao năng suất và cải thiện tính chất đất trồng rau má. 20 mẫu đất hỗn hợp được thu thập ở đất chuyên trồng rau má tại tầng 0–20 cm. Các chỉ tiêu phân tích bao gồm pHKCl, OM (Hợp chất hữu cơ), N, P2O5, K2O tổng số, P2O5 dễ tiêu và CEC theo các phương pháp tiêu chuẩn. Kết quả phân tích cho thấy trên đất trồng rau má có pHKCl (4,15 – 4,30), OM (2,41 – 2,78%), N tổng số (0,066 – 0,085%), P2O5 tổng số (0,045 – 0,080%), K2O tổng số (0,18 – 0,33%), P2O5 dễ tiêu (3,5–7,2 mg/100 g) và CEC (6,10–7,95 cmolc/kg). Đánh giá chung độ phì của đất trồng rau má ở mức nghèo đến trung bình, riêng hàm lượng kali ở mức nghèo. Một số biện pháp cải tạo đất về bón vôi và sử dụng phân bón hợp lý cho cây rau má được đề xuất