Hue University Journal of Science (HU JOS)
Not a member yet
4351 research outputs found
Sort by
Assessment of extractable carbon and nitrogen mineralization in paddy soil under Fenton reaction
This study aims to evaluate the effects of straw, Fenton reagent, and the combination of straw and Fenton treatments on the decomposition of organic matter and nitrogen mineralisation in soil. Extractable carbohydrate, total dissolved organic carbon (DOC), ammonium (NH₄⁺) and nitrate (NO₃–) contents, and total inorganic nitrogen were analysed. The results show that the Fenton treatment significantly increased the NH₄⁺ content (23.65 mg/kg) and the inorganic-to-total-N ratio (20.30%), reflecting a strong mineralisation capacity. Meanwhile, the combined treatment resulted in the lowest NO₃– concentration, indicating potential nitrogen retention or loss. Principal component analysis (PCA) reveals a clear grouping among treatments, with DOC and NH₄⁺ being the key variables contributing to this grouping. These findings provide a scientific foundation for selecting appropriate treatment methods to enhance soil nutrient availability in agricultural systems.Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp xử lý khác nhau, bao gồm rơm rạ, thuốc thử Fenton, và sự kết hợp giữa rơm rạ và Fenton, đến quá trình phân hủy chất hữu cơ và khoáng hóa nitơ trong đất. Các chỉ tiêu được phân tích bao gồm carbohydrate chiết xuất (ECH), tổng carbon hữu cơ hòa tan (DOC), amoni (NH₄⁺), nitrat (NO₃⁻), và tổng nitơ vô cơ. Kết quả cho thấy xử lý Fenton làm tăng đáng kể hàm lượng NH₄⁺ (23,65 mg/kg) và tỷ lệ nitơ vô cơ trên tổng nitơ (20,30%), phản ánh khả năng khoáng hóa mạnh mẽ. Trong khi đó, xử lý kết hợp cho kết quả nồng độ NO₃⁻ thấp nhất, cho thấy khả năng giữ lại hoặc thất thoát nitơ tiềm năng. Phân tích thành phần chính (PCA) cho thấy sự phân nhóm rõ rệt giữa các biện pháp xử lý, trong đó DOC và NH₄⁺ là những biến đóng góp chính. Những phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học cho việc lựa chọn phương pháp xử lý phù hợp nhằm nâng cao khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất trong hệ thống canh tác nông nghiệp
Phylogenetic tree analysis of six strawberry (Fragaria spp.) cultivars using dna barcode
We performed a phylogenetic analysis of six strawberry cultivars using chloroplast rbcL, rpoC2, and nuclear ribosomal ITS2 sequences. The objectives of this study were to analyze the phylogenetic relationship of 6 strawberry cultivars (Bach Tuyet Trang, Nhat Sky, Ha Lan Hoa Hong, New zealand, Han Goseul and Hana) based on rbcL, rpoC2, and ITS2 regions. The results compared to Nucleotide BLAST GenBank showed a high level of similarity (97.57-99.15%) for the rbcL sequences, 98.40-98.86% for the rpoC2 sequences, and 93.32-99.37% for the ITS2 sequences, all of which were similar to Fragaria x ananassa. Our study indicated that rbcL and nuclear ribosomal ITS2 sequences increased the efficiency of the phylogenetic analysis, while rpoC2 sequences did not provide sufficient clarity to confidently resolve the evolutionary history of strawberry cultivars. Phylogenetic analysis using DNA barcode markers (ITS2, rbcL and rpoC2) through Maximum Parsimony resulted in clades with a high bootstrap value: 99 for HN-HG and bootstrap value of 75 for NZ and HL cultivars. Our findings suggest that DNA barcoding is an efficient tool for identifying the genetic diversity of these six strawberry cultivars and highlights the potential for this study to contribute to the conservation, sustainable genetic resources and breeding program of the Fragaria species
VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA NIỀM TIN TỔ CHỨC TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA DANH TIẾNG TỔ CHỨC VÀ HÀNH VI XANH CỦA NHÂN VIÊN TRONG NGÀNH DU LỊCH
This study aims to explore the mediating role of organizational trust (OT) in the relationship between organizational reputation (ORP) and employee green behavior (EGB) in tourism enterprises in Xuan Huong ward, Da Lat, Lam Dong province. Based on data from 367 questionnaires from tourism company employees, the analysis results show that organizational reputation has a positive impact on employee green behavior directly and through the mediating variable of organizational trust. The study contributes to the theoretical system of green behavior in the tourism industry and proposes some practical managerial implications to enhance organizational trust and green behavior in local tourism enterprises.Nghiên cứu này nhằm khám phá vai trò trung gian của niềm tin tổ chức (Organizational Trust – OT) trong mối quan hệ giữa danh tiếng tổ chức (Organizational Reputation – ORP) và hành vi xanh của nhân viên (Employee Green Behavior – EGB) tại các doanh nghiệp du lịch phường Xuân Hương- Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng. Dựa trên dữ liệu 367 bảng câu hỏi khảo sát từ các nhân viên công ty ngành du lịch, kết quả phân tích cho thấy, biến danh tiếng tổ chức có ảnh hưởng tích cực đến hành vi xanh nhân viên một cách trực tiếp và thông qua biến trung gian là niềm tin tổ chức. Nghiên cứu đóng góp vào hệ thống lý thuyết về hành vi xanh trong ngành du lịch và đề xuất một số hàm ý quản trị thực tiễn nhằm nâng cao niềm tin tổ chức và hành vi xanh tại doanh nghiệp du lịch địa phương
NGHIÊN CỨU TĂNG SINH KHỐI VI TẢO BIỂN Tetraselmis sp. ĐỂ XỬ LÝ NITƠ VÀ PHOTPHO TRONG NƯỚC LỢ - MẶN GIÀU CHẤT DINH DƯỠNG
This study investigates the cultivation of Tetraselmis sp., a marine microalgae species, in seawater enriched with elevated levels of nutrient salts (N, P). The primary objective was to determine the suitable growth conditions for Tetraselmis sp., considering variations in nutrient composition, pH levels, initial inoculum density, and differing initial TN:TP ratios. Results indicate robust growth of Tetraselmis sp. in F/2 seawater medium with a salinity of 30 ‰ and pH 8, with initial inoculum densities ranging from 5% to 10%. Tetraselmis sp. exhibited strong growth potential in environments with elevated nutrient salt concentrations (N, P). Specifically, as TN concentration increased from 9.7 to 56.3 mg/L and TP concentration rose from 0. 1 to 3.7 mg/L, cell density increased from 6.98×105 (cells/mL) to 1.34×106 (cells/mL) after a 15-day cultivation period. Total phosphorus treatment efficiency ranged from 82% to 100%. Total nitrogen treatment efficiency ranged from 97% to 83% for initial T-N concentrations of 10 to 25 mg/L. However, with higher T-N concentrations (~56 mg/L), the treatment efficiency reached only 58% after 15 days of cultivation. These findings highlight the significant potential of cultivating Tetraselmis sp. for N and P removal from brackish-salt water rich in nutrients in Vietnam.Trong nghiên cứu này, vi tảo biển Tetraselmis sp. được nuôi trong nước biển với nồng độ cao các muối dinh dưỡng (N, P). Nghiên cứu đã khảo sát các điều kiện thích hợp cho sự phát triển của tảo, bao gồm: môi trường dinh dưỡng, pH, mật độ tiếp giống, và tỷ lệ TN:TP ban đầu khác nhau. Kết quả cho thấy, Tetraselmis sp. phát triển tốt trong môi trường F/2 nước biển có độ muối 30 ‰ và pH 8, với mật độ tiếp giống ban đầu dao động từ 5% đến 10%. Tetraselmis sp. đã thể hiện khả năng phát triển mạnh mẽ trong môi trường có nồng độ cao của các muối dinh dưỡng (N, P). Cụ thể, khi nồng độ T-N tăng từ 9,7 lên 56,3 mg/L và nồng độ T-P tăng từ 0,1 lên 3,7 mg/L, mật độ tế bào tảo cũng tăng tương ứng từ 6,98×105 (TB/mL) lên 1,34×106 (TB/mL) sau 15 ngày nuôi cấy. Hiệu suất xử lý T-P đạt từ 82% đến 100%. Hiệu suất xử lý T-N đạt từ 97 đến 83% đối với nồng độ T-N ban đầu trong khoảng từ 10 đến 25 mg/L. Tuy nhiên, với T-N cao hơn (~56 mg/L), hiệu suất chỉ đạt 58% sau 15 ngày nuôi cấy. Kết quả này cho thấy tiềm năng lớn của việc nuôi cấy vi tảo biển Tetraselmis sp. trong xử lý loại N và P trong môi trường nước lợ-mặn giàu chất dinh dưỡng ở Việt Nam
THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA THỰC VẬT NGẬP MẶN Ở ĐẦM LẬP AN, HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu đánh giá hiện trạng phân bố thảm TVNM ở đầm Lập An bằng cách áp dụng các phương pháp sinh thái học truyền thống và công nghệ GIS. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 33 loài TVNM thuộc 32 chi, 25 họ thuộc 2 ngành. Trong đó, một số loài trước đây đã được công bố nhưng hiện không còn tìm thấy như Bần chua (Sonneratia caseolaris) và Ô rô (Acanthus ilicifolius). Tuy nhiên, đã phát hiện cây Dà quánh (Ceriops decandra) và xem là loài lần đầu tiên được ghi nhận tại đầm Lập An. TVNM ở Lập An hiện chỉ phân bố thành từng mảng rải rác ở các bãi đất ven bờ đầm và tập trung vào 5 khu vực chính. Với sự hỗ trợ của công nghệ GIS, bản đồ số GIS hiện trạng lớp phủ thảm TVNM đã được xây dựng. Cùng với các lớp thông tin nền của hệ cơ sở dữ liệu GIS, các lớp thuộc tính chi tiết về số lượng thành phần loài, loài ưu thế, diện tích các thảm TVNM tại 5 khu vực được xây dựng sẽ làm cơ sở cho việc quản lý, sử dụng, bảo tồn và phục hồi thảm TVNM ở vùng này
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ SÂU BỆNH CỦA GIỐNG HOA CHUÔNG MÀU ĐỎ (Sinningia Speciosa) TRÊN CÁC LOẠI GIÁ THỂ KHÁC NHAU Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Chúng tôi đã nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và sâu bệnh của giống hoa chuông màu đỏ (Sinningia speciosa) trên các loại giá thể khác nhau trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế vụ Đông Xuân năm 2009 - 2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy giống hoa này sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện thời tiết khí hậu vụ Đông Xuân ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Thời gian từ khi trồng đến khi ra nụ đầu tiên là 42 - 45,8 ngày. Thời gian từ khi bắt đầu trồng đến nụ đầu tiên nở là 69,3 - 72,9 ngày. Thời gian từ khi bắt đầu trồng đến hoa cuối cùng tàn là 81 - 83,2 ngày và có sự khác nhau giữa các loại giá thể trồng. Trong các loại giá thể thí nghiệm, giá thể phù hợp cho cây hoa chuông sinh trưởng và phát triển tốt nhất là giá thể được phối trộn giữa đất phù sa, phân chuồng hoai mục và trấu hun với tỷ lệ 1:1:1. Các loại sâu bệnh hại chủ yếu là sâu khoang, sâu xám và bệnh thối thân do nấm Pythium sp, Collectotrichum sp gây nên. Từ khóa: Hoa chuông, giá thể trồng hoa chuông, sâu bệnh hại hoa chuông
ĐIỀU TRA, TINH SẠCH VÀ TÌM HIỂU TÍNH CHẤT ĐẶC TRƯNG CỦA LECTIN MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU CÔ VE (PHASEOLUS VULGARIS L.)
Đã điều tra lectin của 6 giống đậu cô ve thấy rằng cả 6 giống đều có hoạt tính lectin trong đó giống đậu cove hạt trắng dạng bụi (white bean core bush type white seeds) có hoạt tính lectin mạnh nhất, đặc biệt đối với hồng cầu trâu, bò, lợn. Lectin của 6 giống này đều không có biểu hiện đặc hiệu nhóm máu. Lectin đậu cove hạt trắng dạng bụi hoạt động tốt nhất ở nhiệt độ 300C – 400C, pH 6,8 – 7,6. Các đường α-D-glucose, α-D-galactose, D-mannose, D-fructose, D-saccharide, D-lactose, D-arabinose và D-manitose ở nồng độ 0,05 – 0,1 M có tác dụng kìm hãm hoạt tính của lectin đậu cove hạt trắng dạng bụi. Lectin này cũng bị kìm hãm bởi protein của một số huyết thanh người và động vật (trâu, bò, lợn). Đã tinh sạch lectin đậu cove hạt trắng dạng bụi có độ tinh sạch gấp khoảng 52 lần so với dịch thô ban đầu. Trên gel polyacrylamide thấy xuất hiện 5 band có khối lượng phân tử trong khoảng 30 – 97 kDa
KHẢO SÁT SỰ BIẾN ĐỘNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT NỔI (ZOOPLANKTON) Ở ĐẦM PHÁ TAM GIANG - CẦU HAI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Hệ đầm phá nước lợ Tam Giang - Cầu Hai nằm ở tọa độ khoảng 16014’ – 16042’ độ vĩ Bắc và 107022’ – 107057’ độ kinh Đông, kéo dài chạy dọc trên 68 km theo bờ biển Thừa Thiên Huế với diện tích hơn 22.000 ha. Hệ đầm phá này lớn nhất ở Đông Nam Á, tiêu biểu cho hệ thống đầm phá ở Việt Nam. Chúng tôi tiến hành thu thập, phân tích mẫu vật liên tục 15 tháng (từ tháng 7/2008 đến tháng 11/2009), đã xác định được 43 loài động vật nổi (Zooplankton) thuộc 24 giống của 18 họ và 3 bộ. Trong thành phần loài động vật nổi ở Tam Giang - Cầu Hai, bộ giáp xác Chân chèo (Copepoda) có số loài nhiều nhất với 37 loài (chiếm 86,04%), tiếp đến là bộ giáp xác Râu ngành (Cladocera) với 5 loài (chiếm 11,63%); trùng Bánh xe (Rotatoria) với 1 loài (chiếm 2,33%). Đã phát hiện thêm 9 loài, 01 họ mới bổ sung cho khu hệ động vật nổi ở vùng nghiên cứu. Khảo sát sự biến động về mật độ động vật nổi có sự biến động khá rõ theo mùa: Mùa khô có mật độ cao hơn hẳn mùa mưa. Vào mùa mưa, số loài tăng lên, nhưng mật độ giảm
SO SÁNH SỰ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA TÔM CÀNG XANH VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
Trong những năm qua, sản lượng tôm càng xanh nuôi ngày càng giảm. Thêm vào đó, những năm gần đây tôm càng xanh Trung Quốc được nhập vào Việt Nam ngày càng nhiều. Để đánh giá sự khác biệt di truyền giữa hai quần đàn tôm càng xanh Việt Nam và Trung Quốc và làm cơ sở cho việc quản lý, bảo tồn nguồn gen tôm càng xanh tại Việt Nam. Nghiên cứu này đã so sánh sự đa dạng di truyền giữa tôm càng xanh Việt Nam và tôm càng xanh Trung Quốc. Sử dụng phương pháp Microsatellite và RAPD để kiểm tra sự khác biệt di truyền của hai quần đàn tôm càng xanh Việt Nam và Trung Quốc cùng với 6 cặp mồi Microsatellite và 5 mồi ngẫu nhiên RAPD. Kết quả cho thấy chỉ có 1 vệt băng cho tất cả 6 mồi Microsatellite giữa tôm càng xanh Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, khi phân tích RAPD cho thấy có sự khác biệt di truyền giữa 2 quần đàn tôm. Trung bình là 14,9 alen (TCXTQ) và 12,9 alen (TCXVN). Trung bình dị hợp tử, giá trị đa dạng di truyền PIC lần lượt là 0,156; 0,84 – 0,88 (TCXTQ) và 0,179; 0,86 – 0,88 (TCXVN), chỉ số Shanmon là 0,242 (TCXTQ), 0,279 (TCXVN). Tôm càng xanh Trung Quốc trong nghiên cứu này có thể là loài Macrobrachium rosenbergii và đã trải qua quá trình thuần dưỡng lâu dài
Sustainability of municipal solid waste management: a case study in Hue City, Vietnam
The recent expansion and restructuring of Hue City have created numerous opportunities and driving forces to develop the city into a national city of Vietnam. However, it also poses challenges for the local government in many aspects, particularly in municipal solid waste (MSW) management. This paper aims to explore the financial framework of MSW in Hue City, which includes the process of MSW service fee collection and state budget subsidies for MSW management. The cost-revenue analysis using the CORE Plus tool shows that the cost of MSW services in the former Hue City has been significantly subsidized by the state budget, but this subsidy is just sufficient for MSW management, not for improving and upgrading the MSW service system. It was also revealed that although the MSW service fee has been recently increased, the total fee collected and contributed to the state budget from 2018 to 2020 accounted for only 31.2% of the total MSW service cost. The total unit cost, as well as the unit cost of every single MSW service, has reduced over the past five years due to the temporary shutdown of the Thuy Phuong plant, thereby causing disparities in the proportion of each type of service cost over the years. These analysis results were also used for expert consultation to devise a number of solutions that help the city secure its financial viability of MSW services by both preventing the loss of MSW service fees collected from MSW generators and minimizing the collection and transportation costs simultaneously