Digital Library Library University of Social Sciences and Humanities, Viet Nam National University HCM City
Not a member yet
    6430 research outputs found

    Quan điểm của nho giáo về đường lối đức trị và ảnh hưỏng của nó đến Việt Nam thời kỳ Lê Sơ

    No full text
    Tư tưởng đức trị của Nho giáo là những quan điềm về đường lối trị nước và quản lý xã hội, trong đó đặc biệt đề cao vai trò của đạo đức. Các phạm trù “nhân”, “lễ”, “chính danh” không những là nội dung cơ bản, mà còn là biện pháp để thực hiện đường lối chính trị đó. Dưới sự ảnh hưởng của Nho giáo, các triều đại phong kiến Việt Nam đã vận dụng đường lối đức trị để xây dựng một xã hội ổn định, thịnh vượng; trong đó có triều đại Lê Sơ. Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung phân tích quan điểm của Nho giáo về đường lối đức trị, đồng thời gán với những đặc điểm chính trị - xã hội Việt Nam thời kỳ Lê Sơ; từ đó nêu bật những ảnh hưởng của nó đến Việt Nam thời kỳ Lê Sơ

    Sự hình thành, phổ biến và thực hành các giá trị cốt lõi xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc và một số gợi ý cho Việt Nam

    No full text
    Việc đúc kết giá trị quan cốt lõi xã hội chủ nghĩa là yêu cầu tất yếu đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, là nhu cầu của thời đại trước tinh hình phức tạp mà Trung Quốc phải đối mặt trong giai đoạn quan trọng của cuộc cải cách sâu rộng, toàn diện. Nhận thức được điều đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc hết sức coi trọng việc đề xuất giá trị quan cốt lõi xã hội chủ nghĩa như là một sự tích hợp các yêu cầu giá trị liên quan đến đất nước, xã hội và công dân, định hướng việc xây dựng quốc gia, xã hội và hình mẫu công dân, thiết lập nên định hướng giá trị cho con dường xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Trong bài viết này, chúng tôi nhìn lại quá trình hình thành, sự phổ biến và thực hành các giá trị cốt lõi xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc, từ đó, bước đầu chỉ ra một số gợi ý cho Việt Nam trong quá trình xây dựng hệ giá trị quốc gia thời kỳ mới

    Điểm tương đồng và khác biệt của kiệu rước tượng trong tín ngưỡng, tôn giáo vùng châu thổ Bắc Bộ (Khảo sát tục rước kiệu của tín ngưỡng Thành hoàng và nghi lễ Công giáo ở Hà Nội

    No full text
    Nghiên cứu kiệu rước tượng và nghi lễ rước kiệu thề hiện niềm tin vào thần linh, tinh thần cổ kết cộng đồng trong không gian văn hóa nông nghiệp lúa nước điển hình. Với mỗi tín ngưỡng, tôn giáo, quan niệm về kiệu rước tượng và nghi lễ rước kiệu có sự khác biệt qua kết cẩu, hoa văn, hình thức rước kiệu, niềm tin của nhân dãn trong các nghi lễ truyền thống. Bằng cách tiếp cận liên ngành Tôn giáo học, Việt Nam học cùng với phưcmg pháp nghiên cứu định tính, tập trung phỏng vấn sâu, phỏng vân tham dự, nghiên ciru nhằm làm rõ phần nào kiệu rước tượng trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng để đổi sánh với nghi lễ rước kiệu trong Công giáo của người Việt ờ châu thồ Băc Bộ. Từ đó, cung cấp những tri thức dân gian, lý giải một phần bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt Nam trong hành trình xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

    Nhận thức về trách nhiệm công dân của sinh viên Việt Nam hiện nay

    No full text
    Trách nhiệm công dân của học sinh là vấn đề cần giải quyết trong bối cảnh nền kinh tế số đang phát triển của Việt Nam dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu hỗn hợp với dữ liệu được khảo sát từ 26.331 sinh viên và 75 cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện tại 6 khu vực trên cả nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh có xu hướng lựa chọn trách nhiệm công dân liên quan đến bản thân, gia đình và đất nước hơn là những trách nhiệm liên quan đến cộng đồng. Chúng tôi đề nghị cần tiếp tục tổ chức các hoạt động khuyến học để học sinh hiểu rõ các quy định về trách nhiệm công dân tại Luật Thanh niên năm 2020. Bên cạnh đó, các tổ chức Đoàn Thanh niên, Đoàn Thanh niên cần tăng cường giáo dục tư tưởng, lối sống bằng các chương trình, hoạt động phù hợp với nhu cầu của học sinh, sinh viên trong bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu này là cơ sở để nghiên cứu sâu hơn nhằm đề xuất một số biện pháp nâng cao trách nhiệm công dân của học sinh Việt Nam.Students' civic responsibility is an issue that needs addressing in the context of Vietnam's developing digital economy based on science, technology and creative innovation. This research study was conducted using mixed research methods with data surveyed from 26,331 students and 75 in-depth interviews conducted in 6 regions across the country. The research results show that students tend to choose civic responsibilities related to themselves, family and country rather than those related to the community. We propose that it is necessary to continue to organize promotional activities so that students clearly understand the regulations on civic responsibilities in the 2020 Youth Law. In addition, Youth Union and Youth Association organizations need to strengthen ideological and lifestyle education with programs and activities suitable to the needs of students in the current context. This study is the basis for further research to propose a number of measures to improve the civic responsibility of Vietnamese students

    “Kế Hoạch Tứ Niên” của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trong âm mưu bình định miền Tây Nam Bộ (1972-1975)

    No full text
    Từ năm 1969, sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ đã triển khai ở miền Nam Việt Nam chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” vói mục tiêu bình định miền Nam Việt Nam bằng người Việt Nam. Để thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tran h ” và hoàn thành kế hoạch “bình định nông thôn” miền Nam, đế quốc Mỹ tăng cường viện trợ về kinh tế, quân sự, hiện đại hóa quân đội Việt Nam Cộng hòa. Mặt khác, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thay đổi chiến lược “tìm diệt” bằng biện pháp “quét và giữ”, “phòng ngự chiều sâu”, đẩy mạnh chính sách bình định bằng chương trình “bình định cấp tốc” nhằm kiểm soát toàn bộ người dân và lãnh thổ miền Nam Việt Nam. “Quét giữ” (quét đến đâu, giữ đến đó) tức là tấn công đẩy lùi đôì phương và bình định để giành đất, giành dân, vơ vét của cải, nhân lực, vật lực, phục vụ chiến tranh. Giai đoạn này, khu vực ưu tiên bình định là địa bàn xung quanh Sài Gòn, đồng bằng sông Cửu Long, Khu 5 và Trị Thiên

    Thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thừa Thiên Huế

    No full text
    Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai lần đến sinh sống và học tập tại Thừa Thiên Huế. Lần đầu tiên Người đến Huế là vào năm 1895 và sống cùng gia đình ở đây cho đến năm 1901; lần thứ hai là từ năm 1906 đến năm 1909. Đó là những năm tháng thời niên thiếu Người được sống trong tình cảm ấm áp của gia đình, cảm nhận sâu sắc tình yêu vô bờ bến, sự hy sinh của mẹ (bà Hoàng Thị Loan) đối với chồng và các con ; khâm phục tấm gương bền chí học hành của cha (ông Nguyễn Sinh Sắc). Đặc biệt, đây cũng là thời gian Người được tiếp thu nhiều kiến thức, nhiều luồng tư tưởng yêu nước, thu nhận vào trái tim và khối óc những tín hiệu của lòng yêu nước và tinh thần dân tộ

    Kính ngữ tiếng Nhật được biểu thị bằng phương thức phụ tố trong một số tác phẩm văn học của Natsume Souseki

    No full text
    Phương pháp tiền tố là phương pháp chính để diễn đạt kính ngữ trong tiếng Nhật. Ba tác phẩm văn học nổi tiếng của nhà văn Nhật Bản vĩ đại Natsume Souseki đã sử dụng nhiều kính ngữ tiếng Nhật. Các kính ngữ được sử dụng trong các tác phẩm này đã thể hiện nhiều nét tiêu biểu của kính ngữ tiếng Nhật vào những năm đầu thế kỷ XX, thời kỳ phát triển mạnh mẽ của kính ngữ tiếng Nhật. Phương pháp tiền tố bao gồm việc kết hợp tiền tố, hậu tố hoặc cả tiền tố và hậu tố với các từ tiếng Nhật thực như danh từ, tính từ, động từ và trạng từ để biểu thị sự tôn trọng, khiêm tốn và ngôn ngữ lịch sự. Trong số các phương pháp được đề cập ở trên, việc sử dụng tiền tố chiếm tỷ lệ cao nhất, điều này cho thấy tiền tố đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các dạng kính ngữ tiếng Nhật.The affix method is the main method to express honorifics in Japanese. Three famous literary works by the great Japanese writer Natsume Souseki used many Japanese honorifics. The honorifics used in these works demonstrated many typical features of Japanese honorifics in the early years of the twentieth century, a period of strong development of Japanese honorifics. The affix method involves combining prefixes, suffixes or both prefixes and suffixes with real Japanese words such as nouns, adjectives, verbs, and adverbs to denote respect, humility and polite language. Among the above-mentioned methods, the use of prefixes accounts for the highest proportion, which shows that prefixes play an important role in forming Japanese honorific forms

    0

    full texts

    6,430

    metadata records
    Updated in last 30 days.
    Digital Library Library University of Social Sciences and Humanities, Viet Nam National University HCM City
    Access Repository Dashboard
    Do you manage Open Research Online? Become a CORE Member to access insider analytics, issue reports and manage access to outputs from your repository in the CORE Repository Dashboard! 👇