Digital Library Library University of Social Sciences and Humanities, Viet Nam National University HCM City
Not a member yet
6430 research outputs found
Sort by
Trung tâm Văn hóa - Thể thao quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ trước yêu cầu xã hội hóa : luận văn Thạc sĩ : 8.22.90.40
Thuế thân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: công cụ điều tiết nguồn nhân lực cho khai thác đồn điền của tư bản Pháp ở Nam Kỳ
Dưới thời quân chủ ở Việt Nam, thuế thân là một trong những loại thuế chính và là nguồn thu quan trọng đốĩ với ngân sách của nhà nưdc. Từ cuối thế kỷ XIX, cùng với quá trình xâm lược, cai trị, khai thác kinh tế ở Việt Nam, chính quyển thuộc địa Pháp, một mặt tiếp tục duy trì, bảo lưu các quy chế có từ thòi quân chủ, đồng thời từng bước sửa đổi chế độ thuê thân ỏ Việt Nam cho phù hợp vói lợi ích của tư bản Pháp và chính quyền thuộc địa. Chế độ thuế thân ở Việt Nam thời thuộc địa đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu và được đề cập rải rác trong một số công trình. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã công bô' chủ yếu tiếp cận và xem xét thuế thân là một công cụ bóc lột của chính quyền thuộc địa Pháp đôì với nhân dân Việt Nam. Trên cơ sỏ đó các nghiên cứu này đánh giá, thuế thân nặng nề là một trong những nguyên nhân khiến cuộc sống của đa số người dân Việt Nam cùng cực và dẫn tói các cuộc đấu tranh chống lại sự đô hộ của thực dân Pháp
Chất lượng cuộc sống: khái niệm, tiếp cận nghiên cứu và quan điểm lý thuyết
Chất lượng cuộc sống thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu không chỉ ở tầm quan trọng thực tiễn của nó, mà còn bởi tính phức tạp của chủ đề này đặt ra. Bài viết cung cấp một tổng quan nghiên cứu về sự phát triển các khái niệm, cách tiếp cận và quan điểm lý thuyết trong nghiên cứu chất lượng cuộc sống. Là một tập hợp đa chiều của nhiều lĩnh vực, việc xác định “phạm vi” của cuộc sống, từ hữu hình đến vô hình, cách đo lường “chất lượng” của cuộc sống, từ khách quan đến chủ quan, và cơ sở lý thuyết của các lựa chọn trên là những nan đề cần được thảo luận. Các vấn đề cơ bản nêu trên có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu chất lượng cuộc sống ở Việt Nam
An investigation into learners' attitudes towards using a self-study app in learning vocabulary at an English center : MA
Nghĩa biểu trưng của con số “ba” trong thành ngữ, tục ngữ thái
The Thai language belongs to the Tai-Kadai language family. The Thai people refer to their idioms and proverbs as “quam chiêm lang” (words passed down). These language units encapsulate a lot of profound folk knowledge. Surveying 6,602 units of Thai idioms and proverbs, the number “three” occur 132 times. Compared to other numbers, the number “three” appears second most common (following only the number “one”). The number three expresses interesting symbolic meanings including completeness, singular/plural distinctions, taboo implications, complexity, change, and power. The symbolic meaning of the number “three” in Thai’ idioms and proverbs contributes to reflecting the human outlook and worldview of ethnic minorities. The article focuses on presenting the common cultural values, classifying and analyzing the symbolic meaning of the number “three” in Thai idioms and proverbs in order to identify the basic semantic features of this number in a clear and systematic manner.Tiếng Thái thuộc ngữ hệ Tai-Kadai. Người Thái gọi thành ngữ, tục ngữ của mình là “quam chiêm lang”. Những đơn vị ngôn ngữ này chứa đựng rất nhiều kiến thức dân gian sâu sắc. Khảo sát 6.602 đơn vị thành ngữ, tục ngữ của Thái, số “ba” xuất hiện 132 lần. So với các con số khác, số “ba” xuất hiện phổ biến thứ hai (chỉ sau số “một”). Số ba thể hiện những ý nghĩa biểu tượng thú vị bao gồm sự trọn vẹn, sự phân biệt số ít/số nhiều, hàm ý cấm kỵ, sự phức tạp, sự thay đổi và sức mạnh. Ý nghĩa biểu tượng của số “ba” trong thành ngữ, tục ngữ của người Thái góp phần phản ánh nhân sinh quan và thế giới quan của các dân tộc thiểu số. Bài viết tập trung trình bày những giá trị văn hóa chung, phân loại và phân tích ý nghĩa biểu tượng của số “ba” trong thành ngữ, tục ngữ của người Thái nhằm nhận diện những đặc điểm ngữ nghĩa cơ bản của con số này một cách rõ ràng và có hệ thống
Thực hành kinh doanh có trách nhiệm trong mối liên hệ với các tiêu chuẩn theo xu hướng mới
Bài viết giới thiệu về khái niệm kinh doanh có trách nhiệm (RBP) tại Việt Nam, làm rõ mối liên hệ giữa kinh doanh có trách nhiệm và các tiêu chuẩn mang tính xu hướng đang ngày càng được áp dụng rộng rãi trên thế giới và chuỗi giá trị toàn cầu như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR), khung khổ môi trường, xã hội và quản trị (ESG), các tác động toàn cầu của các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (SDGs), và ứng xử kinh doanh có trách nhiệm (RBC). Các tiêu chuẩn mang tính xu hướng này sẽ được xem xét từ góc nhìn của kinh doanh có trách nhiệm để thấy rằng trách nhiệm tôn trọng quyền con người là giá trị cốt lõi để doanh nghiệp bắt kịp xu thế và tận dụng cơ hội. Kinh doanh có trách nhiệm có thể coi là kim chỉ nam trong chuyên dịch bền vững và đôi mới/sáng tạo mô hình kinh doanh trong thời đại mới. Bài viết cũng đưa ra một số khuyến nghị ban đầu cho doanh nghiệp cũng như Nhà nước để bắt kịp làn sóng kinh doanh có trách nhiệm
Nội dung và phương thức nâng cao đạo đức công vụ ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Bồi dưỡng, nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhằm nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung trọng tâm của chiến lược xây dựng, phát triển và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, đạo đức cách mạng, tác giả tập trung làm rõ những nội dung cơ bản của đạo đức công vụ với tính cách là một hình thái đạo đức nghề nghiệp. Xem xét sự vận động của những phẩm chất đạo đức công vụ trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt là sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tác giả đề xuất một số phương thức nhằm thực hiện hiệu quả việc bồi dưỡng, nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong bối cảnh đất nước hiện nay
Toàn cầu hóa tôn giáo ở khu vực Đông Nam Á
Quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ trong kỉ nguyên bùng nổ công nghệ số đã ảnh hưởng đến toàn bộ các lĩnh vực đời sống, trong đó có tôn giảo không chỉ ở mỗi quốc gia mà trong toàn khu vực như Đông Nam Á. Với cách tiếp cận tôn giáo trong mối quan hệ quốc tế, bài báo tập trung làm rõ một số đặc điểm cơ bản của tôn giáo khu vực như sự phân bổ, đặc tính đa dạng và các hình thái. Bên cạnh đó, xem xét bối cảnh tôn giáo thế giới và thực trạng tôn giáo khu vực và mỗi quốc gia nhằm tập trung phân tích và phát hiện những thay đổi của tôn giáo qua các vấn đề chung như việc nâng cao các quan điểm về tôn giáo, những chuyển biến trong các tổ chức tôn giáo và thay đổi thực hành tôn giáo. Trên cơ sở đó, xác định việc toàn cầu hóa tôn giáo tác động đến tình hình tôn giáo đang diễn ra rất sôi động ở khu vực, sẽ đặt ra những vấn đề mới đối với duy trì và phát triển an ninh, chính trị và xã hội của khu vực thông qua cơ chế Asean
Tư tưởng chính trị Nguyễn An Ninh - Đặc điểm và ý nghĩa lịch sử : luận án Tiến sĩ : 9.22.90.01
Phật giáo ở Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế thời kỳ Champa qua tư liệu khảo cổ học
Thông qua các tài liệu khảo cổ có được qua các di tích đền - tháp, điêu khắc, bia ký, bài viết cố gắng đề cập, đi sâu phân tích, đưa ra các nhận xét về các dâu ấn Phật giáo ở khu vực Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế (sau đây gọi tắt là Bình - Trị - Thiên), từ đó rút ra các đặc điểm chủ yếu của Phật giáo Champa ở khu vực này