Digital Library Library University of Social Sciences and Humanities, Viet Nam National University HCM City
Not a member yet
6430 research outputs found
Sort by
Quan điểm của Erich Fromm về tự do trong xã hội hiện đại
Bài viết chú giài quan điểm của Erich Fromm về tự do trong xã hội hiện đại. Theo ông, sự phát triển của xã hội đã mang đến những thành tựu vượt bậc về khoa học, kỹ thuật cùng sự tăng trưởng kinh tế đáng kinh ngạc nhưng con người vẫn chưa đạt được tự do đích thực. E.Fromm cho rằng, chỉ khi xây dựng thành công một xã hội giúp các thành viên phát triển toàn diện, tích cực tham gia vào các hoạt động chung và thiết lập các mối quan hệ chân thành dựa trên tình yêu thương, con người mới có thể đạt được tự do thực sự, tránh được những sự cô đơn và bất lực trong cuộc sống của mình
Phát triển xã hội và một số mô hình quản lý phát triển xã hội, quản trị phát triển xã hội
Quản lý phát triển xã hội, quản trị phát triển xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển đất nước. Vì vậy, nghiên cứu, xây dựng mô hình quản lý phát triển xã hội, quản trị phát triển xã hội phù hợp với nước ta trong bối cảnh mới hiện nay và thời gian tới là yêu cầu thực sự cần thiết. Góp phần vào quá trình nghiên cứu, xây dựng mô hình quản lý phát triển xã hội, quản trị phát triển xã hội, bài viết này sẽ tập trung vào hai nội dung: thứ nhất, trình bày những điểm cơ bản về phát triển xã hội; thứ hai, đề cập đến một số mô hình quản lý phát triển xã hội, quản trị phát triển xã hội, bao gồm: Mô hình hành chính công Weber, mô hình quản lý công mới, mô hình nhà nước Weber kiểu mới, mô hình quản trị công mới, mô hình quản trị thời đại kỹ thuật số, và mô hình lai hay mô hình kết hợp
The application of flipgrid in an EFL classroom : non-English majors' speaking anxiety and attitudes
Đông Nam Á trong cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung dưới thời Tổng thống Donald Trump (2017-2021) : luận văn Thạc sĩ : 8.31.02.06
Nghiên cứu đặc điểm và các yếu tố gây ra tâm lí lo lắng khi học ngoại ngữ dựa trên lí thuyết văn hóa xã hội
Lo lắng ngoại ngữ (FLA) được công nhận rộng rãi là một yếu tố cảm xúc ảnh hưởng đáng kể đến việc học tập và hạnh phúc của học sinh. Trong nhiều thập kỷ, nghiên cứu đã tập trung vào yếu tố liên quan đến người học này, chủ yếu xem nó như một yếu tố hạn chế và tìm cách giảm thiểu hoặc loại bỏ nó. Hầu hết các nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp định lượng và do đó có xu hướng đối xử với tất cả các mức độ lo lắng của học sinh là như nhau. Do đó, bài viết này áp dụng cách tiếp cận định tính dựa trên lý thuyết văn hóa xã hội của Vygotsky để khám phá bản chất và nguyên nhân của FLA ở sinh viên đại học Việt Nam. Theo lý thuyết này, các hoạt động trong lớp thực sự là các tương tác xã hội, trong đó các thành phần chính của mối quan hệ giáo viên-học sinh và học sinh-học sinh ảnh hưởng lẫn nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn chính của FLA là giáo viên và đồng nghiệp. Ngoài ra, FLA rất linh hoạt, khác nhau giữa các sinh viên và thể hiện một số khía cạnh tích cực. Bài báo cũng gợi ý rằng mặc dù FLA là phổ biến, nhưng nó cần được nghiên cứu tại địa phương trong các bối cảnh và môi trường văn hóa xã hội khác nhau, tốt nhất là ở cấp độ cá nhân.Foreign Language Anxiety (FLA) is widely recognized as an emotional factor that significantly affects students' learning and well-being. For decades, research has focused on this learner-related factor, primarily viewing it as a restraining factor and seeking to minimize or eliminate it. Most studies have employed quantitative methods and thus tend to treat all students' anxiety levels as the same. Therefore, this paper adopts a qualitative approach based on Vygotsky's sociocultural theory to explore the nature and causes of FLA in Vietnamese university students. According to this theory, classroom activities are actually social interactions, in which the main components of the teacher-student and student-student relationships influence each other. The research results show that the main sources of FLA are teachers and peers. Additionally, FLA is flexible, varies between students, and exhibits some positive aspects. The paper also suggests that although FLA is common, it needs to be studied locally in different sociocultural contexts and environments, preferably at the individual level
Góc nhìn về đối thoại tôn giáo qua tác phẩm Hội đồng tứ giáo
Tiếp thu tinh thần đổi mới của Công đồng Vatican II, vấn đề đối thoại, hòa giãi được Công giáo ở miền Nam Việt Nam nhắc đến khá nhiều từ sau năm 1965, với trọng tâm là tôn trọng các niềm tin khác và đồng hành với dân tộc. Tuy nhiên, xét theo chiều kích lịch sử, đã có những thời điểm Công giáo Roma nói chung, Công giáo Việt Nam nói riêng có những động thái "đối thoại" theo những chiều kích khác nhau, trong đó có đối thoại theo trên tình thần hộ giáo. Và ở chiều ngược lại, Công giáo cũng đón nhận sự công kích từ các thành phần xã hội bản địa Việt Nam. Cuốn sách Hội đồng tứ giáo đại diện cho khuynh hướng nói trên, đồng thời, cũng là tác phẩm thể hiện sự khởi đầu của hiện tượng tranh biện và đối thoại tôn giáo mang tính lịch sử tại Việt Nam, không tuân theo quy chuẩn cũng như cách hiểu phổ biến hiện nay trong Giáo hội Công giáo
Cơ sở ngôn ngữ học trong trị liệu phát âm phụ âm đầu tiếng Việt cho trẻ sau phẫu thuật khe hở môi vòm 6 – 10 tuổi
Khe hở môi vòm miệng là dị tật khuôn mặt có tỷ lệ mắc khá cao ở trẻ sơ sinh, gây tổn thương về thể chất, chức năng và tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển và chất lượng cuộc sống của trẻ. Những khiếm khuyết về cấu trúc phát âm ảnh hưởng đến khả năng phát âm của trẻ, làm giảm hiệu quả giao tiếp. Nghiên cứu về phát âm của trẻ bị khe hở môi vòm miệng là cần thiết và có giá trị khoa học. Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về đặc điểm phát âm của trẻ bị khe hở môi vòm miệng. Bài viết này tập trung nghiên cứu về phát âm phụ âm đầu tiếng Việt của trẻ bị khe hở môi vòm miệng dựa trên các tiêu chí xác định phụ âm đầu tiếng Việt như vị trí phát âm, phương pháp phát âm và đặc điểm phát âm. Kết quả của bài viết hình thành cơ sở lý thuyết và xây dựng các nguyên tắc/chiến lược trị liệu ngôn ngữ cho trẻ sau phẫu thuật khe hở môi vòm miệng.Cleft lip and palate are facial deformities with a relatively high incidence rate in newborns, causing physical, functional, and psychological damage that affects development and quality of life of children. Deficiencies in pronunciation structure affect children's pronunciation ability and reduce communication effectiveness. Research on the pronunciation of children with cleft lip and palate is necessary and has scientific value. There have been many research projects by domestic and foreign authors on the pronunciation characteristics of children with cleft lip and palate. This article focuses on studying the pronunciation of Vietnamese initial consonants of children with cleft lip and palate based on the criteria for identifying Vietnamese initial consonants such as place of articulation, method of articulation, and vocal characteristics. The results of the article form the theoretical foundation and development of principles/strategics for speech therapy for children after cleft palate surgery
Thực trạng năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên sư phạm
Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong nghiên cứu khoa học là lĩnh vực có tiềm năng lớn, hiệu quả đã được khẳng định. Năng lực ứng dụng CNTT trong nghiên cứu khoa học giáo dục bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ tích hợp CNTT vào quá trình nghiên cứu khoa học để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học giáo dục. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã khảo sát sinh viên sư phạm 889 tại 6 trường đại học đào tạo sư phạm trên toàn quốc để đánh giá hiện trạng khả năng ứng dụng CNTT trong nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên. Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết học sinh tự đánh giá khả năng của mình ở mức giữa "Bình thường" và "Tốt". Điểm đánh giá cho các năng lực thành phần của năng lực này cho thấy một số điểm mạnh và điểm yếu của sinh viên trong việc sử dụng các chức năng khác nhau của các ứng dụng CNTT trong các hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục của họ. Có sự khác biệt về năng lực ứng dụng CNTT trong nghiên cứu khoa học giáo dục giữa học sinh giữa các trường khác nhau, theo giới tính, theo năm học và theo chuyên ngành, nhưng sự khác biệt này không quá lớn. Những kết quả này là cơ sở để tiến hành nghiên cứu sâu hơn nhằm phát triển năng lực này cho sinh viên sư phạm.Applying information and communication technology in scientific research is a field with great potential with confirmed effectiveness. The competence to apply ICT in educational scientific research comprises knowledge, skills and attitudes to integrate ICT into the scientific research process to effectively carry out research tasks in the field of educational science. In this study, we surveyed 889 pedagogy students at 6 universities offering pedagogy training nationwide to assess the current status of the students' ability to apply ICT in educational science research. The survey results show that most students self-rated their abilities at a level between “Normal” and “Good”. The assessment scores for the component competencies of this competency reveals some of the students' strengths and weaknesses in using different functionalities of ICT applications in their educational scientific research activities. There are differences in the competency to apply ICT in educational science research between students between different schools, by gender, by year of study and by major, but this difference is not too large. These results are the basis for conducting further research to develop this competency for pedagogical students