Digital Library Library University of Social Sciences and Humanities, Viet Nam National University HCM City
Not a member yet
6430 research outputs found
Sort by
Mức độ chủ động sử dụng phát ngôn trong giao tiếp của trẻ tự kỉ từ 3 đến 6 tuổi
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất đối với con người. Thông qua giao tiếp dựa trên ngôn ngữ, con người có thể tiếp thu các giá trị từ nhận thức và kinh nghiệm đến kiến thức. Tuy nhiên, đối với trẻ tự kỷ, ngôn ngữ và giao tiếp đặt ra những thách thức đáng kể. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung vào việc phân tích các đặc điểm của các mẫu lời nói chủ động được trẻ tự kỷ từ 3 đến 6 tuổi sử dụng. Kết quả của nghiên cứu này đóng vai trò là nguồn tài liệu tham khảo cho các chuyên gia, phụ huynh và những người quan tâm đến việc đánh giá khả năng ngôn ngữ của trẻ tự kỷ về mặt giao tiếp chủ động của chúng. Dựa trên những phát hiện này, có thể lên kế hoạch can thiệp ngôn ngữ kịp thời cho những trẻ này.Language is the most crucial means of communication for humans. Through language-based communication, people can acquire values ranging from cognition and experience to knowledge. However, for children with autism, language and communication pose significant challenges. In this article, we focus on analyzing the characteristics of proactive speech patterns used by autistic children aged 3 to 6 years. The results of this study serve as a resource for experts, parents, and those interested in assessing the language abilities of autistic children in terms of their proactive communication. Based on these findings, timely language interventions can be planned for these children
Khảo sát quan niệm sai lầm về chủ đề “Công, năng lượng và công suất” của học sinh Việt Nam với bài kiểm tra ba bậc
Nhiều nghiên cứu trên toàn thế giới đã xác định những quan niệm sai lầm phổ biến của sinh viên khi học các chủ đề "Công việc, năng lượng và sức mạnh"; tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào xác định chính xác những quan niệm sai lầm của sinh viên Việt Nam. Do đó, để điều tra những quan niệm sai lầm của sinh viên Việt Nam, nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã sử dụng bài kiểm tra ba cấp trong khi giảng dạy chủ đề "Công việc, Năng lượng và Sức mạnh", đó là Bài kiểm tra khái niệm Công việc, Năng lượng và Sức mạnh (WPECT), được phát triển và xác nhận bởi các chuyên gia giáo dục Thổ Nhĩ Kỳ. Mục tiêu của nghiên cứu này là (1) Đánh giá tính hợp lệ của WPECT trong việc đánh giá những quan niệm sai lầm của sinh viên Việt Nam về chủ đề "Công việc, Năng lượng và Sức mạnh" và (2) Kiểm tra những quan niệm sai lầm của sinh viên Việt Nam thông qua bài kiểm tra. Bài kiểm tra WPECT được thực hiện cho 199 học sinh từ 10 trường. Kết quả cho thấy bài thi WPECT phù hợp với học sinh Việt Nam, và học sinh Việt Nam vẫn có những quan niệm sai lầm nhất định ngay cả khi đã học chủ đề này trên lớp. Từ góc độ định hướng giải pháp, kết quả nghiên cứu cho thấy những sinh viên đã được dạy với các phương pháp STEM có xu hướng ít quan niệm sai lầm hơn.Many studies worldwide have identified students’ common misconceptions when learning the topics “Work, energy, and power”; however, no research has pinpointed the misconceptions of Vietnamese students. Therefore, to investigate the misconceptions of Vietnamese students, our research team utilized a three-tier test while teaching the topic “Work, Energy, and Power”, which is the Work, Energy, and Power Concept Test (WPECT), developed and validated by Turkish educational experts. The objectives of this study are (1) To assess the validity of the WPECT in evaluating the misconceptions of Vietnamese students regarding the topic of “Work, Energy, and Power” and (2) To examine the misconceptions of Vietnamese students through the test. The WPECT test was administered to 199 students from 10 schools. The results indicate that the WPECT test is suitable with Vietnamese students, and Vietnamese students still hold certain misconceptions even after learning this topic in class. From a solution-oriented perspective, the research findings suggest that students who have been taught with STEM approaches tend to have fewer misconceptions
Đời sống tôn giáo với sự phát triển bền vững của cộng đồng người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay : luận án Tiến sĩ : 9.22.90.02
Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX từ góc nhìn của Phan Khôi
Phan Khôi (1887-1959) là một trí thức tiêu biểu cho phong trào vận động nữ quyền ở Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Thông qua các bài báo trên công luận, những phê phán kịch liệt của ông hướng đến sự bất công của Nho giáo đối với phụ nữ và chủ trương giải phóng phụ nữ của ông đã phản ánh rõ thực tế xã hội thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam giai đoạn này. Phan Khôi đã nhạy bén nhận diện ra một trong những vấn đề quan trọng của xã hội đương thời là vấn đề phụ nữ. Ông truy nguyên căn gốc của sự lệ thuộc, bó buộc, thiếu tự do của phụ nữ Việt Nam. Từ phê phán Nho giáo, ông đưa ra chủ trương giải phóng phụ nữ từ phương diện tích hợp những giá trị nhân văn của tư tưởng phương Tây và thực tiễn xã hội Việt Nam đương thời
Một số khuynh hướng lí thuyết trong nghiên cứu di sản văn hóa
Dựa trên sự khác biệt về cách tiếp cận cũng như mối quan tâm của các nghiên cứu di sản văn hóa trên thế giới và Việt Nam, bài viết tồng quan các khuynh hướng cơ bản hiện nay. Trong đó có ba khuynh hướng chính, gồm: bản chất luận quy giản, kiến tạo luận phê bình và kiến tạo luận tương tác. Khuynh hướng bản chất luận quy giản quan tâm tới việc chọn lọc và tìm cái lõi, cải gốc, coi di sản là những gì mang tính đại diện và thể hiện bản sắc của văn hóa. Khuynh hướng kiến tạo luận phê bình quan tâm tới những bất cập, sự bất hợp lí trong hệ thống khái niệm di sản, công cụ kĩ thuật cũng như các hoạt động di sản hóa và quản li di sản. Khuynh hướng kiên tạo luận tương tác quan tâm tới quá trình kiến tạo di sản cũng như những tương tác xã hội trong quá trình kiến tạo ấy
Quan niệm về tâm ấn qua lời bạt trong Kinh Kim Cương tập chú của Thiền sư Chân Nguyên (1647 – 1726)
Bài viết tìm hiểu quan niệm về tâm ấn nói chung và tâm ấn của Thiền sư Chân Nguyên qua lời bạt trong Kinh Kim Cương tập chú. Tâm ấn bắt nguồn từ điển cố Ca Diếp mỉm cười và hiểu được hành vi giơ bông hoa của Đức Phật, cho thấy sự thông hiểu Phật pháp giữa thầy và trò. Trong Mật tông, tâm ấn được hiểu là ấn quyết Kim Cương tâm của thần linh vào người thực hiện hành vi tôn giáo. Trong Thiền tông, tâm ấn chỉ sự chứng thực và công nhận tri thức Phật học cùng sự giác ngộ của thầy và trò trong truyền thừa Phật pháp. Trong lời bạt, Chân Nguyên nhắc lại lịch sử tâm ấn trong Phật giáo và giải thích phương pháp chứng nhận tâm Kim Cương của thầy và trò bằng 4 mắt nhìn nhau, là sự thông đạt của thần thức giữa thầy và trò, là sự chứng thực tướng chân không vắng lặng của tâm Kim Cương, cũng như cách thức nhìn ra tướng đó. Bằng phương thức cơ bản được sử dụng trong Kinh Kim Cương là phủ định của phủ định để đi tới thực tướng, ông lấy tâm ấn để hóa giải duyên [tướng] thầy - trò và pháp [chấp] ấn Kim Cương để cả thầy và trò đều chứng nhận sự thông đạt chân tâm của nhau, cũng là của Phật pháp
Tác động của nhân tố nước lớn đến sự hình thành chính sách hành động hướng đông của Ấn Độ
Tác giả vận dụng lý thuyết về chính đối ngoại của Charles F.Hermann để làm khung phân tích nhằm làm rõ tác động của các nhân tô" nước lớn đến sự hình thành chính sách của Ân Độ. Từ cách tiếp cận này, tác động của nhân tô" nước lớn đến sự hình thành chính sách Hành động hưống Đông của An Độ được thê hiện ồ 4 luận điểm: Sự điều chỉnh chính sách đôì ngoại nhằm đạt được các mục tiêu cao hơn (có thể đa mục tiêu) nhưng các mục tiêu cốt lõi, mục tiêu có tính nguyên tắc không thay đổi; Sự điều chỉnh chính sách gắn vói sự ra đời chính sách mói đi cùng với việc sử dụng các biện pháp, công cụ mói; Chính sách mói ra đòi gắn vởi việc thay đổi các vân đề, các ưu tiên mới cần giải quyết; Gắn với sự định hướng lại các đôì tác mới, phạm vi địa lý mới
Công nghiệp hóa rút ngắn trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư – bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Với tư cách là một nước thực hiện công nghiệp hóa đi sau, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nền kinh tế hàng đầu trên thế giới. Bài viết này phân tích về những điều kiện thực hiện công nghiệp hóa rút ngắn và trên cơ sở làm rõ những cơ hội mang lại khi thực hiện công nghiệp hóa rút ngắn trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên thế giới, từ đó chỉ ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ các nước đi trước
Bàn thêm về đóng góp của họ Mạc tại Trà Kiệu với chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng trong
Việc Mạc Cảnh Huống từ bỏ vai trò của mình để cùng Nguyễn Hoàng vào Nam thực hiện giấc mộng “rạch đôi sơn hà” vẫn còn là một ẩn số của lịch sử. Đó có thể là một quyết định sáng suốt của một con người nhạy cảm về chính trị song cũng không loại trừ là kế sách “tính chuyện về sau” của nhà Mạc, bởi khi Cảnh Huôhg vào Nam ít lâu thì nhà Mạc tiêu vong bởi thế lực chính trí vua Lê - chúa Trịnh. Dẫu lý do gì thì các cựu thần nhà Lê cũng đã thẳng tay gạch tên Mạc Cảnh Huống ra khỏi phả đồ nhà Mạc. Lê Quý Đôn trong Đại Việt thông sử khi liệt kê những người con của Mạc Đăng Doanh gồm 7 con trai thì không có ai tên là Mạc Lịch hay Mạc cảnh Huống: “Con trưởng là Phúc Hải, thứ 2 Phúc Tư, thứ 3 Kính Điển, thứ 4 Lý Thiền, thứ 5 Lý Hòa, thứ 6 Hiệp Thái, thứ 7 Đôn Nhượng”
Công nghiệp Hoằng Pháp của tổ sư Đạo Minh - Phổ Tịnh trong tiến trình phát triển Thiền phái Liễu Quán
Kể từ khi Thiền phái Liễu Quán thành lập, chư tổ sư kể thừa đã nỗ lực Việt hóa, hoàng dương chánh pháp, đem đạo vào đời. Theo dòng chảy thời gian, Thiền phái đã lan tỏa khắp nơi và có đóng góp lớn cho đạo pháp và dân tộc. Trong sự truyền đăng tục diệm, tổ Đạo Minh - đệ tử thế hệ thứ tư của Thiền phái Liễu Quán đã trở thành bậc long tượng, nối gót tông phong, dấn thân phụng đạo, đào tạo tăng tài, thu nhiếp tín đồ tại gia hộ đạo, chấn hưng Phật giáo Thuận Hóa. Dấu ấn tư tưởng hành đạo tổ Đạo Minh là di sản để lại 28 bài thi kệ phú pháp cho hàng đệ tử. Các bài đó không chì có giá trị về tư tưởng truyền đăng tục diệm mà còn đóng góp cho nền văn học thiền tông Việt Nam. Kế thừa tư tưởng hành đạo của tổ Đạo Minh, con cháu của ngài dã xiển dương giáo pháp, trở thành một trong những Thiền phái nòng cốt, có đóng góp lớn cho sự phát triển Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.Since the establishment of the Lieu Quan Zen sect, the successor masters have made efforts to Vietnamese, propagate the Dharma, and bring the Dharma to life. Over the course of time, the Zen sect has spread everywhere and made great contributions to Dharma and the nation. In the tradition of transmission, patriarch Đao Minh - fourth generation disciple of the Lieu Quan Zen sect became a great figure, following in the footsteps of the sect, committed to serving the religion, training talented monks, and recruiting lay followers, protect and revive Thuan Hoa Buddhism. The mark of the Dao Minh patriarch's ideology and practice is to leave a legacy of 28 Dharma Transmitting verses for his disciples. Those verses are not only valuable in terms of the ideology of transmission, but also contribute to Vietnamese Zen literature. Inheriting the religious ideology of Dao Minh, his descendants have promoted the Dharma, becoming one of the core Zen sects, making great contributions to the development of Vietnamese Buddhism through historical periods