HNUE Journal of Science Hanoi National University of Education
Not a member yet
606 research outputs found
Sort by
GOVERNANCE IN NORTHWESTERN VIETNAM UNDER THE NGUYỄN DYNASTY (1802–1884): SEEN THROUGH THE THỔ QUAN (NATIVE OFFICIALS) – LƯU QUAN (IMPERIALLY APPOINTED OFFICIALS) POLICY
Trong giai đoạn 1802–1884, chiến lược quản trị vùng Tây Bắc – tương ứng tỉnh Hưng Hóa – luôn đặt ra thách thức lớn đối với triều Nguyễn bởi địa hình hiểm trở, dân cư đa tộc người và vị trí biên giới. Từ chỗ vẫn chấp nhận chế độ thế tập thổ quan dưới thời Gia Long và nửa đầu thời Minh Mạng, đến năm 1829 triều đình bãi bỏ đặc quyền thế tập, rồi từng bước thay bằng lưu quan. Triều đình Nguyễn từng bước áp đặt mô hình hành chính tập quyền: củng cố hệ thống quản trị cấp phủ, huyện, châu, tổng, xã; nỗ lực làm sổ đinh–điền, mở trường học, đồng thời tăng cường biện pháp trị an, biên phòng. Nhà nước trung ương vừa duy trì cứng rắn chính sách tập quyền, vừa uyển chuyển chấp nhận ngoại lệ trong những vùng xa xôi, lam chướng. Qua trường hợp Hưng Hóa, có thể nhận diện mô hình quản trị “nước đôi” của triều Nguyễn đối với khu vực miền núi, phản ánh quá trình củng cố quyền lực lẫn giới hạn của một nhà nước quân chủ trong bối cảnh biến động thế kỉ XIX.Between 1802 and 1884, the Northwest-roughly corresponding to Hưng Hóa province-posed a persistent challenge to the Nguyễn dynasty because of its rugged terrain, multiethnic population, and borderland location. From an initial acceptance of hereditary thổ quan (native officials) under Gia Long and during the first half of Minh Mạng’s reign, the court in 1829 abolished hereditary succession and gradually replaced hereditary offices with lưu quan (imperially appointed officials). The Nguyễn court progressively implemented a more centralized administrative model: strengthening governance at the levels of phủ (prefecture), huyện (district), and châu (subprefecture), as well as tổng (canton) and xã (commune/village); compiling household and land registers, opening schools, and tightening public order and border defense. While firmly pursuing centralization, the Nguyễn court also made pragmatic exceptions in remote, malarial uplands. The case of Hưng Hóa reveals a hybrid mode of governance—one that reflects both the drive to consolidate power and the limits of a monarchical state amid the political turbulence of the nineteenth century
SELF-HEALING IN NAGAI KAFŪ’S SHORT STORIES FROM THE PERSPECTIVE OF IYASHI
Nhìn từ mỹ học Nhật Bản truyền thống và tinh thần chữa lành trong văn hóa của người Nhật, bằng phương pháp cấu trúc - hệ thống, hướng tiếp cận liên văn hóa, bài viết phân tích hai liệu pháp tự chữa lành được thể hiện trong truyện ngắn của Nagai Kafū là liệu pháp nghệ thuật và liệu pháp thiên nhiên. Mục đích của nghiên cứu là khám phá tinh thần trị liệu bằng văn chương trong truyện ngắn của Nagai Kafū qua việc nhà văn kiến tạo không gian, câu chuyện, ngôn ngữ, giọng điệu… nhằm gửi gắm đến người đọc những ưu tư, trăn trở về vấn đề hiện sinh của con người. Từ đó, bài viết không chỉ khẳng định ý thức gìn giữ và phát huy bản sắc truyền thống Nhật Bản của Nagai Kafū mà còn cho thấy tinh thần chữa lành bằng văn học của ông trong sự đối sánh với xu hướng iyashi-kei bungaku (văn học chữa lành) thịnh hành ở Nhật Bản từ thập niên 1990 đến nay.Drawing on traditional Japanese aesthetics and the healing spirit embedded in Japanese culture, this study adopts a structural–systematic method combined with an intercultural approach to examine two forms of self-healing therapies manifested in Nagai Kafū’s short stories: art therapy and nature therapy. The study aims to explore the therapeutic dimension of literature in Kafū’s works through the construction of narrative spaces, storytelling, language, and tone, thereby articulating existential reflections on human life. In doing so, the paper not only affirms Nagai Kafū’s conscious engagement with preserving and revitalizing traditional Japanese identity but also highlights the healing dimension of his literature in relation to the trend of iyashi-kei bungaku (healing literature) that has flourished in Japan since the 1990s
AN ANALYSIS OF THE COMPONENTS OF METACOGNITION IN MATHEMATICAL KNOWLEDGE CONSTRUCTION
Siêu nhận thức (SNT) đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, điều hành, kiểm soát quá trình học tập và giảng dạy. Tuy nhiên, trái ngược với tầm quan trọng được nhắc đến, vẫn còn một số lượng tương đối nhỏ các nghiên cứu được tiến hành tập trung vào SNT trong quá trình kiến tạo tri thức (KTTT), một phần do sự đa dạng trong cách khái niệm hóa và những khó khăn trong đo lường SNT. Nghiên cứu này nhằm phân tích và làm rõ các thành phần của SNT trong quá trình KTTT toán học. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định tính, thông qua phân tích và tổng hợp tài liệu nghiên cứu liên quan, kết hợp với quan sát lớp học trong các tình huống dạy học toán theo hướng kiến tạo ở tiểu học. Dữ liệu thu thập được phân tích nhằm xác định các biểu hiện SNT của học sinh (HS) trong quá trình tham gia xây dựng kiến thức toán học. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các thành phần của SNT trong quá trình KTTT toán học, bao gồm: kiến thức SNT và các chiến lược SNT. Các thành phần này được minh họa cụ thể thông qua tình huống dạy học kiến tạo "Hình thành công thức tính diện tích hình thang" (lớp 5).Metacognition plays a critical role in guiding, regulating, and monitoring teaching and learning processes. Despite its acknowledged importance, research focusing on metacognition in the process of knowledge construction remains relatively limited, partly due to the diversity of conceptualizations and the challenges associated with measuring metacognition. This study aims to analyze and clarify the metacognitive components inherent in the construction of mathematical knowledge. Adopting qualitative research, the study synthesizes relevant literature and incorporates classroom observations of constructivist-oriented mathematics instruction at the primary level. The collected data were analyzed to identify students’ metacognitive manifestations during the construction of mathematical knowledge. Based on these findings, the study proposes a framework of metacognitive components in mathematical knowledge construction, comprising metacognitive knowledge and metacognitive strategies. These components are illustrated through a constructivist teaching situation involving the derivation of the area formula for a trapezoid in Grade 5
BUILDING A TEACHING MODEL STEM PROJECT TO DEVELOP SCIENTIFIC RESEARCH CAPACITY FOR HIGH SCHOOL STUDENTS
Một trong những mục tiêu của Chương trình Giáo dục phổ thông (CTGDPT) 2018, năng lực nghiên cứu khoa học (NCKH) được xác định là cần phát triển cho học sinh, giúp họ có thể thích ứng với sự phát triển của thời đại. Nghiên cứu này đề xuất mô hình và quy trình xây dựng mô hình dạy học dự án theo định hướng STEM phát triển năng lực NCKH cho học sinh (HS) phổ thông tạo cơ sở hay đó là những hướng dẫn giáo viên trong việc thiết kế, lựa chọn phương thức dạy học hiệu quả. Nghiên cứu sử dụng ba nhóm phương pháp chính: Nghiên cứu lí thuyết - tổng hợp và phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về giáo dục STEM, dạy học dự án và phát triển năng lực NCKH để định hướng xây dựng mô hình; Nghiên cứu thực tiễn - khảo sát giáo viên, học sinh nhằm xác định thực trạng và nhu cầu đổi mới; Đánh giá và xử lí dữ liệu - sử dụng rubric, bảng kiểm và sản phẩm học tập của HS, kết hợp phân tích thống kê mô tả và so sánh để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của mô hình. Nghiên cứu kì vọng bổ sung cơ sở lí luận và minh chứng thực tiễn cho dạy học dự án STEM, qua đó phát triển năng lực NCKH cho HS và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.This study proposes a STEM-oriented project-based learning model to develop scientific research capacity in high school students. The study employs three main groups of methods: Theoretical research - synthesizing and analyzing domestic and international literature on STEM education, project-based teaching and the development of scientific research capacity to establish thereotical framework for the model; Practical research - surveying teachers and students to evaluate the current situation and necessity for innovation; Data assessment and processing - using rubrics, checklists and student learning products, combining descriptive and inferential statistical analysis to verify the feasibility and effectiveness of the model. The study is expected to contribute to the theoretical basis and practical evidence for STEM project-based instruction, thereby enhancing scientific research capacity for students and meeting the requirements of the current general education innovation
DESIGNING AND IMPLEMENTING A STEM-S LESSON ON THE TOPIC OF “MAKING FOLK TOYS” IN GRADE 4 TECHNOLOGY
Nghiên cứu này thiết kế và triển khai bài học STEM-S trong môn Công nghệ lớp 4, nội dung bài học STEM được lựa chọn gắn với yếu tố văn hoá - xã hội, trong đó quy trình thiết kế kĩ thuật (EDP) được sử dụng làm khung tổ chức hoạt động học tập. Chủ đề “Làm đồ chơi dân gian” được minh hoạ bằng bài học “Làm mặt nạ giấy bồi”. Thực nghiệm được tiến hành với 54 học sinh lớp 4, chia thành nhóm thực nghiệm (STEM-S với EDP) và nhóm đối chứng (phương pháp truyền thống). Dữ liệu thu thập được phân tích bằng phương pháp hỗn hợp. Kết quả cho thấy nhóm thực nghiệm đạt điểm kiểm tra cao hơn với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, đồng thời mức độ hứng thú và hiểu bài vượt trội so với nhóm đối chứng. Nghiên cứu cho thấy tính khả thi và hiệu quả của bài học STEM-S theo EDP trong môn Công nghệ ở Tiểu học.This study designed and implemented a STEM-S lesson in Grade 4 Technology. STEM content was intentionally integrated with societal contexts and social issues, while the Engineering Design Process (EDP) served as the instructional framework. The theme “Making folk toys” was operationalized through a specific lesson on “Making paper mâché masks.” The experiment involved 54 fourth-grade students, divided into an experimental group (STEM-S instruction via EDP) and a control group (traditional teaching). Data were analyzed using a mixed-methods approach. The results indicated that the experimental group achieved significantly higher academic performance test scores and demonstrated greater learning interest and a deeper level of understanding compared to the control group. The study confirms the feasibility and effectiveness of implementing the EDP-STEM-S lesson in Primary Technology Education
RESEARCH ON THE FLIPPED CLASSROOM IN MODERN EDUCATIONAL DEVELOPMENT
Dựa trên phân tích lịch sử hình thành và lan tỏa của lớp học đảo ngược (LHĐN), nghiên cứu chỉ ra rằng LHĐN là kết quả của sự phát triển nhiều lí thuyết giáo dục. Trên nền tảng đó, bài viết phân tích bốn nhóm lí thuyết: kiến tạo và kiến tạo xã hội; tải nhận thức và học tập đa phương tiện; học tập chủ động và học tập trải nghiệm; thang phân loại mục tiêu nhận thức Bloom nhằm lí giải cơ chế vận hành các pha của LHĐN. Đồng thời, nghiên cứu chỉ ra các thách thức trong thực tiễn như: nguy cơ xuất hiện sai lệch nhận thức trong giai đoạn tự học khi thiếu hỗ trợ kịp thời, quá tải nhận thức khi học liệu không tối ưu, khó khăn trong điều phối hoạt động nhóm và hạn chế trong việc đạt được tư duy bậc cao khi người học chuẩn bị chưa đầy đủ. Kết quả cho thấy hiệu quả của LHĐN phụ thuộc mạnh vào sự phù hợp giữa cơ sở lí thuyết, thiết kế sư phạm và điều kiện triển khai. Nghiên cứu đặt ra vấn đề tiếp tục làm rõ nguyên tắc thiết kế học liệu, quản lí tải nhận thức và tiêu chí đảm bảo chất lượng trong điều phối lớp học, nhằm định hướng vận dụng LHĐN thận trọng và có cơ sở trong giáo dục đại học.Drawing on an analysis of the historical development and dissemination of the flipped classroom (FC), this study argues that the FC is the product of multiple educational theories. The article examines four theoretical strands: constructivism and social constructivism; cognitive load theory and multimedia learning; active and experiential learning; and Bloom’s taxonomy of cognitive objectives to explain the mechanisms underlying the phases of the FC. It also identifies practical challenges, including misconceptions during self-study when timely support is lacking, cognitive overload resulting from suboptimally designed materials, difficulties in coordinating group activities, and constraints on achieving higher-order thinking when learners’ preparation is insufficient. The analysis suggests that the effectiveness of the FC depends on alignment between theoretical foundations, pedagogical design, and implementation conditions. The study calls for clearer principles of material design, cognitive load management, and quality assurance in classroom coordination to support a cautious and well-grounded adoption of the FC in higher education
SPATIAL DEVELOPMENT RECOMMENDATIONS FOR ARABICA COFFEE SPECIALIZED CULTIVATION ZONES AND GEOGRAPHICAL INDICATIONS IN SON LA PROVINCE
Nghiên cứu đã tích hợp hệ thống thông tin địa lí (GIS) và phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) nhằm đánh giá thích nghi sinh thái của cây cà phê Arabica tại khu vực Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Bản đồ thích nghi sinh thái được xây dựng và kiểm chứng với độ chính xác đạt 88%. Kết quả cho thấy 44,9% diện tích có mức thích nghi cao (S1) và 32,6% diện tích có mức thích nghi trung bình (S2), tạo cơ sở khoa học để xác định 65.735 ha vùng định hướng phát triển chuyên canh theo ba mức ưu tiên; và đề xuất mở rộng không gian chỉ dẫn địa lí cà phê Arabica (46,32% diện tích tự nhiên). Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của bản đồ thích nghi sinh thái trong phát triển vùng chuyên canh và chỉ dẫn địa lí cà phê Arabica ở tỉnh Sơn La.This study integrates Geographic Information Systems (GIS) and the Analytic Hierarchy Process (AHP) to evaluate the ecological suitability of Arabica coffee in Mai Sơn area, Sơn La Province. An ecological suitability map was developed and validated, achieving an overall accuracy of 88%. The results indicate that 44.9% of the area exhibits high suitability (S1) and 32.6% shows moderate suitability (S2), providing a scientific basis for identifying 65,735 ha of land oriented toward specialized production development across three priority levels. The study proposes an expansion of the spatial extent of the Arabica coffee geographical indication area (46.32% of the natural area). The findings contribute to clarifying the role of ecological adaptation maps in the development of specialized growing areas and geographical indications for Arabica coffee in Son La province
WOMEN IN THE LY DYNASTY IMPERIAL PALACE AND THEIR ROLE IN THE POLITICAL AND SOCIAL LIFE OF DAI VIET IN THE 11TH–13TH CENTURIES
Trong sử liệu Việt Nam trung đại, sự hiện diện của phụ nữ hoàng cung xuất hiện tản mạn, chủ yếu nhắc đến thân thế hoặc đức hạnh hơn là phản ánh vai trò chính trị của họ. Khoảng trống này đặt ra yêu cầu nhận diện lại vị trí của phụ nữ trong hoạt động quản trị quốc gia. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát những trường hợp phụ nữ hoàng cung triều Lý được chính sử ghi chép tương đối rõ, như những nhân vật có đóng góp đáng kể đối với đời sống chính trị - xã hội thế kỉ XI-XIII. Bằng việc vận dụng những gợi mở từ hướng nghiên cứu lịch sử phụ nữ và lịch sử giới nhằm nhận diện vị trí và vai trò của từng cá nhân trong bối cảnh chính trị đương thời, bài viết phân tích ba phương thức tham dự quyền lực tiêu biểu: nhiếp chính, hôn nhân chính trị và kế vị. Qua đó, bài viết làm rõ những điều kiện lịch sử - xã hội – văn hoá tạo môi trường cho phụ nữ hoàng cung triều Lý tham gia trị nước và góp phần duy trì ổn định triều đình. Đồng thời, cho thấy việc tiếp cận sử liệu từ góc độ lịch sử giới giúp phát hiện những hình thức tham dự chính trị vốn ít được chính sử nhấn mạnh.In medieval Vietnamese historical sources, palace women surface only in scattered, fragmentary glimpses, and their presence is framed more through lineage and moral virtue than through their political roles. This gap calls for a reconsideration of women’s place in the governance of the realm. On that basis, this study examines those Lý-dynasty palace women whom the official chronicles describe with relative clarity, treating them as figures who made substantive contributions to the political and social life of the eleventh to thirteenth centuries. Drawing on insights from women’s history and gender history to situate each individual within her contemporary political context, the article analyzes three characteristic modes of participation in power: regency, political marriage, and succession. In so doing, it clarifies the historical, social, and cultural conditions that enabled Lý palace women to take part in governing the country and to help sustain dynastic stability. At the same time, it shows that reading the sources through the lens of gender history brings to light forms of political participation that official historiography has rarely foregrounded
FACTORS INFLUENCING VIETNAMESE EFL TEACHERS’ PROFESSIONAL DEVELOPMENT: A QUALITATIVE STUDY IN THE MEKONG DELTA
Việc phát triển chuyên môn (PTCM) của giáo viên (GV) được coi là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và kết quả học tập của học sinh. Tại Việt Nam, do tồn tại nhiều rào cản mang tính hệ thống và cá nhân, các chương trình PTCM hiệu quả đang ngày càng trở nên cần thiết hơn. Vận dụng lý thuyết Hệ thống sinh thái của Bronfenbrenner (1979), nghiên cứu định tính này tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động PTCM của GV tiếng Anh tại Việt Nam. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn bán cấu trúc với 6 GV tiếng Anh. Kết quả nghiên cứu cho thấy động lực cá nhân và việc tự học là những yếu tố quan trọng thúc đẩy PTCM, trong khi những hạn chế về tài chính và hỗ trợ từ các cơ sở giáo dục và các chính sách chưa phù hợp đã cản trở sự tham gia tích cực của GV vào quá trình PTCM. Ngoài ra, các xu hướng toàn cầu và các chính sách quốc gia vừa mang lại cơ hội vừa đặt ra thách thức đối với việc PTCM của GV tiếng Anh. Nghiên cứu này chỉ ra rằng các chương trình PTCM cần mang tính thực tiễn, có sự tương tác và phù hợp với bối cảnh cụ thể, đồng thời được thiết kế riêng để hỗ trợ GV tiếng Anh ở khu vực nông thôn khắc phục những khó khăn đặc thù. Các kết quả từ nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết của các hoạt động PTCM linh hoạt và dễ tiếp cận nhằm thúc đẩy hoạt động PTCM của GV tiếng Anh.Given current global trends in education, professional development (PD) of English as a foreign language (EFL) teachers is paramount. In Vietnam, effective PD programs have become even more crucial because of various systematic and personal barriers. Grounded in Bronfenbrenner’s Ecological systems theory (1979), this qualitative study explores factors affecting Vietnamese EFL teachers\u27 PD. Data were gathered from semi-structured interviews with six EFL teachers. The findings reveal that personal motivation and self-directed learning were the significant drivers of PD, while financial constraints, limited institutional support, and misaligned policies impeded meaningful PD engagement. Furthermore, global trends and national policies present both opportunities and challenges for EFL teachers\u27 PD. This study suggests that PD programs should be more practical, collaborative, and sensitive to their contexts and tailor-made to assist rural EFL teachers overcome challenges pertinent to them. The findings emphasize the need for flexible and accessible PD opportunities to facilitate EFL teachers’ professional growth
EDUCATING CHILDREN THROUGH LITERARY EXPERIENCES: A STUDY OF CONTEMPORARY VIETNAMESE AND SOUTH KOREAN CHILDREN’S STORIES
Bài viết sử dụng phương pháp tiếp cận thi pháp học, tự sự học và phương pháp liên ngành để khảo sát một số truyện thiếu nhi đương đại của Hàn Quốc được dịch sang tiếng Việt đầu thế kỉ XXI và đặt chúng trong tương quan với một số truyện thiếu nhi đương đại tiêu biểu của Việt Nam. Bài viết cho rằng việc bồi đắp những trải nghiệm sống động, đa dạng và giàu màu sắc qua văn chương là một cách thiết thực để nâng đỡ tâm hồn và giáo dục trẻ em trong xã hội hiện đại. Trải nghiệm tinh thần mà những câu chuyện này mang lại không chỉ góp phần hình thành nhân cách mà còn có thể bồi dưỡng nội lực, bản lĩnh và khả năng thấu cảm cho bạn đọc trẻ em, đồng thời đây cũng là những năng lực quan trọng của công dân trong thế kỉ XXI.This article uses approaches from poetics, narratology, and interdisciplinary studies to examine contemporary South Korean children\u27s stories translated into Vietnamese in the early 21st century, and compares them with representative works of contemporary Vietnamese children\u27s literature. The study argues that providing children with vivid, diverse, and colorful literary experiences is an effective means of nurturing goals emotional development and supporting education in modern society. The spiritual experiences conveyed through these narratives contribute to character formation and promote inner strength, resilience, and empathy in young readers, which are essential competencies for 21st-century citizens