Journal of Vietnamese Environment
Not a member yet
    249 research outputs found

    Estimation of carbon storage capacity of shrub vegetation originating from slash and burn cultivation in Tung Ba commune, Vi Xuyen district, Ha Giang province: Đánh giá khả năng tích lũy cacbon của thảm thực vật cây bụi có nguồn gốc sau canh tác nương rẫy ở xã Tùng Bá, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

    No full text
    In Vietnam, shrub vegetation accounts for a very high proportion of forest land in the whole country. However, the study of biomass and carbon storage capacity of shrub vegetation type has not been properly considered. In Ha Giang province, there exist many types of shrub vegetation, which originated from slash and burn cultivation. However, these types of shrubs are not only different in terms of fallow periods, but also differ in their distribution over different height. Therefore, the baseline carbon pricing should be calculated for each subregion of the locality. This article presents results of research on carbon storage and carbon baseline building for shrub vegetation in Tung Ba commune, Vi Xuyen district, Ha Giang province (in valley and lowland subregion). This is the scientific data for a rational and sustainable use of shrubs. Việc đưa ra các quyết định đúng đắn về trồng rừng/ tái trồng rừng trên thảm thực vật cây bụi, thì phải căn cứ vào đường cacbon cơ sở của thảm thực vật. Ở Việt Nam, thảm thực vật cây bụi chiếm tỷ lệ rất cao về diện tích đất lâm nghiệp trong toàn quốc. Tuy nhiên, việc nghiên cứu sinh khối và khả năng tích lũy cacbon của kiểu thảm thực vật cây bụi chưa được quan tâm đúng mức. Ở tỉnh Hà Giang, tồn tại nhiều kiểu thảm thực vật cây bụi, có nguồn gốc sau quá trình canh tác nương rẫy. Tuy nhiên, các kiểu thảm cây bụi này không chỉ khác nhau về thời gian bỏ hóa, mà còn có sự khác biệt về sự phân bố trên các độ cao khác nhau. Vì vậy, việc xây dựng đường cacbon cơ sở cần được tính toán cụ thể cho từng tiểu vùng của huyện. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về khả năng tích lũy cacbon và xây dựng đường cacbon cơ sở cho thảm thực vật cây bụi ở xã Tùng Bá, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (thuộc tiểu vùng thung lũng và núi thấp). Đây là dẫn liệu khoa học cho việc sử dụng thảm thực vật cây bụi một cách hợp lí và bền vững về mặt môi trường

    Removal of arsenic from contaminated groundwater using laterite, sand and ash: a case study in Son Dong commune, Hoai Duc district, Ha Noi: Loại bỏ Asen trong nước ngầm bằng cách sử dụng đá ong, cát và tro tại xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội

    Full text link
    Arsenic (As) contaminated groundwater has been a major concern due to the negative impacts to exposed people. This research was conducted to assess and compare the removal efficiency of As from groundwater by laterite, sand, and ash. The experiment was carried out in 14 days in a household scale in Son Dong commune, Hoai Duc district, Ha Noi. Groundwater was pumped directly from a well and flowed through 20 cm (diameter) x 80 cm (length) columns. The initial As concentration in groundwater was 526 µg/L decreasing to an average of 189, 192 and 154 µg/L after being filtrated using sand, ash, and laterite, respectively. Average removal efficiency of sand, ash and laterite during the experiment was 63.3, 63.9, and 70.5%, respectively. Laterite had higher As removal efficiency may be due to higher content of goethite and kaolinite in this sorbent which resulted in better adsorption of As. The concentrations of As in the outflow water were higher than the allowable limit set by the national technical regulation on drinking water quality (QCVN 01:2009/BYT). Therefore, it requires higher volume of sorbents or additional treatment technologies for removal of As from groundwater. Ô nhiễm asen (As) trong nước ngầm hiện nay là một vấn đề cấp bách đối với xã hội bởi những rủi ro tiềm ẩn với sức khoẻ con người. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá và so sánh khả năng hấp phụ As trong nước ngầm của đá ong, cát và tro. Thí nghiệm được tiến hành trong vòng 14 ngày đặt tại một hộ gia đình có nguồn nước ngầm bị ô nhiễm As thuộc xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Nước ngầm được bơm từ giếng và chảy qua các cột đựng vật liệu có đường kính và chiều dài lần lượt là 20 cm và 80 cm. Nồng độ As ban đầu là 526 µg/L đã giảm xuống còn 189, 192 và 154 µg/L sau khi lọc bằng cát, tro và đá ong. Hiệu suất xử lý As trung bình của cát, tro và đá ong lần lượt là 63,3, 63,9 và 70,5 µg/L. Đá ong xử lý As tốt hơn có thể do hàm lượng goethit và kaolinit cao hơn trong vật liệu hấp phụ này dẫn đến khả năng hấp phụ As tốt hơn. Tuy nhiên hàm lượng As trong nước đầu ra vẫn chưa đạt quy chuẩn cho nước uống (QCVN 01:2009/BYT). Do đó, cần tăng thêm lượng vật liệu hoặc kết hợp với các phương pháp khác để xử lý As hiệu quả hơn

    Allometric relations between biomass and diameter at breast height and height of tree in natural forests at Me Linh Station for Biodiversity, Vinh Phuc Province, Vietnam: Mối tương quan giữa sinh khối với hai nhân tố đường kính và chiều cao cây của cây gỗ trong các quần xã thực vật tự nhiên tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, Việt Nam

    Full text link
    Stem diameter at breast height (D1.3m) and tree height (H) are commonly used measures of tree growth. Based on correlation analysis between biomass of stem, branches and leaves and stem diameter and height of tree we can identify allometric equation for predicting biomass and carbon sequestration of the vegetation. This study was carried out in the natural forests of Me Linh Station for biodiversity to develop allometric equation between biomass and diameter at breast height and height of tree. The study results indicated that twenty tree species dominate in natural forests in Me Linh Station for Biodiversity and they were selected for sampling. Through the 80 established linear equation models for above and below –ground biomass (AGB and BGB), we found that the biomass of tree species in Me Linh Station for Biodiversity were closely correlated with the diameter factor (R>0.902) and not clearly correlated with the height (correlation coefficient = 0.5498, R2< 0.549). Four regression equations were established, including: Pstem = 25.3051*(D1.3m)0.4627 (R2 : 9.661); Pbranch = 12.1043*(D1.3m)0.5416 (R2 : 9.8); Pleaves = 9.446*(D1.3m)0.5976 (R2 : 0.9363); P total biomass of forest = 25.882*D1.725 with R2: 0.8561) for estimating biomass and carbon sequestration of natural forest at the research site. Đường kính ngang ngực (D1.3m) và chiều cao (H) cây là hai nhân tố thường được dùng để đánh giá sự phát triển của cây gỗ. Việc xây dựng các phương trình tương quan giữa sinh khối (SK) thân, cành, lá, sinh khối tầng cây gỗ, sinh khối của quần xã thực vật với đường kính và chiều cao cây góp phần rất lớn trong dự báo sinh khối và khả năng hấp thụ khí carbon của thảm thực vật. Kết quả nghiên cứu cho thấy 20 loài cây gỗ chiếm ưu thế trong rừng tự nhiên và chúng được chọn để thu mẫu. Mối tương quan giữa sinh khối với 2 nhân tố điều tra rừng là đường kính ngang ngực và chiều cao cây đã đươc kiểm tra thông qua 80 phương trình tương quan. Nhìn chung, sinh khối có tương quan chặt chẽ với nhân tố đường kính (hệ số tương quan R > 0,902), và không tương quan rõ với nhân tố chiều cao (R < 0,5498). Bốn phương trình tính sinh khối cho thảm rừng tại khu vực nghiên cứu đã được thiết lập: SKthân = 25,3051*(D1,3m)0,4627 (R2: 9,661); SKcành: 12,1043*(D1,3m)0,5416 (R2: 9,8); SKlá: 9,446*(D1,3m)0,5976 (R2: 0,9363) và SKtổng = 25,882*D1,725 with R2: 0,8561)

    Use of bio-waste as fertiliser for the protected vegetable cultivation: Sử dụng chất thải hữu cơ làm phân bón canh tác rau trong nhà kính

    Full text link
    The number of biogas plants in Germany is increasing from 3,711 in 2007 to 8,075 in 2016. In these biogas plants, it occurred more than 50 Mt digestate. Therefore, several investigations are started to use digestate as organic fertiliser mostly for field crop cultivation. Experiment with tomatoes was carried out were digestate was used as a supplement to the growing media in an amount of 5%, 15%, and 25%, compared with a treatment of mineral fertiliser and lupine wholemeal. The tomato yield was highest in the treatment with mineral fertilisation, the yield with 25% digestate was only a little lower. More experiments are necessary for particular regarding the amount and frequency of fertilization with digestate from biogas plants. In Germany and in Vietnam the number of sheep flocks is increasing, high amounts of uncleaned sheep wool are available. Because of the high amount of nutrients - especially nitrogen -, sheep wool pellets could be used as multi-functional fertiliser in vegetable cultivations. Four types of sheep wool pellets have been tested in protected cultivation. Tomatoes were cultivated in a greenhouse using substrate culture with perlite, bark compost, sheep wool slabs, respectively, and sheep wool pellets as fertiliser. Best growth and highest yield for tomatoes were obtained using pine bark and perlite as a substrate, both fertilised with sheep wool pellets. Based on the results of the yield and the analyses of the nutrient content in plants it seems that sheep wool pellets can be used, for the cultivation of vegetables in greenhouses. Số lượng các nhà máy biogas tại CHLB Đức tăng từ 3.711 năm 2017 lên 8.075 năm 2016. Các nhà máy biogas sản sinh ra hơn 50 triệu tấn chất thải. Vì vậy đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến sử dụng nguồn chất thải này làm phân bón hữu cơ cho canh tác nông nghiệp. Thí nghiệm với cà chua sử dụng chất thải biogas làm chất bổ sung dinh dưỡng cho giá thể trồng cây theo các tỷ lệ 5%, 15% và 25% đối chứng với công thức sử dụng phân hóa học và bột nguyên vỏ họ đậu. Năng suất cà chua thu được từ các công thức bổ sung chất thải biogas đều cao hơn đối chứng, chỉ có công thức bổ sung 25% có năng suất thấp hơn. Tuy nhiên vẫn cần có những nghiên cứu tiêp theo về lượng và tần xuất sử dụng bón phân với chất thải từ nhà máy biogas. Ở Đức và ở Việt Nam số lượng đàn cừu đang tăng lên, một lượng lớn lông cừu phế phẩm phát sinh. Với hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt là nitơ, viên nén từ lông cừu phế phẩm có thể sử dụng làm phân bón đa chức năng cho trồng trọt. Nghiên cứu đã sử dụng 4 loại viên nén lông cừu làm phân bón trong điều kiện trồng có kiểm soát. Cà chua được trồng trong nhà kính với 3 loại giá thể là perlite, vỏ cây thông đã ủ hoai, thảm lông cừu với phân bón là viên nén từ lông cừu phế phẩm. Năng suất cao nhất và đem lại sinh trưởng tốt nhất cho cây cà chua là công thức sử dụng vỏ cây thông và perlite. Dựa trên kết quả về năng suất và phân tích dinh dưỡng trong cây và sản phẩm, nghiên cứu cho thấy sự phù hợp của viên nén từ lông cừu phế phẩm làm phân bón cho canh tác rau trong nhà kính

    Evaluation of two eco-friendly botanical extracts on fruit rot pathogens of orange (Citrus sinesis (L.) Osbeck): Hiệu quả của hai loại dịch trích thực vật đối với các tác nhân gây thối trái cam (Citrus sinensis (L.) Osbeck)

    Full text link
    Fruit rot caused by Aspergillus niger and Colletotrichum sp. could cause rapid and severe damage on orange fruits. Current control method of orange fruits is mainly applied by usage of harmful pesticides, leading to chemical residues on fruits, environmental pollution and human poisoning. One of alternative methods of reducing pesticides is to use botanical extracts. This study was conducted to evaluate the in vivo antifungal efficacy of aqueous extracts from the leaves of neem and basket plants against A. niger and Colletotrichum sp. Orange fruits artificially inoculated by fruit rot pathogens were immersed into leaf extracts of 6% (w/v) neem or basket plants for 30 s, and kept for 11 days to record lesion length at room temperature. Orange fruits immersed into sterile distilled water were used as the control treatment. The results showed that at 11 days after inoculation, extracts of neem and basket plants significantly reduced the Aspergillus rot lesions by 109.08 and 124.00 mm, respectively. In addition, anthracnose lesions on orange fruits were statistically inhibited by treatments of neem and basket plants, with the average lesion diameters approximately 160.00 and 154.75 mm, respectively, at day 11 of the conducting experiment. The results of this study showed that leaf extracts of neem and basket plant at the concentration of 6% could be used as a natural alternative to control the in vivogrowth of rot pathogens of orange fruits. These extracts have a bright future in modern plant protection to replace conventional synthetic pesticides in agro-ecosystem. Thối trái bởi Aspergillus niger và Colletotrichum sp. gây ra các thiệt hại nghiêm trọng trên cam. Biện pháp phòng trừ bệnh trên trái cam hiện nay chủ yếu dựa vào thuốc hóa học, dẫn đến tồn dư thuốc trên trái cây, ô nhiễm môi trường và gây độc cho con người. Một trong các phương pháp thay thế giúp giảm sử dụng thuốc hóa học là sử dụng dịch trích thực vật. Nghiên cứu này đã được thưc hiện để đánh giá hiệu quả in vivo của dịch trích ở nồng độ 6% của neem hoặc lược vàng đối với A. niger và Colletotrichum sp. Các trái cam đã lây nhiễm nhân tạo tác nhân gây thối trái thì được nhúng vào dịch trích ở nồng độ 6% của neem hoặc lược vàng trong 30 giây, và giữ đến 11 ngày để ghi nhận chiều dài vết bệnh ở nhiệt độ phòng. Cái trái cam được nhúng vào nước cất thì dùng như nghiệm thức đối chứng. Kết quả cho thấy ở 11 ngày sau khi chủng bệnh, dịch trích neem và lược vàng làm giảm đáng kể vết thối Aspergillus lần lượt là 109,08 và 124,00 mm. Bên cạnh đó, vết bệnh thán thư trên trái cam đã bị ức chế có ý nghĩa thống kê bởi các dịch trích neem và lược vàng, với đường kính trung bình các vết bệnh lần lượt là 160,00 và 154,75 mm, ở ngày 11 của thí nghiệm. Kết quả của nghiên cứu này đã chỉ ra rằng dịch trích neem và lược vàng ở nồng độ 6% có thể sử dụng như một biện pháp thay thế tự nhiên trong việc phòng trừ sự phát triển của tác nhân gây thối trái cam. Các loại dịch trích này có tương lai trong bảo vệ thực vật hiện đại, thay thế các loại thuốc hóa học tổng hợp truyền thống trong hệ sinh thái nông nghiệp

    Appropriating conditions for acquisition high-content α – amylase of germinated brown rice variety Oryza stiva Anhdao: Nghiên cứu điều kiện thích hợp để thu nhận gạo lứt nẩy mầm có hoạt độ α – amylase cao từ giống gạo lứt Anh Đào

    Full text link
    Brown rice is a food ingredient which has high nutritious values. During germination, some nutritious and functional components are increased such as lysine, vitamin E, B1, B6, magnesium, calcium, iron… and especially γ – amino butyric acid. Enzyme activity will also change during the germination of the grains. The α – amylase activity of ungerminated grains is very low, only 34.91 UI/g. This is because the enzyme is hibernating and not activated. During germination, enzyme activity will increase. Submerge the Anhdao brown glutinous rice for 6 hours at 30°C in solutions with different pH values (2.0, 3.0, 4.0, 5.0, 6.0). The results show that at pH 3.0 the activity of α – amylase enzyme reaches the highest value of 82.93 UI/g. After the submersion, incubate the germinated brown rice in unentirely anaerobic condition at different temperature of 25, 30, 35, 37°C. The result showed that at 35°C after 24 hours of incubation, the α – amylase activity reaches the highest value of 89.82 UI/g. Examine the dynamic of changes of α – amylase activity against time at 35°C, we can see that in the first 28 hours the α – amylase activity increased significantly. Highest α – amylase activity reaches 97.10 UI/g after 28 hours of incubation. In reality, people usually use enzyme from germinated grains for many food manufacturing industries. α – amylase activity increases during incubation, which can bring promising prospects for processing sugar syrup and prebiotics food from germinated rice. Gạo lứt là một nguyên liệu thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Trong quá trình nảy mầm các thành phần dinh dưỡng và chức năng của hạt gạo lứt được tăng lên ví dụ như lysine, các vitamin E, B1, B6, magie, canxi, sắt… và đặc biệt là γ – amino butyric acid. Hoạt tính của hệ enzyme sẽ thay đổi trong suốt quá trình nảy mầm của hạt gạo. Hoạt tính enzyme α – amylase của hạt gạo chưa nảy mầm là rất thấp, chỉ đạt 34,91UI/g, do enzyme của hạt đang ở trạng thái ngủ chưa được kích hoạt. Trong quá trình nảy mầm thì hoạt tính của α – amylase tăng lên. Tiến hành ngâm gạo lứt giống nếp Anh Đào trong 6 tiếng, ở 30°C trong nước ngâm có pH khác nhau (pH 2.0, 3.0, 4.0, 5.0, 6.0). Kết quả cho thấy, ở pH 3.0 hoạt độ enzyme α – amylase cao nhất đạt 82,93 UI/g. Sau quá trình ngâm, tiến hành ủ nẩy mầm gạo lứt yếm khí không hoàn toàn ở những nhiệt độ khác nhau 25, 30, 35, 37°C, kết quả ở 35°C sau 24 giờ ủ hoạt độ enzyme α – amylase đạt cao nhất là 89,82 UI/g. Khảo sát động học sự thay đổi của hoạt độ enzyme α – amylase theo thời gian ở nhiệt độ ủ 35°C, kết quả cho thấy,trong 28 giờ đầu hoạt độ của α – amylase tăng mạnh. Hoạt độ α – amylase cao nhất đạt 97,10 UI/g sau 28 giờ ủ. Trong thực tế người ta đã sử dụng enzyme từ hạt nảy mầm cho rất nhiều ngành sản xuất thực phẩm. Hoạt độ của α-amylase sau quá trình ủ mầm tăng lên, có thể đem lại triển vọng sử dụng để chế biến dịch đường và các sản phẩm có tính prebiotic từ gạo lứt nảy mầm

    Land use/land cover change prediction in Dak Nong Province based on remote sensing and Markov Chain Model and Cellular Automata: Dự báo thay đổi sử dụng đất/ thảm phủ ở huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông dựa vào ảnh vệ tinh và mô hình Markov Chain và Cellular Automata

    Full text link
    Land use and land cover changes (LULCC) including deforestation for agricultural land and others are elements that contribute on global environmental change. Therefore, understanding a trend of these changes in the past, current, and future is important for making proper decisions to develop in a sustainable way. This study analyzed land use and land cover (LULC) changes over time for Tuy Duc district belonging to Dak Nong province based on LULC maps classified from a set of multi-date satellite images captured in year 2003, 2006, 2009, and 2013 (SPOT 5 satellite images). The LULC spatio-temporal changes in the area were classified as perennial agriculture, cropland, residential area, grassland, natural forest, plantation and water surface. Based on these changes over time, potential LULC in 2023 was predicted using Cellular Automata (CA)–Markov model. The predicted results of the change in LULC in 2023 reveal that the total area of forest will lose 9,031ha accounting of 50% in total area of the changes. This may be mainly caused by converting forest cover to agriculture (account for 28%), grassland (12%) and residential area (9%). The findings suggest that the forest conversion needs to be controlled and well managed, and a reasonable land use plan should be developed in a harmonization way with forest resources conservation. Thay đổi sử dụng đất và thảm phủ (LULCC) bao gồm cả việc phá rừng để phát triển nông nghiệp và vì các mục đích khác là tác nhân đóng góp vào biến đổi môi trường toàn cầu. Vì vậy hiểu biết về khuynh hướng của sự thay đổi này trong quá khứ, hiện tại và tương lai là quan trọng để đưa ra những quyết định dúng đắn để phát triển bền vững. Nghiên cứu đã phân tích LULCC trong thời gian qua dựa vào các bản đồ sử dụng đất và thảm phủ (LULC) đã được phân loại từ một loạt ảnh vệ tinh đa phổ được thu chụp vào năm 2003, 2006, 2009 (ảnh SPOT 5). Những thay đổi LULC theo thời gian và không gian trong khu vực được phân loại thành đất nông nghiệp với cây dài ngày, cây ngắn ngày, thổ cư, trảng cỏ cây bụi, rừng tự nhiên, rừng trồng và mặt nước. Dựa trên sự thay đổi này theo thời gian, LULC tiềm năng cho năm 2023 đã được dự báo bằng cách sử dụng mô hình CA-Markov. Kết quả dự báo LULCC năm 2023 đã cho thấy tổng diện tích rừng bị mất khoảng 9,031 ha chiếm 50% trong tổng số diện tích thay đổi. Điều này chủ yếu là do chuyển đổi từ rừng tự nhiên sang canh tác nông nghiệp (chiếm 28%), trảng cỏ cây bụi (12%) và khu dân cư (9%). Kết quả cho thấy việc chuyển đổi rừng cần phải được kiểm soát và quản lý tốt và một kế hoạch sử dụng đất hợp lý cần được xây dựng trong sự hài hòa với bảo tồn tài nguyên rừng

    Phosphorus treatment in wastewater by microorganisms isolated from cassava starch production waste: Nghiên cứu khả năng xử lý photpho trong nước thải của vi sinh vật phân lập từ nguồn thải của quá trình sản xuất tinh bột sắn

    Full text link
    In waste water, phosphorous (P) can exist in inorganic or organic forms. Depending on the concentration, P can cause eutrophication and severe environmental pollution. Microorganisms have the ability to use and accumulate P, so microorganisms are studied to treat P in waste water in general and wastewater from cassava starch processing plants in particular. Research results show that in the 20 samples of waste water and sludge of the plant has selected three strains of bacteria that can accumulate P in the form of granules in the cell. Among them, SHV22 has the highest P accumulation capacity, reaching 3.05x10-11 mg/cell, P removal efficiency in wastewater from cassava starch processing factory is 82.1%. The strain was identified as Bacillus amyloliquefaciens. Trong nước thải P có thể tồn tại dưới dạng vô cơ hoặc hữu cơ. Tùy thuộc vào nồng độ, P có thể gây phú dưỡng và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Vi sinh vật có khả năng sử dụng và tích lũy P, do đó vi sinh vật là đối tượng được nghiên cứu để xử lý P trong nước thải nói chung và nước thải của nhà máy chế biến tinh bột sắn nói riêng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 20 mẫu nước và bùn thải của nhà máy đã chọn lựa được 3 chủng vi khuẩn có khả năng tích lũy P dưới dạng hạt trong tế bào. Trong số đó, chủng SHV22 có khả năng tích lũy P cao nhất, đạt tới 3,05x10-11 mg/tế bào, hiệu quả loại bỏ P trong nước thải của nhà máy chế biến tinh bột sắn đạt 82,1%. Chủng đã được định danh là Bacillus amyloliquefaciens

    Effect of silver nanoparticles on water quality and phytoplankton communities in fresh waterbody: Ảnh hưởng của vật liệu nano bạc đến chất lượng nước và quần xã thực vật phù du trong thủy vực nước ngọt

    Full text link
    This study aims to investigate the potential effects of environmental variables and the toxicity of nanosilver colloids synthesized by chemical reduction method on growth and development of phytoplankton community (the Microcystis genus dominance) in the eutrophication Tien lake water, Hanoi city, Vietnam. The variables analyzed including: physical (pH and Turbidity), chemical (content of NH4+, PO43- and silver metal), biological (content of Chlorophyll-a, cell density). The characteristic of nanomaterial was confirmed by using UV-visible spectrophotometer, TEM and HR-TEM methods. The obtained silver nanoparticles (AgNPs) showed that their spherical form and uniform size varied from 10 to 15 nm. The experimental results showed that the samples treated with AgNPs inhibition on growth against M. aeruginosa at concentration 1 mg/l after 8 days. The content of silver in aquarium water decreased from 1 mg/l (D0) to 0.8 mg/l (D8). The contents of chlorophyll-a of phytoplankton community, including Microcystis genus in samples exposed with AgNPs were declined from 11.27 ± 0.56g/L (D0) to 1.98 ± 0.37 g/L (D8) . The environmental variables such as: pH, temperature, dissolved oxygen, turbidity, ammonium, phosphate... in the experiment were below the limit of the Vietnam Standard 08:2015/MONRE for surface water quality. Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát ảnh hưởng của vật liệu nano bạc tổng hợp bằng phương pháp khử hóa học đến sinh trưởng và phát triển của quần xã thực vật nổi (chủ yếu là chi Microcystis) trong nước hồ Tiền phú dưỡng, tại Hà Nội, Việt Nam. Các thông số phân tích bao gồm: thủy lý (pH và độ đục), hóa học (hàm lượng amoni, photphat và hàm lượng bạc kim loại), sinh học (hàm lượng chất diệp lục, mật độ tế bào). Đặc trưng của vật liệu được xác định bằng các phương pháp quang phổ UV-VIS, TEM và HR-TEM. Vật liệu nano bạc có dạng hình cầu, kích thước đồng nhất trong khoảng 10-15nm. Kết quả thử nghiệm sau 8 ngày cho thấy các mẫu có bổ sung vật liệu nano bạc ức chế sinh trưởng đối với vi khuẩn lam M. aeruginosa ở nồng độ 1mg/l. Hàm lượng bạc kim loại giảm từ 1 mg/l (ngày đầu tiên) xuống còn 0.8 mg/l (vào ngày cuối cùng). Sinh khối thực vật nổi trong đó có chi Microcystis trong mẫu xử lý với AgNPs đã giảm tương ứng từ 11.27 ± 0.56 g/L (ngày đầu tiên, D0) xuống 1.98 ± 0.37 g/L (ngày cuối cùng, D8). Các thông số môi trường của nước hồ đều nằm dưới giới hạn cho phép của QCVN 08:2015/BTNMT đối với chất lượng nước mặt

    Biodiversity research and conservation in Cat Ba National Park with updated records from recent field surveys: Tổng quan tình hình nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học ở Vườn Quốc gia Cát Bà với những ghi nhận cập nhật qua điều tra thực địa

    Full text link
    Among the protected area system of Vietnam, Cat Ba appears as an ideal national park for biodiversity research and conservation. It covers a large area of karst landscape including islands and different ecosystems ranging from forests, wetland, mangroves, caves and others. Since the establishment of Cat Ba National Park in 1986, biodiversity research and conservation within the park have been strongly promoted and raised. The park has been well known as home to highly diverse flora and fauna with many species endemic to the archipelago and Vietnam. A series of projects and programmes have been effectively implemented for urgent and long-term conservation of threatened species. However, results from scientific research also indicated that many sites and species are still almost unstudied while several sections of the park’s buffer zone are affected by human activities including unscientific development of ecotourism. We recently conduct a field survey and recorded 2 bat species and echolocation calls in their natural habitats. This paper provides an overview of achievements with recent records and recommendations for strengthening conservation of biodiversity and habitats in the park and surroundings. Trong hệ thống khu vực bảo vệ của Việt Nam, Cát Bà là một vườn quốc gia có điều kiện thuận lợi đối với công tác nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học. Vườn quốc gia này bao gồm diện tích lớn cảnh quan núi đá vôi với các đảo và hệ sinh thái đặc trưng như rừng trên núi, đất ngập nước, rừng ngập mặn, hang động và nhiều hệ sinh thái khác. Từ khi thành lập Vườn Quốc gia Cát Bà năm 1986, công tác nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học được quan tâm và thực hiện ngày càng nhiều. Vườn quốc gia cũng chứa đựng khu hệ động vật và thực vật đa dạng với nhiều loài đặc hữu cho quần đảo và Việt Nam. Nhiều dự án và chương trình đã được thực hiện nhằm bảo tồn cấp bách và lâu dài những loài bị đe dọa. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu khoa học cũng cho thấy nhiều khu vực trong phạm vi vườn quốc gia gần như chưa được nghiên cứu trong khi một số tiểu khu thuộc vùng đệm đang bị ảnh hưởng bởi hoạt động của con người như sự phát triển du lịch. Chúng tôi đã ghi nhận được 2 loài dơi cùng với tiếng kêu siêu âm trong môi trường sống tự nhiên của chúng qua thời gian điều tra thực địa vừa qua. Bài báo này cung cấp dẫn liệu tổng quan và cập nhật về những kết quả đã đạt được với những thông tin cập nhật và đề xuất nhằm thúc đẩy công tác bảo tồn đa dạng sinh học và sinh cảnh ở vườn quốc gia và vùng phụ cận trong tương lai

    244

    full texts

    249

    metadata records
    Updated in last 30 days.
    Journal of Vietnamese Environment
    Access Repository Dashboard
    Do you manage Open Research Online? Become a CORE Member to access insider analytics, issue reports and manage access to outputs from your repository in the CORE Repository Dashboard! 👇