Journal of Vietnamese Environment
Not a member yet
    249 research outputs found

    Assessing the surface water resources management for agricultural activities in the Soc Trang Province, Vietnamese Mekong Delta, Vietnam: Đánh giá công tác quản lý nguồn tài nguyên nước mặt cho sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Sóc Trăng, đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam

    Get PDF
    Climate change has been affecting to livelihoods of communities in the coastal plain of the Vietnamese Mekong Delta (VMD). Surface water management in the coastal plain was considered to be limited, especially in enforcement. Therefore, the research aimed to assess the stakeholder involvement, identify the conflict in using the surface water and mechanism to solve and avoid the conflict. The directive interview farmers and governmental staffs was implemented to collect the necessary data. The descriptive statistic was applied in order to analyze the collecting data through farmer survey. The questionnaire was built based on the governance assessment framework “Ten-building Block”. The results showed that the governmental group (including the people committee and the Provincial department) was the highest participatory in the management process both in decision-making level and interested level. The surface water users, especially the farmers participated with the average rate because of their low capacity in making the decision for a new policy or a new agricultural model. Besides, different groups of stakeholders as the non-governmental organization and governmental organization (the local Youth Union, Famer’s and Women’s Association) played an important role in raising the water user’s awareness. The remaining group, including non-agricultural company or traders, nearly were not concerned about the surface water changes. In addition, there were two main types of conflicts identified: between the farmers in the same kind (1) and different kind (2) of cultivation. As the consequence of the natural salinity and the impacts of output water from shrimp pond to the rice cultivation zone, the conflict was about the inefficient water regulation and distribution for each water user. These conflicts were mostly solved through self-negotiating and self-engaging between the farmers. In fact, there was no rule or principle to solve and prevent the potential water use conflict. Thus, this could be a great challenge for the surface water management in the agricultural zone as Soc Trang in the context of increasing the extreme climatic phenomenon. Biến đổi khí hậu đã và đang tác động lớn đến sinh kế của các cộng đồng ven biển đồng bằng sông Cứu Long (ĐBSCL). Công tác quản lý tổng hợp tài nguyên nước mặt tại vùng ven biển được cho rằng còn tồn tại nhiều hạn chế, nhất là trong triển khai và thực thi. Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện tại Sóc Trăng (một tỉnh ven biển ĐBSCL) nhằm đánh giá sự tham gia của các thành phần có liên quan, xác định các mâu thuẫn trong sử dụng nguồn nước mặt cũng như các giải pháp giải quyết và phòng tránh mâu thuẫn. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp nông hộ, tham vấn chuyên gia quản lý và thống kê mô tả được áp dụng để đánh giá các mục tiêu đặt ra của đề tài. Các thông tin khảo sát được xây dựng dựa trên bộ mười tiêu chí đánh giá quản trị tài nguyên nước (van Rijswick et al., 2014). Kết quả cho thấy nhóm chính quyền địa phương (bao gồm UBND và các Sở/Ngành) có vai trò và mức độ tham gia cao nhất trong chu trình quản lý. Người sử dụng nước mặt, nhất là nông dân đóng góp sự tham gia tương đối do mức đô ra quyết định về thiết lập chính sách và lựa chọn mô hình canh tác thấp. Mặt khác, các nhóm đối tượng khác như các tổ chức phi chính phủ, Đoàn thể, Hội nông dân và Hội phụ nữ đóng góp vai trò quan trọng trong nâng cao nhận thức và kêu gọi cộng đồng sử dụng hiệu quả nguồn nước mặt. Các nhóm tổ chức kinh tế như doanh nghiệp, tiểu thương gần như không quan tâm đến nguồn nước mặt. Bên cạnh đó, các mâu thuấn về sử dụng nước mặt cũng được xác định. Các mâu thuẫn được phân chia thành 2 nhóm: cùng loại hình canh tác và giữa các loại hình canh tác khác nhau. Các mâu thuẫn chủ yếu về vấn đề điều tiết nguồn nước không hợp lý và thiếu cân bằng trong phân phối nước ngọt cho các đơn vị canh tác do xâm nhập mặn tự nhiên, xả thải nước mặn vào vùng ngọt và khai thác không đồng đều. Các mâu thuẫn này chủ yếu được giải quyết thông qua thương lượng và thỏa thuân giữa các đối tượng có liên quan chứ chưa có bất kỳ một cơ chế hay quy định nào nhằm giải quyết cũng như phòng tránh các mâu thuẫn tiềm tàng. Vì vậy, đây sẽ là một thách thức lớn cho công tác quản lý nguồn nước mặt tại vùng sản xuất nông nghiệp thâm canh như Sóc Trăng trong bối cảnh gia tăng cực đoan khí hậu

    Systematic and zoogeographical characteristics of the oribatid mite fauna (Acari: Oribatida) of Vietnam: Đặc điểm cấu trúc phân loại và địa động vật của khu hệ ve giáp (Acari: Oribatifa) ở Việt Nam

    Get PDF
    The article is a synthesis of the studies on oribatid mites carried out in Vietnam during the period of 1980-2013, and is based on the oribatid materials obtained throughout the country. The oribatid mite fauna (Acari: Oribatida) of Vietnam is diversified, and has high specialization. It is diverse by the number of superfamilies, families, genera and species recorded. However, the number of genera per family, as well as the number of species and subspecies per genus, is not high. 43.75% and 37.50% of the total 64 families and subfamilies consist of one and of 2-3 genera, respectively. The only one family Oppiidae Grandjean, 1954 consists of 23 genera. The majority of the genera, 68.10% of the total, are represented by one species. The only two genera are represented by more than 10 species, namely Galumna Heyden, 1826 and Pergalumna Grandjean, 1936, with 13 and 11 species, respectively. The main zoogeographical characteristics of the oribatid mite fauna of Vietnam are the Oriental species, representing 60.30% of the total number. It also includes the elements of the Palaearctic – Oriental (12.2%), the Cosmopolitan (10.6%), the Afrotropical (Ethiopical) – Oriental (6.9%), the Australian – Oriental (5.0%), the Neotropical – Oriental (3.8%), the Nearctic – Oriental (0.9%), and the Pacific - Oriental (0.3%). Để đánh giá cấu trúc phân loại và đặc điểm địa động vật của khu hệ ve giáp Việt Nam (Acari: Oribatida), trên cơ sở mẫu vật nghiên cứu thu từ toàn lãnh thổ quốc gia, công trình đã tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên cứu về ve giáp trong giai đoạn 1980-2013. Khu hệ động vật ve giáp Việt Nam có tính chuyên biệt cao, và rất đa dạng về số lượng họ, giống và loài xác định được. Tuy nhiên số lượng giống trong 1 họ, cũng như số lượng loài trong 1 giống lại không cao. 43,75% và 37,50% của 64 họ và phân họ, tương ứng chỉ xác định được có 2 và 3 giống. Duy nhất có họ Oppiidae Grandjean, 1954 ghi nhận được 23 giống. 68,10% tổng số giống, chỉ xác định được 1 loài. Duy nhất có 2 giống ghi nhận được hơn 10 loài, là Galumna Heyden, 1826 và Pergalumna Grandjean, 1936, tương ứng có 13 và 11 loài. Đặc điểm địa động vật cơ bản của khu hệ ve giáp Việt Nam là tính chất Đông phương (Oriental), với 60,30% tổng số loài xác định được. Tính chất địa động vật của nó còn bao gồm các yếu tố sau: Cổ bắc - Đông phương (Palaearctic-Oriental, 12,2% tổng số loài xác định được), Toàn cầu (Cosmopolite, 10,6%), Nhiệt đới Phi châu - Đông phương (Afrotropical (Ethiopical)-Oriental, 6,9%), Úc châu - Đông phương (Australian-Oriental, 5,0%), Tân nhiệt đới - Đông phương (Neotropical-Oriental, 3.8%), Vùng cực - Đông phương (Nearctic-Oriental, 0.9%), và Thái Bình Dương - Đông phương (Pacific-Oriental, 0,3%)

    Applying diversity index and dominant species in research and selection of some indigenous plant species to absorb Pb, Zn: Ứng dụng chỉ số đa dạng và ưu thế loài trong nghiên cứu và lựa chọn một số loài thực vật bản địa có khả năng hấp thụ Pb, Zn

    Get PDF
    The study was carried out at Dai Dong and Chi Dao communes, Van Lam District, Hung Yen Province. The biological diversity indexes and dominance index of species were used to identify native plant species which have the ability to absorb Pb and Zn. The results were verified by applying methods such as plant classification, quadrat cell counting, biological indicators and chemical analysis. Results showed that there are five species of plants with the highest dominant index calculated due to number of individuals in the study area including Bidens pilosa L (33.03%), Acroceras munroanum (8.14%), Commelina coelestis (7.83%), Carex capillacea (5.41%), Ipomoea aquatic (5.26%). Verified results showed that Bidens pilosa L, Acroceras munroanum, Commelina coelestis, Ipomoea aquatic can be used to treat Pb with the absorption concentration of 380 mg/kg, 288 mg/kg, 270 mg/kg, 223 mg/kg, respectively. Only Commelina coelestis can absorb Zn with the highest concentration of 73mg/kg. In summary, Pb absorption of dominant species in the study area is higher than the absorption of Zn. Nghiên cứu được thực hiện tại hai xã Đại Đồng và xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên nhằm xác định một số loài thực vật bản địa có khả năng hấp thụ Pb, Zn bằng cách sử dụng chỉ số đa dạng sinh học và chỉ số ưu thế loài. Kết quả được kiểm chứng bằng các phương pháp như phân loại thực vật, đếm ô quadrat, sử dụng chỉ số sinh học và phân tích hóa học. Kết quả cho thấy có có năm loài thực vật có chỉ số ưu thế cao nhất tính theo số lượng cá thể trong khu vực nghiên cứu là: Đơn buốt (33,03 %), Cỏ lá tre (8,14 %), Thài lài (7,83 %), Kiết tóc (5,41 %), Rau muống (5,26 %). Kết quả phân tích kiểm chứng thấy Đơn buốt, Cỏ lá tre, Thài lài, Rau muống có khả năng xử lý Pb với giá trị lần lượt là 380 mg/kg, 288 mg/kg, 270 mg/kg, 223 mg/kg. Trong khi đó chỉ có Thài lài là có khả năng hấp thu Zn với giá trị cao nhất là 73 mg/kg. Nhìn chung khả năng hấp thu Pb của các loài ưu thế tại khu vực nghiên cứu cao hơn so với khả năng hấp thu Zn

    Study on knowledge of medicinal plants used of Tay ethnic minority in Na Hang special-use forest, Tuyen Quang Province: Nghiên cứu tri thức sử dụng cây thuốc của đồng bào người Tày tại khu bảo tồn rừng đặc dụng Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

    Get PDF
    Tay ethnic minority using Tay - Thai language is the biggest population in Na Hang district (ca. 51.6%), Tuyen Quang province. Their knowledge and experience of using medicinal plants have been preserved and passed down through many generations. Medicinal plant resources in Na Hang special-use forests (SUF) have been contributing to the work of health care and treatment of communities in the region. Research results showed that the composition of medicinal plants used by Tay ethnic minority in Na Hang SUF included 223 vascular plant species, belonging to 4 phyla which were mainly belonging to Magnoliophyta, accounting for 90.0% of families; 94.97% of genera, and 95.92% of species. Among these 223 plant species, 9 species were ranked at different levels of endangered status. These are rare and precious gene sources that need to be strictly protected and conserved. 53 diseases/symptoms belonging to 7 groups of diseases can be treated with medicinal plants from Tay ethnic minority in Na Hang SUF. Particularly, 14 diseases to be treated by various medicinal herbs. Dân tộc Tày là một cộng đồng thuộc ngôn ngữ Tày - Thái và có dân số đông nhất ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, chiếm 51,6% tổng dân số toàn huyện. Những tri thức và kinh nghiệm sử dụng những loài cây để chữa bệnh đã được người dân địa phương gìn giữ và lưu truyền lại qua nhiều đời, thế hệ sau. Nguồn tài nguyên cây thuốc ở rừng đặc dụng Na Hang đã và đang đóng góp vào công tác chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh của các cộng đồng trong khu vực. Kết quả điều tra cho thấy thành phần loài cây thuốc được người dân tộc Tày sử dụng gồm 223 loài thuộc 4 ngành thực vật bậc cao có mạch, chủ yếu thuộc ngành Mộc Lan (Magnoliophyta), chiếm 90,0% tổng số họ; 94,97% tổng số chi và 95,52% tổng số loài. Trong số 223 loài cây thuốc này, có 9 loài được xếp ở các cấp độ nguy cấp khác nhau. Đây là nguồn gien quý hiếm, cần có biện pháp bảo tồn nghiêm ngặt. Có 53 bệnh/triệu chứng bệnh thuộc 7 nhóm bệnh có thể chữa bằng cây thuốc tại rừng đặc dụng Na Hang từ người dân tộc Tày. Đặc biệt, 14 bệnh có thể chữa được bằng nhiều loại cây thuốc khác nhau

    Assessment of the water quality downstream of Red River in 2015 (Vietnam): Đánh giá chất lượng nước hạ lưu sông Hồng năm 2015 (Việt Nam)

    Get PDF
    The Red River is strongly affected by climate and human activities, especially in the downstream area concentrating industrial zones, large urbans and powerful agricultural activities. The surface water is progressively susceptible to anthropogenic pollution. The physicochemical variables of surface water were determined at 5 sampling sites (Quyet Chien, Truc Phuong, Ba Lat, Nam Dinh and Gian Khau). At each site, water samples were taken monthly during the period from January to December 2015 to assess the effect of human activities on the surface water quality. The actual survey results showed that almost analyzed variables of the Red River water quality at the downstream were under the permitting limit values of the National technical regulation on surface water quality (QCVN 08:2015, column B1). The quality of water downstream of the Red River reaches the permissible value in surface water for the irrigation purposes, waterway and other purposes with low quality water requirements. The results provide dataset for subsequent studies on the annual variation of physical and chemical variables of Red River downstream water, as well as the scientific basis for the effective protection and management of water resources in Vietnam. Sông Hồng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi khí hậu và các hoạt động của con người, đặc biệt là ở khu vực hạ lưu, nơi tập trung nhiều khu công nghiệp, nhiều đô thị lớn và các hoạt động nông nghiệp. Nước mặt đang dần bị ô nhiễm do con người. Các thông số hóa lý của nước mặt được xác định tại 5 trạm (Quyết Chiến, Trúc Phương, Ba Lạt, Nam Định và Gián Khẩu). Tại mỗi trạm, mẫu nước được lấy hàng tháng trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2015 để đánh giá tác động của các hoạt động của con người đến chất lượng nước mặt. Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết các chỉ tiêu chất lượng nước ở hạ lưu của sông Hồng đều nằm trong giá trị giới hạn cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (QCVN 08: 2015, cột B1). Chất lượng nước ở hạ lưu của sông Hồng nằm trong giới hạn cho phép đối với mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu nước chất lượng thấp. Kết quả thu được sẽ là cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo về sự thay đổi hàng năm của chất lượng nước hạ lưu sông Hồng, và cũng sẽ là cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và quản lý tài nguyên nước một cách có hiệu quả tại Việt Nam

    Enhancing biogas production by anaerobic co-digestion of water hyacinth and pig manure: Gia tăng lượng khí sinh học từ đồng phân hủy yếm khí lục bình và phân heo

    Get PDF
    The characteristics of anaerobic batch co-digestion of water hyacinth (WH) with pig manure (PM) under seven mixing ratio 100%WH; 80%WH : 20%PM; 60%WH : 40%PM; 50%WH : 50%PM; 40%WH : 60%PM; 20%WH : 80%PM and 100%PM were investigated, each treatment was conducted in five replications with daily loading rate at 1 gVS.L-1.day-1. During the anaerobic digestion process of 60 days, maximum biogas production occurred in two periods, the first stage from 12 - 22 days and second stage from 30 - 35 days. The maximum daily biogas productions from each stage were 17.2 L.day-1 and 15.1 L.day-1, respectively. The cumulative biogas production varied between 60 L (100%PM) and 360 L (60%WH : 40%PM). The results showed that the biogas yields of co-digestion 40 - 80%WH were higher from 34.6 to 56.1% in comparison with 100%PM and from 109 to 143% in comparison with 100%WH. When mixing with WH, treatments were received more methane and the methane contents were higher than 45% (v/v) that good for energy using purposes. Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát khả năng gia tăng lượng khí sinh học khi tiến hành đồng phân hủy yếm khí lục bình (WH) và phân heo (PM) ở các tỉ lệ phối trộn khác nhau gồm 100%WH; 80%WH : 20%PM; 60%WH : 40%PM; 50%WH : 50%PM; 40%WH : 60%PM; 20%WH : 80%PM và 100%PM. Các nghiệm thức được nạp lượng nguyên liệu là 1 gVS.L-1.ngày-1 và bố trí lặp lại 5 lần. Theo dõi quá trình phân hủy của các nghiệm thức trong 60 ngày ghi nhận có 2 khoảng thời gian lượng khí sản sinh nhiều nhất - giai đoạn 1 từ ngày 12 đến 22, giai đoạn 2 từ ngày 30 đến 35. Lượng khí sản sinh cao nhất tương ứng trong mỗi giai đoạn là 17.2 L.ngày-1 và 15.1 L.ngày-1. Lượng khí tích lũy trong suốt thời gian thí nghiệm ghi nhận thấp nhất ở nghiệm thức 100%PM đạt 60 L, và cao nhất ở nghiệm thức 60%WH : 40%PM đạt 360 L. Năng suất khí sinh ra của các nghiệm thức phối trộn lục bình từ 40 đến 80% cao hơn từ 34,6 đến 56,1% so với nghiệm thức 100%PM và cao hơn từ 109% đến 143% so với nghiệm thức 100%WH. Hàm lượng mê-tan sinh ra từ các nghiệm thức có phối trộn lục bình ổn định trong khoảng > 45% đảm bảo nhiệt lượng cho nhu cầu sử dụng năng lượng

    Environmental and economic potential of rice husk use in An Giang province, Vietnam: Tiềm năng kinh tế và môi trường của việc sử dụng trấu tại tỉnh An Giang, Việt Nam

    Get PDF
    To evaluate CO2 emission mitigation potential and cost effectiveness of rice husk utilization, Life Cycle Analysis was conducted for 9 scenarios. The results showed that, gasification is the most efficient CO2 mitigation. From cost analysis, the cost mitigation can be achieved by replacing the current fossil fuels in cooking scenarios. Among the power generation scenarios, it was found that 30MW combustion and 5MW gasification power generations were the most economically-efficient scenarios. The briquette combustion power generation appeared less cost-competitive than direct combustion, whilst the large-scale gasification scenarios and the pyrolysis scenarios give the increase in cost from the baseline. From the viewpoints of both CO2 and cost, it was indicated that the win-win scenarios can be the rice husk use for cooking, for large-scale combustion power generation, and for small-scale gasification. Để đánh giá tiềm năng giảm thiểu phát thải CO2 và hiệu quả chi phí của việc sử dụng trấu, phương pháp đánh giá vòng đời sản phẩm đã được thực hiện cho 9 kịch bản. Kết quả cho thấy, khí hóa trấu để sản xuất điện có tiềm năng giảm phát sinh khí CO2 nhiều nhất. Kết quả phân tích chi phí cho thấy việc giảm thiểu chi phí có thể đạt được khi thay thế sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong kịch bản dùng trấu cho nấu ăn. Giữa các kịch bản về sản xuất điện, hiệu quả kinh tế cao nhất trong trường hợp đốt trực tiếp trấu để sản xuất điện ở quy mô công xuất lớn (30MW) và khí hóa ở quy mô trung bình (5MW). Trường hợp dùng củi trấu không mang lại hiệu quả kinh tế so với dùng trực tiếp trấu để phát điện. Hai trường hợp dùng trấu để sản xuất dầu sinh học và khí hóa gas công suất lớn (30MW) cho thấy chi phí tăng cao so với điều kiện biên. Kịch bản cho kết quả khả thi về hiệu quả kinh tế và giảm phát thải CO2 là dùng trấu để nấu ăn, đốt trực tiếp để phát điện công suất lớn và khí hóa công suất trung bình

    Assessment of forest tenure rights of legal recognition, respect, allocation and transfer in Vietnam: Đánh giá các quyền hưởng dụng rừng về các nội dung ghi nhận, tôn trọng, giao và chuyển nhượng ở Việt Nam

    Get PDF
    This assessment reviewed 79 legal documents related to forest land tenure that include: 1 Constitu- tion; 8 Laws; 1 Resolution; 20 Decrees; 30 Circulars, 18 Decisions and 1 Directive. The objective of this paper was to assess the forest tenure rights in the system of Vietnam forest tenure policies. The main research method was based on the assessment framework Voluntary Guidelines on the Responsible Governance of Tenure of Land, Forests and Fisheries (VGGT). The results of 2 theme groups (i-Legal recognition and respect of rights; ii-Legal allocation and transfer of tenure rights and duties), corresponding to the seven criteria showed that its marks were at from 1 to 3 (the system of forest tenure policies in Vietnam has attained “slightly addressed” to “mostly addressed” (mark 3). However, it has not yet gained the levels of “fully addressed” (mark 4) for all aspects of forest tenure rights. Báo cáo này đã rà soát phần lớn các chính sách hiện hành quan trọng của hưởng dụng rừng với tổng số 79 văn bản, gồm: 1 Hiến pháp; 8 Luật; 1 Nghị quyết; 20 Nghị định; 30 Thông tư; 18 Quyết định và 1 Chỉ thị. Mục tiêu của bài viết này là đánh giá các quyền hưởng dụng rừng trong hệ thống các chính sách hưởng dụng rừng ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu chính được dựa trên khung đánh giá của Hướng dẫn tự nguyện về Quản trị chịu trách nhiệm của hưởng dụng đất, lâm nghiệp và thủy sản (VGGT). Kết quả nghiên cứu 2 nhóm chủ đề (i-Sự ghi nhận và tôn trọng các quyền; ii- Tính pháp lý của việc giao và chuyển nhượng quyền hưởng dụng và các nghĩa vụ), tương ứng với 7 tiêu chí đều cho thấy mới đạt mức điểm từ 1 – 3 (tức là hệ thống chính sách hưởng dụng rừng hiện hành ở Việt Nam đã có những nội dung “giải quyết một phần” đến “giải quyết phần lớn” (điểm 3), tuy nhiên chưa có được mức độ “giải quyết đầy đủ” các khía cạnh về quyền hưởng dụng rừng (điểm 4)

    Research on model-based calculation of greenhouse gas emissions from domestic wastewater treatment systems in Vietnam: Nghiên cứu tính toán phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt dựa trên mô hình tại Việt Nam

    Get PDF
    There are three important greenhouse gases: carbon dioxide (CO2), methane (CH4) and nitrous oxide (N2O), which are generated from the domestic wastewater treatment systems, including on-site and off-site sources. On-site emission of greenhouse gases occurs during process of wastewater treatment, while the off-site emission of greenhouse gases occurs during energy using and other support- ing activities of the treatment system. The research established model to calculate greenhouse gas emissions from the domestic wastewater treatment systems, was named No.0 MTH model. The No.0 MTH model was based on balance equations of substrate and biomass, biochemical reactions and Monod kinetics equations for biological treatment reactors and writen by programing Scalable language. Model was calibrated and applied on the Yen So wastewater treatment plant, Ha Noi and the results were obtained at 22°C as follows: off-site GHG emission is 29,560 kg CO2-eq/day; on-site GHG emission is 13,534 kg CO2-eq/day, and the rate of on-site emission is 2.506 kg CO2-eq/ kg BOD. Maybe using the No.0 MTH model to calculate greenhouse gas emissions from the domestic wastewater treatment systems with similar biological methods. Có 3 khí nhà kính quan trọng là khí Cacbonic (CO2), khí Mêtan (CH4), và khí Đinitơ monoxit (N2O) được phát sinh từ hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt gồm cả nguồn trực tiếp và gián tiếp. Phát thải trực tiếp khí nhà kính (KHK) xảy ra trong suốt quá trình xử lý còn phát thải gián tiếp khí nhà kính xảy ra trong quá trình sử dụng năng lượng và các hoạt động phụ trợ bên ngoài hệ thống xử lý. Nghiên cứu đã thiết lập mô hình tính toán phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt, được đặt tên là mô hình MTH số 0. Mô hình MTH số 0 đã dựa trên các phương trình cân bằng khối lượng cơ chất và sinh khối, các phản ứng hóa sinh và phương trình Monod đối với các thiết bị xử lý sinh học và được viết trên ngôn ngữ lập trình scala. Mô hình đã được hiệu chỉnh và được áp dụng tính toán tại nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt Yên Sở, thành phố Hà Nội và kết quả thu được tại 22°C như sau: phát thải KNK gián tiếp là 29.560 kgCO2-tđ/ngày và phát thải KNK trực tiếp là 13.534 kgCO2-tđ/ngày với tỷ lệ phát thải khí nhà kính trực tiếp là 2,506 kgCO2-tđ/ kgBOD. Có thể sử dụng mô hình MTH số 0 để tính toán phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt bằng phương pháp sinh học tương tự

    Application of ecological technology for removal of COD, nitrogen and phosphorus from piggery wastewater after biogas production technology: Ứng dụng công nghệ sinh thái để xử lý COD, Nitơ và Phôtpho trong nước thải chăn nuôi lợn sau công nghệ Biogas

    Get PDF
    Despite a positive contribution to economic – social development, the growth of piggeries has caused heavily environmental pollution. Currently, treated wastewater of pig farms unfortunately does not meet the national discharge standards yet. This paper presents some research results on the removing COD, nitrogen and phosphorus in piggery wastewater after anaerobic (biogas) process at pilot scale by the combined system using Phragmites australis, Cyperus alternifolius, Vetiveria zizanioides and Eichhornia crassipes. The experimental results showed that the wastewater loading rate of 47.35 l/m2.day with initial concentrations of 203.24 mg COD/l, 111.94 mgTN/l and 13.61 mgTP/l gave removal efficiency of 71.66 %, 79.26 % and 69.65 %, respectively. Thus, the removed quantity of total nitrogen (TN) and total phosphorus (TP) was of 4201.35 mg TN/m2.day và 448.76mg TP/m2.day. The obtained results indicated that the flow wetland system, using Phragmites australis, Cyperus alternifolius, Vetiveria zizanioides and Eichhornia crassipes has a rather high COD, TN and TP removal efficiency with simple operation so that it could be feasible if applied for treating pig wastewater. However, the system should be functioned longer for taking data and for evaluating its stability. Mặc dù có những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, việc phát triển chăn nuôi lợn đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hiện nay, nước thải chăn nuôi lợn từ các cơ sở chăn nuôi sau xử lý vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn thải của quốc gia và tiêu chuẩn ngành. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu về khả năng loại bỏ COD, nitơ (N) và phôtpho (P) trong nước thải chăn nuôi lợn đã qua xử lý bằng hầm biogas của hệ thống phối hợp cây Sậy, Thủy Trúc, cỏ Vetiver và Bèo Tây ở qui mô pilot. Kết quả thực nghiệm ở tải lượng 47,35 l/m2.ngày, với COD, tổng nitơ (TN) và tổng phôtpho (TP) đầu vào trung bình là 203,24 mg/l, 111,94 mg/l và 13,61 mg/l, tương ứng, thì hiệu suất xử lý lần lượt là 71,66 %; 79,26 % và 69,65 %. Như vậy lượng TN và TP loại bỏ là 4201,35 mgN/m2.ngày và 448,76 mgP/m2.ngày. Kết quả nhận được cho thấy hệ thống sử dụng cây Sậy, Thủy Trúc, cỏ Vetiver và Bèo Tây có hiệu quả loại bỏ COD, TN và TP khá cao trong khi vận hành đơn giản nên có triển vọng áp dụng trong điều kiện thực tế để xử lý nước thải chăn nuôi lợn. Tuy nhiên để đánh giá tính ổn định, hệ thống cần được hoạt động với thời gian lâu dài hơn

    244

    full texts

    249

    metadata records
    Updated in last 30 days.
    Journal of Vietnamese Environment
    Access Repository Dashboard
    Do you manage Open Research Online? Become a CORE Member to access insider analytics, issue reports and manage access to outputs from your repository in the CORE Repository Dashboard! 👇