Journal of Vietnamese Environment
Not a member yet
249 research outputs found
Sort by
Growth and metal uptake capacity of microalgae under exposure to chromium: Sự phát triển và khả năng hấp thu kim loại của vi tảo trong phơi nhiễm với crôm
Microalgae play a key function in aquatic ecosystems. Their development and growth are strongly regulated by trace metals as essential elements. However, trace metals could cause negative effects when exceeding certain concentrations in the environment. In this study we tested the development and growth rate of two freshwater microalgae, the cyanobacterium Pseudanabeana mucicola and the green alga Pediastrum duplex, from Vietnam over the period of 14 days exposing to chromium (Cr) at the concentrations up to 1,936 µg L-1. Besides, the Cr uptake and absorption by P. mucicola were evaluated over 7 days incubated in medium containing 422 µg Cr L-1. The results showed that Cr at the concentrations up to 1,078 µg L-1 did not inhibit the development and growth rate of P. mucicola. Similarly, concentration of 224 µg Cr L-1 had no adverse effects on growth of P. duplex. The cyanobacterium P. mucicola could make a reduction up to 71% of Cr in the test medium, hence become a distinguished candidate for metal phytoremediation. To the best of our knowledge this is the first investigation on the responses and absorption of Cr by freshwater microalgae from Vietnam.
Vi tảo đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái thủy vực. Sự sinh trưởng và phát triển của chúng được điều tiết mạnh mẽ bởi kim loại vi lượng như những yếu tố thiết yếu. Tuy nhiên, những kim loại vi lượng này có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực khi vượt quá nồng độ nhất định trong môi trường. Trong nghiên cứu này, chúng tôi thử nghiệm sự phát triển và tốc độ phát triển của hai loài vi tảo nước ngọt: loài tảo lam Pseudanabeana mucicola và loài tảo lục Pediastrum duplex có nguồn gốc từ Việt Nam trong thời gian 14 ngày phơi nhiễm với crôm (Cr) tại nồng độ lên tới 1.936 µg L-1. Bên cạnh đó, sự hấp thu Cr của P. mucicola cũng đã được đánh giá trong thời gian 7 ngày nuôi trong môi trường chứa 422 µg Cr L-1. Kết quả cho thấy Cr tại nồng độ lên tới 1.078 µg L-1 không kìm hãm sự phát triển và tốc độ sinh trưởng của P. mucicola. Tương tự, tại nồng độ 224 µg Cr L-1 không có bất kì ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của P. duplex. Loài tảo lam P. mucicola có thể làm giảm 71% hàm lượng Cr trong môi trường thí nghiệm, vì vậy được xem là ứng viên sáng giá cho quá trình xử lý môi trường ô nhiễm kim loại bằng thực vật . Theo hiểu biết của nhóm tác giả, đây là nghiên cứu đầu tiên về đáp ứng và hấp thu Cr bởi những vi tảo nước ngọt có nguồn gốc từ Việt Nam.
 
Isolation, characterization of Bacillus sp. producing heavy metal absorption γ-PGA: Phân lập, đánh giá tính chất chủng Bacillus sp. có khả năng sinh tổng hợp chất hấp thụ kim loại nặng γ-PGA
Poly-gamma-glutamic acid (γPGA), which is a biodegradable, non-immunogenic and unusual anionic amino-acid polymer consist of D- and L-glutamic acid units, was exploited for a wide array of useful applications. Bacillus are well known cellular system important for fermentation to synthesize γPGA, which is used as thickener, drugs carrier, cryoprotectant, humectant, biological adhesive, flocculants, or heavy metal absorbent. This study focused on the isolation of Bacillus spp. that is possible to produce γ-PGA from different soil samples from different places in Vietnam. Study the effect of precursors, temperature, carbon sources, times and pH on γ-PGA production. From 31 soil samples and 4 straws samples, strain 20.2 which produced the highest γ-PGA yields (riches 15.2 mg/ml), was identified as Bacillus sp. 20.2 by molecular biology method. The suitable conditions for growing of Bacillus sp. 20.2 strain to produce γ-PGA are at 37°C, pH 7 after 72 hours. Citric acid instead of glucose in a GSP medium is better for producing γ-PGA by strain Bacillus sp. 20.2.
Poly-gamma-glutamic acid (γ-PGA) là một polymer amino-acid gồm D và L-glutamic acid, có khả năng phân hủy sinh học, không gây miễn dịch, đã được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp, y học. Bacillus subtilis được biết đến là hệ thống tế bào ý nghĩa quan trọng trong quá trình lên men để tổng hợp γ-PGA. γ-PGA hòa tan trong nước, phân hủy sinh học và không độc đối với con người và môi trường. γ-PGA ổn định với nhiều protease vì các protease thường không nhận acid γ-glutamic (Obst et al., 2004). γ-PGA có cấu trúc đồng phân đơn giản, không gây miễn dịch. Do đó, γ-PGA đã được quan tâm ứng dụng trong các lĩnh vực như y học, công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm và đặc biệt là xử lý nước nhiễm kim loại nặng. Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung phân lập, tuyển chọn các chủng Bacillus có khả năng sinh tổng hợp PGA cao. Sau đó định danh và đánh giá khả năng sinh tổng hợp PGA từ chủng đã phân lập được. Kết quả cho thấy từ 34 mẫu rơm và đất, chúng tôi đã phân lập được chủng với mã số 20.2 có khả năng sinh PGA cao nhất đạt 15.2 mg/ml. Chủng này đã được định danh bằng phân tích trình tự gene 16S rRNA và thuộc loài Bacillus sp. Môi trường thích hợp sinh tổng hợp PGA là GSP ở điều kiện 37oC pH7 sau 72 giờ nuôi cấy
Growth of duckweed upon exposure to aluminum and atrazine in the laboratory conditions: Sự phát triển của bèo tấm khi phơi nhiễm với nhôm và atrazine trong điều kiện phòng thí nghiệm
The trace metals and pesticides are commonly found in surface water receiving industrial and agricultural effluents. However, the potential negative effects of these compounds on aquatic ecosystems have not been deeply studied. Hence, the aim of this study is to assess the single and combined effects of aluminum (Al) and atrazine on the development and growth rate of duckweed, Lemna minor L. The single exposures were implemented with either Al or atrazine at the concentration of 5, 50 and 500 µg L-1 and a binary exposure was conducted with 50 µg L-1 of Al and 5 µg L-1 of atrazine for two weeks. The results revealed that both Al and atrazine at the concentration of 500 µg L-1 strongly inhibited the development and growth rate of the duckweed. On the contrary, the mixture of Al and atrazine showed antagonistic effects on the plant. To our knowledge, this is the first report on the combined effects of these two contaminants on the duckweed. Therefore, our results could be useful for environmental managers in setting up and adjusting the safe guideline values in Vietnam for Al and atrazine in natural waters in term of ecological health protection.
Kim loại nặng và thuốc trừ sâu thường được tìm thấy trong các nguồn nước mặt, nơi tiếp nhận nước thải công nghiệp và nông nghiệp. Tuy nhiên, những ảnh hưởng tiềm tàng mang tính tiêu cực của những hợp chất này đối với hệ sinh thái thủy vực chưa được nghiên cứu đầy đủ. Do đó, mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá những ảnh hưởng riêng lẻ và kết hợp của nhôm (Al) và atrazine lên sự phát triển và tốc độ sinh trưởng của bèo tấm, Lemma minor L. Sự phơi nhiễm riêng lẻ với Al hoặc atrazine được thực hiện ở các nồng độ 5, 50 và 500 µg L-1, trong khi đó, quá trình phơi nhiễm kết hợp được tiến hành với Al tại nồng độ 50 µg L-1 và atrazine tại nồng độ 5 µg L-1 trong hai tuần. Kết quả cho thấy cả Al và atrazine ở nồng độ phơi nhiễm 500 µg L-1 kìm hãm mạnh mẽ sự phát triển và tốc độ sinh trưởng của bèo tấm. Ngược lại, sự kết hợp Al và atrazine dẫn kết tác động triệt tiêu trên bèo tấm. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, đây là ghi nhận đầu tiên về những ảnh hưởng kết hợp của hai chất gây ô nhiễm này lên bèo tấm. Vì vậy, những kết quả này có thể hữu ích cho các nhà quản lý môi trường tại Việt Nam trong việc thiết lập và điều chỉnh các giá trị an toàn đối với Al và Atrazie trong môi trường nước tự nhiên về khía cạnh bảo vệ sức khỏe sinh thái.
 
Analysis of gene encoding haemolysin A of Vibrio cholerae isolated in Vietnam: Phân tích gene mã hóa haemolysin A của Vibrio cholerae phân lập ở Việt Nam
Vibrio cholerae is the cholera causing agent, divided into two biotypes, including the classical biotype and ElTor biotype. Both of these biotypes caused cholera epidemics in the world. The classical biotype caused 6th cholera pandemic (from 1921 to 1961), and ElTor biotype caused 7th cholera pandemic (from 1961 to the 70s). Haemolysin A, a hemolytic protein of V. cholerae ElT or biotype, is encoded by the hlyA gene. This gene is often used for analyzing genetic relationship between strains in the same species or between species in the same Vibrio genus. Results of analyzing nucleotide and amino acid sequences of hlyA gene of V. cholerae strain causing cholera in Vietnam (named hlyA.VN) showed that: the hlyA.VN gene sequence was similar to the hlyA gene sequences of V. cholerae strains of the 6th and 7th cholera epidemics. The hlyA gene of the 6th cholera epidemic strain was deficient in 11 nuleotides (this deficiency leading to the loss of 4 amino acids in the haemolysin A protein) comparing to hlyA.VN gene and hlyA gene of the 7th cholera epidemic strain. The results of genetic distance analysis as well as phylogenetic tree construction also confirmed V. cholerae causing cholera in Vietnam was closely relationship to the strains causing cholera pandemics in the world. It is great significance for the surveillance of molecular epidemiology to prevent cholera effectively.
Vibrio cholerae là tác nhân gây bệnh tả, được chia thành hai typ sinh học, đó là typ sinh học cổ điển và typ sinh học ElTor. Cả hai typ này đã từng gây ra các đại dịch tả trên thế giới. Typ sinh học cổ điển đã từng gây ra đại dịch tả lần thứ 6 (từ năm 1921 đến 1961), còn typ sinh học ElTor đã từng gây ra đại dịch tả lần thứ 7 (từ 1961 đến những năm 70). Haemolysin A, một protein có chức năng làm tan máu của V. cholerae typ sinh học ElTor, được mã hóa bởi gen hlyA. Gene này thường được sử dụng cho các phân tích quan hệ di truyền giữa các chủng trong cùng một loài V. cholerae hay giữa các loài trong cùng một chi Vibrio. Kết quả phân tích trình tự nucleotide và axit amin gen hlyA của chủng V. cholerae gâybệnh ở Việt Nam (hlyA.VN) cho thấy: trình tự gen hlyA.VN có sự tương đồng lớn với trình tự gen hlyA của chủng gây đại dịch tả 6 và 7. Gen hlyA của chủng gây đại dịch tả 6 bị thiếu hụt 11 nuleotide (sự thiếu hụt này dẫn tới sự mất đi 4 axit amin trong phân tử haemolysin A) so với gen hlyA.VN và gene hlyA của chủng gây đại dịch tả 7. Kết quả phân tích khoảng cách di truyền cũng như xây dựng cây phát sinh chủng loại cũng đã khẳng định: chủng gây bệnh ở Việt Nam có quan hệ rất gần với các chủng gây đại dịch tả trên thế giới. Nhận định này có ý nghĩa rất lớn đối với công tác giám sát dịch tễ học phân tử để ngăn chặn bệnh tả hiệu quả
Quantification of direct and indirect greenhouse gas emissions from rice field cultivation with different rice straw management practices – A study in the autumn - winter season in An Giang Province, Vietnam: Phát thải khí nhà kính trực tiếp và gián tiếp từ sản xuất lúa theo các biện pháp quản lý rơm rạ khác nhau – Một nghiên cứu ở vụ Thu Đông ở tỉnh An Giang, Việt Nam
This study resulted in a comparative analysis of greenhouse gas emissions (GHGE) for rice production with different in-field rice straw management practices based on an experiment conducted in An Giang Province of Vietnam, during the autumn - winter season of 2016. Direct field GHGE was analyzed based on in-situ measurement and the total direct and indirect GHGE were estimated by applying the life cycle assessment using Ecoinvent3 database which is incorporated in SIMAPRO software. The experiment was conducted based on a completely random design with three treatments and three replications. The three treatments are [T1] Incorporation of straw and stubbles treated with Trichoderma; [T2] Incorporation of stubbles and removal of straw; and [T3] In-field burning straw. Closed chamber protocol and gas chromatography (SRI 8610C) was used to measure and analyse CH4 and N2O. CH4 emission rate was not significantly different (p>0.05) among the three treatments during sampling dates except on the days 17 and 24 after sowing (DAS). N2O emission rate was not significantly different (p>0.05) either. However, there were high variations of N2O emission after the dates of urea applied. Direct field emissions of CH4, N2O and CO2 equivalent (CO2eq) are not significantly different among the three treatments, but the amount of CO2eq per kg straw in T1 of incorporating rice straw treated with Trichoderma is significantly higher than in T3 of in-field burning straw. LCA based analysis resulted in total GHGE in the range of 1.93-2.46 kg CO2-eq kg-1 paddy produced consisting of 53-66% from direct soil emissions. Incorporation of straw treated with Trichoderma did not indicate the improvement of paddy yield. However, the organic matter, N-NH4+, and N-NO3- of this treatment was higher than those of the other researched treatments. This research was just conducted in one crop season, however, the results have initial implications for the other crop seasons.
Nghiên cứu này phân tích phát thải khí nhà kính từ sản xuất lúa theo các biện pháp quản lý rơm rạ khác nhau dựa vào thí nghiệm được thực hiện ở vụ Thu Đông năm 2016 tại tỉnh An Giang, Việt Nam. Lượng phát thải khí nhà kính từ đất đã được phân tích dựa vào kết quả đo đạt tại ruộng và tổng lượng phát thải khí nhà kính trực tiếp và gián tiếp được ước tính bằng phương pháp vòng đời sử dụng cơ sở dữ liệu Ecoinvent3 gắn kết với phần mềm SIMAPRO. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3 nghiệm thức và 3 lần lặp lại. Các nghiệm thức gồm [T1] vùi rơm và rạ với Trichoderma, [T2] lấy rơm ra khỏi ruộng và vùi rạ và [T3] đốt rơm. Kỹ thuật buồng kín (closed chamber protocol) và máy sắc ký khí (SRI8610C) được sử dụng để đo đạt và phân tích khí CH4 và N2O. Tốc độ phát thải khí CH4 không khác biệt giữa ba nghiệm thức, ngoại trừ kết quả ở lần lấy mẫu 17 và 24 ngày sau sạ. Tốc độ phát thải N2O cũng không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức. Tuy nhiên, tốc độ phát thải biến động rất lớn sau các ngày bón phân đạm. Lượng phát thải trực tiếp từ ruộng của CH4, N2O và CO2 tương đương (CO2-eq) không có sự khác biệt giữa ba nghiệm thức, nhưng lượng CO2-eq/kg rơm ở nghiệm thức vùi rơm và rạ với Trichoderma (T1) cao hơn nghiệm thức đốt rơm (T3). Kết quả phân tích LCA cho thấy lượng phát thải khí nhà kính dao động trong khoảng 1,93 – 2,46 kg CO2-eq/kg lúa với 53 – 66% lượng phát thải trực tiếp từ trong đất. Vùi rơm rạ với Trichoderma chưa cải thiện được năng suất lúa. Tuy nhiên, phần trăm chất hữu cơ và hàm lượng đạm hữu dụng trong đất của nghiệm thức này cao hơn so với hai nghiệm thức còn lại của thí nghiệm. Nghiên cứu này chỉ mới được thực hiện một vụ, nhưng đã mang lại nhiều kết quả có thể ứng dụng cho các vụ sau
Accessing land cover change in Bo Trach district, Quang Binh province based on high-resolution satellite imagery based on object-oriented perspective: Đánh giá biến động lớp phủ mặt đất tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình bằng ảnh viễn thám độ phân giải cao theo phương pháp định hướng đối tượng
This paper aims to assess land cover change by high-resolution remote satellite images in Bo Trach district, Quang Binh province. The study used eCognition Developer 9.1 to classify SPOT and Sentinal-2 images of the study area. Objects on the images are characterized by values of Channels, including Red, Green, Blue, NIR, Brightness, NDVI, and RIV. Since then, maps of land cover status in the year of 2005, 2010, and 2017 were created with high accuracy 92.22%, 91.28%, 94.22%, respectively. Overlaid three land cover maps to develop the land cover change maps of two periods 2005-2010 (period 1) and 2010-2017 (period 2). The results show that there is a variation in the area of land cover types, especially agriculture and forest land. Of which, agrarian land increased by 7.7% in period 1 and 9.95% in period 2. Whereas, forest land decreased by 0.6% in period 1 and 1.5% in period 2.
Bài báo này nhằm mục đích đánh giá biến động sử dụng đất bằng viễn thám độ phân giải cao tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Nghiên cứu sử dụng phần mềm eCognition Developer 9.1để phân loại ảnh ảnh SPOT và Sentinal-2 trên địa bàn nghiên cứu. Các đặc trưng của đối tượng trên ảnh được xác định dựa trên giá trị độ sáng các Kênh 1, Kênh 2, Kênh 3, Kênh 4, giá trị độ sáng trung bình (Brightness), chỉ số khác biệt thực vật (NDVI) và tỷ số thực vật (RIV). Từ đó xây dựng được các bản đồ lớp phủ mặt đất các năm 2005, 2010, 2017 với độ chính xác lần lượt là 92,22%, 91,28%, 94.22%. Chồng ghép các bản đồ lớp phủ mặt đất, xây dựng bản đồ biến động sử dụng đất giữa hai thời kỳ 2005-2010 và 2010-2017. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi giữa các loại hình lớp phủ gồm: đất nông nghiệp tăng khoảng 7,7% giai đoạn 1 và 9,95% giai đoạn 2. Đất lâm nghiệp giảm khoảng 0,6% giai đoạn 1 và 1,5% giai đoạn 2
Enhancement diesel oil degradation by using biofilm forming bacteria on biochar: Nghiên cứu hiệu quả xử lý dầu diesel của các chủng vi khuẩn tạo màng sinh học trên chất mang than sinh học
Biochar is defined as a carbon-rich, fine-grained, porous substance, which is produced by pyrolysis biomass with little or no oxygen. Biochar is usually produced from crop residues, wood biomass, animal litters, and solid wastes. Recently, biochar is increasingly receiving attention as an environmental-friendly approach, especially as a climate change mitigation strategy. Biochar is especilly demonstrated to remove diesel oil (DO) from soil and water. In this report, 4 biofilm forming bacteria including Klepsiellasp. VTD8, Pseudomonas sp. BQN21, Rhodococcussp. BN5 and Stenotropomonassp. QND8 were used to attach to biochar produced from husk to estimate the capacity of their DO removal. As the results, removal efficiency of biofilm formed by each strain VTD8, BQN21, BN5 and QND8 were 67, 73, 75 and 68 % with initial concentration of 39 g/l, respectively. On the other hand, mix species biofilm attached to husk carrier and without carrier degraded 98 and 78 %. Using husk without bacteria as absortion control, the amount of DO removal was 23 %. These results gave hint that using biochar produced from husk as carrier for biofilm forming bacteria to attach may increase efficiency of DO pollution treatment.
Than sinh học (biochar) là một chất xốp có các gốc carbon và có nguồn gốc từ quá trình nhiệt phân sinh khối các loại chất thải, động, thực vật,… dưới điều kiện hạn chế oxy hoặc không có oxy.Hiện nay biochar đã được ứng dụng rộng rãi trong xử lý môi trường. Đặc biệt các biochar còn được chứng minh là có thể xử lý dầu diesel (diesel oil - DO) có trong đất và nước. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng 4 chủng vi khuẩn tạo màng sinh học tốt là Klepsiella sp. VTD8, Pseudomonas sp. BQN21, Rhodococcus sp. BN5 và Stenotropomonas sp. QND8 để gắn lên chất mang là biochar làm từ trấu nhằm đánh giá hiệu quả xử lý DO của chúng. Kết quả cho thấy, sau 7 ngày, các chủng VTD8, BQN21, BN5 và QND8 có khả năng phân hủy 67, 73, 75 và 68 % DO với hàm lượng ban đầu là 39 g/l. Trong khi đó, hiệu suất của màng sinh học tạo thành bởi hỗn hợp các chủng này khi không có chất mang biochar trấu và khi có chất mang biochar trấu lần lượt là 78 và 98 %. Còn sử dụng chất mang biochar trấu không có vi sinh vật làm đối chứng thì thu được hiệu suất hấp phụ DO là 23 %. Như vậy, kết quả này mở ra tiềm năng ứng dụng biochar trấu làm chất mang cho các chủng vi khuẩn tạo màng sinh học để nâng cao hiệu quả xử lý ô nhiễm dầu
Economic and environmental effects of Integrated Pest Management program: A case study of Hau Giang province (Mekong Delta): Lợi ích kinh tế và môi trường khi áp dụng chương trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM: Nghiên cứu điển hình ở tỉnh Hậu Giang (Đồng bằng sông Cửu Long)
Since many years, the agro-technical programs such as "3 reduction 3 increase", "1 must 5 reduction" and System of Rice Intensification (SRI) have been carried out with definite results. Recently, IPM program (integrated pest management) – a more comprehensive measure (using all possible techniques and methods to keep the pest populations below a level causing economic injury) – has been firstly piloted on a large scale in the Mekong Delta. This paper presents the main results of piloting IPM program in 2,610 hectares during 2014-2017 in Hau Giang province. As results, farmers have better economic benefit in production; the quality of rice has been gradually improved and can overcome the technical barriers of advanced countries in rice trade such as US, EU and Japan. In addition, the environmental and ecological consequences can be avoided due to overuse of fertilizer and pesticide. Field ecosystems will be gradually restored.
Từ nhiều năm nay những chương trình kỹ thuật nông nghiệp như "3 giảm 3 tăng", "1 phải 5 giảm" và hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) đã được áp dụng và đã có những kết quả nhất định. Còn chương trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM - một biện pháp tổng hợp và tích cực hơn (sử dụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật độ của các loài gây hại dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế) – được thực nghiệm đầu tiên trên diện rộng ở Đồng bằng sông Cửu Long. Bài báo này trình bày những kết quả chính trong thử nghiệm ở 2.610 ha lúa trong thời gian 2014-2017 ở ở tỉnh Hậu giang. Kết quả là quản lý dịch hại ở ngưỡng cho phép, người nông dân có lợi hơn về kinh tế trong sản xuất, chất lượng gạo từng bước được cải thiện và có khả năng vượt qua các hàng rào kỹ thuật trong thương mại lúa gạo của các nước tiên tiến như USA, châu Âu, Nhật Bản. Ngoài ra tránh được hệ quả về môi trường sinh thái do sử dụng quá mức phân bón hóa học và ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật và hệ sinh thái đồng ruộng dần được phục hồi
Isolation and selection of probiotic bacteria capable of forming biofilm for fermenting soybean meal: Phân lập và tuyển chọn vi khuẩn probiotic tạo màng sinh học để lên men khô dầu đậu nành
Soybean meal (SBM) is residua product after oil extraction, the SBM with 48% protein is used for poultry, cattle. The SBM contains significant amount of anti-nutritional factors. Degradation of most antigenic proteins and protease inhibitors in SBM fermented by fungal, yeast and bacterial strains. Soybean fermented products are used as feed for livestock or aquaculture. Recently, biofilm forming microorganisms were broadly applied for fermentation process using substrates such as rice bran, corn, soybean meal ... to produce probiotics. In this study, we isolated and selected beneficial microbial strains that are capable of well biofilm forming, produce digestive enzymes and resist pathogenic microorganisms to ferment of soybean meal. The result showed that, four microorganism strains including NA5.3; TB2.1; TB4.3 TB4.4 had ability of forming higher biofilm, producing digestive enzymes such as amylase, protease and cellulose. Among them, NA5.3 and TB 4.4 strains had anti-pathogenic bacteria capacity such as Vibrio parahaemolyticus; Enterococcus faecalis; Bacillus cereus and Escherichia coli. Four selected strains were checked effection of pH, temperature, NaCl and bile salt concentration to their biofilm formation. The result indicated suitable conditions for forming biofilm at pH 6-8 range; temperature range 30-37°C; NaCl concentration of 0-3%, bile salt concentrtion of 0.5-2%. The selected strains grew well during solid fermentation process, achieved 1011 CFU/gram.
Khô đậu nành là sản phẩm còn lại từ quá trình ép dầu chứa tới 48% protein thô và thường được sử dụng làm thức ăn cho gia cầm, gia súc. Nhưng trong khô đậu nành còn chứa một lượng đáng kể một số chất ức chế dinh dưỡng, các chất ức chế này lại được phân hủy bởi quá trình lên men nhờ một số loài vi khuẩn, nấm mốc hay nấm men. Sản phẩm lên men khô đậu tương được sử dụng làm thức ăn cho gia cầm, gia súc hay nuôi trồng thủy sản. Trong những năm gần đây, các vi sinh vật tạo màng sinh học đã được ứng dụng để lên men các cơ chất như cám gạo, ngô, khô đậu nành… tạo sản phẩm probiotics. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã phân lập và tuyển chọn một số vi sinh vật có lợi tạo màng sinh học cao, sinh các enzyme tiêu hóa và kháng lại một số vi khuẩn gây bệnh cho mục đích lên men khô đậu nành. Kết quả đã lựa chọn được 4 chủng vi khuẩn NA5.3; TB2.1; TB4.3 TB4.4 có khả năng tạo màng sinh học cao, sinh các enzyme như amylase, protease và cellulose. Trong đó,hai chủng NA5.3 và TB4.4 có khả năng kháng lại một số vi khuẩn gây bệnh như Vibrio parahaemolyticus; Enterococcus faecalis; Bacillus cereus và Escherichia coli. Bốn chủng vi khuẩn lựa chọn được nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện lên khả năng tạo màng sinh học của chúng, chúng thích hợp ở pH 6-8; nhiệt độ 30-37°C; NaCl 0-3%, muối mật 0,5-2%. Sử dụng các chủng vi khuẩn này cho quá trình lên men rắn khô đậu tương, mật độ vi khuẩn sau khi lên men đạt 1011 CFU/gram
Preliminary investigation of nutrient contents in wastewater at some coastal communes of Giao Thuy district, Nam Dinh province: Khảo sát hàm lượng chất dinh dưỡng trong nước thải tại một số xã ven biển huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Wastewater, especially non-treated wastewater from different sources is one of causes for surface and ground water pollution. However, the monitoring of wastewater quality has not been regularly implemented. This paper presents the preliminary observation results of the wastewater quality of different sources such as domestic, fishery processing, husbandry, agricultural runoff and irrigation canals in some coastal communes of Giao Thuy district, Nam Dinh province in 2017 - 2018. The results showed variation values of some variables as following: pH: 3.4 to 8.7; DO: 1.1 – 7.6 mg/l; conductivity: 0.01 – > 99.9 S/m; Suspended solids: 7 – 599 mg.L-1; nitrate (NO3-): 0.01-1.74 mgL-1; ammonium (NH4+): 0.01 - 3.99 mgNL-1, phosphate (PO43-): < 0.01– 3.05 mgPL-1, total phosphorus: 0.01 – 5.03 mgPL-1. The values of some variables such as DO, pH, nitrite, ammonium, suspended solids and phosphate at some observation time exceeded the allowed values of the Vietnamese standards for domestic wastewater quality, for industrial wastewater quality and for surface water quality. Among these different wastewaters observed, the higher contents of nutrients were found for domestic wastewater. The results provide a dataset for environmental managers in order to control of wastewater quality, especially for the coastal communes where coastal aquacultural areas are large like Giao Thuy district, Nam Dinh province.
Nước thải, đặc biệt là nước thải chưa qua xử lý từ nhiều nguồn thải khác nhau là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm. Tuy nhiên việc giám sát chất lượng nước, lại chưa được thường xuyên thực hiện. Bài báo trình bày kết quả khảo sát bước đầu về chất lượng nước thải sinh hoạt, chế biến thủy sản, chăn nuôi, nông nghiệp, kênh dẫn tưới tiêu tại một số xã ven biển thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định trong năm 2017 - 2018. Kết quả khảo sát cho thấy khoảng giá trị của một số thông số như sau: pH 3,4 – 8,7; DO: 1,1 – 7,6 mgL-1; độ dẫn điện: 0,01 – 99,9 S/m; chất rắn lơ lửng: 7 – 599 mg.L-1; nitrat (NO3-): 0.01-1.74 mgL-1; amoni (NH4+): 0.01 - 3.99 mgNL-1; phốtphat (PO43-): <0,01 - 3,05 mgPL-1 và phốtpho tổng số: 0,01 – 5,03 mgL-1. Hàm lượng một số chỉ tiêu như NO2, NH4+, PO43-, SS tại một số thời điểm đã vượt quá giá trị cho phép theo các quy chuẩn nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và nước tưới tiêu. Trong các loại nước thải đã quan trắc, nước thải sinh hoạt có hàm lượng các chỉ tiêu dinh dưỡng cao hơn. Các kết quả nghiên cứu nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu cho các nhà quản lý về việc kiểm soát chất lượng nước thải, đặc biệt là các xã ven biển có diện tích nuôi trồng thủy sản khá lớn như huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định