Journal of Vietnamese Environment
Not a member yet
249 research outputs found
Sort by
Modification of natural zeolite by salt to treat ammonia pollution in groundwater: Biến tính zeolite tự nhiên bằng muối ăn để xử lí amoni trong nước ngầm
Treating ammonium pollution in ground water by natural zeolite after being modificated to the Na-form (Z-Na) is the new way of research that scientists interested in. The experiment results showed that, at pH 6, the efficient of treating ammonium in ground water is the highest. The efficient of treating increase rapidly in the first 5 minutes and remain stable after that. Higher concentration of the Z-Na will increase the treating coefficient of the process. With a water sample that has CN-NH4+=27 mg/L at first, using CZ-Na=13g/L and after 5 minutes, the concentration of ammonium in water was declined to 1mg/L, passed the Vietnamese standard for ground water (QCVN 09:2015-MT/BTNMT). The treating coefficient is 96.30%, the adsorption capacity is 2.07 mg N-NH4+/1g Z-Na. The loaded Z-Na was regenerated using 2g/L NaOH solution, the ammonium recovery ratio exceeded 92%. This means the reuse of Z-Na for ammonium adsorption is very high. The results of the experiment with groundwater samples in Phu Xuyen district, Ha Noi have a concentration of 53 mg/L. In conclusion, Z-Na material is perfectly fit for purpose of treating ammonium in ground water because of it low price, safety, easily to imitate and high efficiency.
Xử lí ô nhiễm amoni trong nước ngầm bằng vật liệu zeolite tự nhiên được biến tính bằng muối ăn (Z-Na) là một hướng nghiên cứu mới, được các nhà khoa học rất quan tâm. Kết quả thí nghiệm cho thấy, tại pH 6 thì hiệu quả xử lí amoni trong nước là tốt nhất. Hiệu quả xử lí amoni trong nước tăng rất nhanh trong 5 phút đầu tiên xử lý. Càng tăng nồng độ Z-Na thì hiệu quả xử lí amoni càng cao. Với dung dịch nước ban đầu có nồng độ amoni tính theo nitơ (N-NH4+) nhỏ hơn 27 mg/L và nồng độ vật liệu Z-Na sử dụng là 13g/L thì nước sau xử lí có nồng độ nhỏ hơn 1mg N-NH4+/L, đạt QCVN 09-MT:2015/BTNMT, hiệu suất xử lí đạt 96,30%, dung lượng hấp phụ cực đại đạt 2,07 mg N-NH4+/1g Z-Na. Vật liệu Z-Na sau khi xử lý được nghiên cứu giải hấp bằng dung dịch NaOH với nồng độ 2g/L cho thấy hiệu quả giải hấp đạt 92% lượng amoni được hấp phụ. Điều này chứng tỏ khả năng tái sử dụng của vật liệu Z-Na cho hấp phụ amoni là khá cao. Kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm xử lý với mẫu nước ngầm tại huyện Phú Xuyên, Hà Nội có nồng độ N-NH4+ là 53 mg/L. Vì vậy, vật liệu Z-Na hoàn toàn có thể ứng dụng vào thực tiễn để xử lý amoni trong nước ngầm rất an toàn, dễ thực hiện và hiệu quả cao
No changes in Northern Vietnam’s precipitation extremes during rainy season for the time period from 1975 to 2006: Không có sự thay đổi về các đợt mưa cực đoan vào mùa mưa ở miền Bắc Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1975 đến 2006
A consequence of Climate Change may be higher frequencies and intensities of extreme climate events all over the world. This paper takes a closer look on the Northern Vietnam climate conditions. The area of interest are the geographical regions North East, North West, Red River Delta and North Central Coast. For research extreme climate, the data from 72 meteorological stations for the time period 1975 to 2006 were used and tested for the rain season with the highly recommended method of indices for climate change research after ETCCDI. It is said, that there is a linkage between the indices and topics of social and economical impacts, but this is not a clear fact. The climate change and extreme precipitation indices R95p, R99p, SDII, PRCPTOT and a modified R50mm are used in this study. The question, if there are statistic significant trends is answered by the Mann-Kendall Trend test. The results show, that the indices are strongly influenced by the variations of the Vietnamese climate. Many stations have no significant trends. For the investigated time period, most of significance trends were decreasing. But there is a positive correlation between the total rain sum at rain season PRCPTOT and the extreme climate indices R95p and R99p, so more extreme climate intensities can be expect in a changing climate, because climate models show, that higher precipitations totals are probably for the area of interest.
Biến đổi khí hậu có thể dẫn đến sự gia tăng về tần số và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan trên toàn thế giới. Nghiên cứu này sẽ xem xét kỹ hơn về các điều kiện khí hậu ở miền Bắc Việt Nam. Địa điểm nghiên cứu bao gồm các khu vực địa lý Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Để nghiên cứu về khí hậu cực đoan, các dữ liệu trong khoảng thời gian từ 1975 đến 2006 đã được thu thập từ 72 trạm khí tượng. Những dữ liệu này được dùng để kiểm chứng đối với mùa mưa theo phương pháp chỉ số nghiên cứu biến đổi khí hậu của Nhóm chuyên gia về phát hiện biến đổi khí hậu (ETCCCDI). Hiển nhiên có một mối liên hệ giữa các chỉ số với các chủ đề về tác động kinh tế và xã hội, tuy nhiên thực tế này vẫn chưa rõ ràng. Các chỉ số biến đổi khí hậu và mưa cực đoan của tổng mưa hằng năm trên 95 phần trăm (R95p), tổng mưa hằng năm trên 99 phần trăm (R99p), chỉ số cường độ mưa trên ngày (SDII), tổng mưa hằng năm vào những ngày ẩm ướt – mùa mưa (PRCPTOT) và tổng mưa hằng năm biến đổi trên 50mm (R50mm) được sử dụng trong nghiên cứu này. Câu hỏi về sự tồn tại của các xu hướng quan trọng về mặt thống kê được trả lời bằng phương pháp Mann-Kendall Trend. Các kết quả chỉ ra rằng các chỉ số chịu ảnh hưởng lớn từ sự biến đổi của khí hậu Việt Nam. Do vậy, ở một số trạm khí tượng không có các xu hướng có ý nghĩa. Trong khoảng thời gian nghiên cứu, các xu hướng quan trọng đều giảm. Tuy nhiên, có một mối tương quan thuận giữa tổng lượng mưa trong mùa mưa (PRCPTOT) và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan trên các cực của chỉ số từ R95P và R99p. Kết luận, các mô hình thời tiết cho thấy tổng lượng mưa lớn hơn có khả năng sẽ xảy ra trên địa bàn nghiên cứu. Vì vậy, có thể phỏng đoán rằng khi thay đổi khí hậu, sẽ diễn ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan với cường độ cao.
The genus Flavopimpla Betrem (Insecta: Hymenoptera: Ichneumonidae) from Vietnam, with a new country record: Ghi nhận mới một loài ong cự thuộc giống Flavopimpla Betrem (Insecta: Hymenoptera: Ichneumonidae) cho khu hệ côn trùng Việt Nam
Up to date, three species of the genus Flavopimpla have been known from Vietnam, of which two species were described as new on the basis of the material collected from the country, viz. F. lanugo Pham, Broad & Wägele, 2013 from Xuan Son NP, Phu Tho Province and F. vinhcuuensis Pham, Broad & Wägele, 2013 from Phu Ly, Dong Nai Province. Resulted from recent field survey, one species Flavopimpla nigromaculata (Cameron) is recorded for the first time from the country and included to the previous key to already known Flavopimpla species of Vietnam. In addition, the distribution range of F. lanugo is extended northwards.
Cho đến nay, 3 loài thuộc giống ong cự Flavopimpla đã được ghi nhận ở Việt Nam, trong đó hai loài được miêu tả gần đây dựa trên các mẫu vật thu được trong nước bao gồm F. lanugo Pham, Broad & Wägele, 2013 ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ và F. vinhcuuensis Pham, Broad & Wägele, 2013 ở Phủ Lý, tỉnh Đồng Nai. Dựa trên các chuyến khảo sát gần đây, loài Flavopimpla nigromaculata (Cameron) được ghi nhận lần đầu tiên cho khu hệ côn trùng Việt Nam và được đưa vào khóa định loại tới loài của giống này đã có trước đây. Bên cạnh đó, vùng phân bố của loài F. lanugo cũng được ghi nhận mở rộng về phía bắc
Additions to the genus Rhaphuma Pascoe, 1858 (Coleoptera: Cerambycidae: Cerambycinae: Clytini) from Vietnam: Bổ sung các loài thuộc giống Xén tóc thường Rhaphuma Pascoe, 1858 (Coleoptera: Cerambycidae: Cerambycinae: Clytini) ở Việt Nam
The paper presents a checklist of the genus Rhaphuma Pascoe, 1858 belonging to the tribe Clytini from Vietnam. Of the total 26 species, there were eight species newly recorded for the Vietnam’s fauna, viz. Rhaphuma anongi Gressitt et Rondon, 1970; Rhaphuma clarina Gressitt et Rondon, 1970; Rhaphuma constricta Gressitt et Rondon, 1970; Rhaphuma diana Gahan, 1906; Rhaphuma eleodina Gressitt et Rondon, 1970; Rhaphuma elongata Gressitt et Rondon, 1970; Rhaphuma minima Gressitt et Rondon, 1970 and Rhaphuma phiale Gahan, 1906. All species are presented with notes on distribution.
Bài báo thống kê danh sách 26 loài thuộc giống Rhaphuma Pascoe, 1858, trong số đó có 8 loài là ghi nhận mới cho khu hệ Xén tóc của Vietnam, đó là: Rhaphuma anongi Gressitt et Rondon, 1970; Rhaphuma clarina Gressitt et Rondon, 1970; Rhaphuma constricta Gressitt et Rondon, 1970; Rhaphuma diana Gahan, 1906; Rhaphuma eleodina Gressitt et Rondon, 1970; Rhaphuma elongata Gressitt et Rondon, 1970; Rhaphuma minima Gressitt et Rondon, 1970; Rhaphuma phiale Gahan, 1906. Ngoài ra, bài báo còn cung cấp thông tin về phân bố của mỗi loàiở trong nước cũng như trên thế giới
Diversity of solitary wasps and bees (Hymenoptera: Aculeata) using trap-nests in North Vietnam: Đa dạng các loài ong có ngòi đốt (Hymenoptera: Aculeata) sử dụng bẫy tổ ở miền Bắc Việt Nam
By using trap nests, a total of 1,752 nests containing 3,405 provisioned cells of 33 species of solitary wasps and bees belonging to Vespidae, Sphecidae, Crabronidae, Pompilidae and Megachilidae families were collected in North Vietnam. Although the trap-nests are placed throughout the year, the nests were only collected in the period of seven months per year, from mid-April (or early May) to early November. A larger number of the nests (n = 1,607, or 91.72%) were occupied by wasp species and only 145 nests (8.28%) were occupied by bee species. In each family, Vespidae, Megachilidae, Sphecidae, Crabronidae and Pompilidae were represented by 12, 11, 7, 2 and 1 species, respectively. The dominant species were Pareumenes quadrispinosus, Rhynchium bruneum (Vespidae) and Chalybion malignum (Sphecidae). The nesting activities of wasps in the summer (May to July) were more active than in the autumn (August to early November), while the highest number of nests of bees were recorded in June, October and November.
Tổng số 1.752 tổ chứa 3.405 khoang tổ của 33 loài ong bắt mồi thuộc các họ Vespidae, Sphecidae, Crabronidae, Pompilidae và ong mật họ Megachilidae đã được thu thập trong bẫy tổ ở miềm Bắc Việt Nam. Mặc dù các bẫy tổ được đặt trong cả năm nhưng tổ của các loài ong bắt mồi và ong mật chỉ thu được trong khoảng thời gian từ giữa tháng 4 (đầu tháng 5) đến đầu tháng 11. Phần lớn các tổ được làm bởi các loài ong bắt mồi (1.607 tổ chiếm 91,72%), chỉ có 145 tố chiếm 8,28% được làm bởi các loài ong mật. Số loài làm tổ thuộc các họ Vespidae, Megachilidae, Sphecidae, Crabronidae và Pompilidae tương ứnglần lượt là 12, 11, 7, 2 và 1. Trong đó có ba loài phổ biến là. Pareumenes quadrispinosus, Rhynchium bruneum (Vespidae) và Chalybion malignum (Sphecidae). Hoạt động làm tổ của các loài ong bắt mồi từ tháng 5 đến 7 diễn ra tích cực hơn so với từ tháng 8 đến 11, trong khi đó số tổ của các loài ong mật lại thu được nhiều nhất trong ba tháng 6, 10 và 11
Sản xuất hydro sinh học nhờ vi khuẩn lên men Clostridium sp. Tr2 bằng cách lên men tối theo mẻ có kiểm soát pH: Sản xuất hydro sinh học nhờ vi khuẩn lên men Clostridium sp. Tr2 bằng cách lên men tối theo mẻ có kiểm soát pH
Limitation of fuels reserves and contribution of fossil fuels to the greenhouse effect leads to develop anew, clean and sustainable energy. Among the various options, biohydrogen appears as a promising alternative energy source. The fermentative hydrogen production process holds a great promise for commercial processes. Hydrogen production by fermentative bacteria is a very complex and greatly influenced by pH. This paper presents biohydrogen production by bacterial strain Clostridium sp. Tr2. Operational pH strongly affected its hyrogen production. Its gas production rate as well as obtained gas product were roughly increase twice under controlled pH at 6 than non-controlled condition. Dark fermentation for hydrogen production of strain Tr2 was performed under bottle as well as automatic fermenter scale under optimal nutritional and environmental conditions at 30°C, initial pH at 6.5, then pH was controlled at 6 for bioreactor scale (BioFlo 110). Bioreactor scale was much better for hydrogen production of strain Tr2. Clostridium sp. Tr2 produced 0.74 L hydro (L medium)-1 occupying 72.6 % of total gas under bottle scale while it produced 2.94 L hydro (L medium)-1 occupying 95.82 % of total gas under fermenter scale. Its maximum obtained hydrogen yield of Clostridium sp. Tr2 under bioreactor scale Bioflo 110 in optimal medium with controlled pH 6 was 2.31 mol hydro (mol glucose)-1.
Dự trữ nhiên liệu có giới hạn và việc sử dụng nhiên liêu hoá thạch góp phần không nhỏ gây hiệu ứng nhà kính dẫn đến cần phải phát triển năng lượng mới, sạch và bền vững. Trong số các giải pháp, hydro sinh học xuất hiện như một nguồn năng lượng thay thế đầy hứa hẹn. Quá trình lên men sản xuất hydro có tiềm năng lớn để áp dụng trong sản xuất thương mại. Tuy nhiên qúa trình này rất phức tạp và chịu ảnh hưởng lớn bởi pH. Nghiên cứu này trình bày sản xuất hydro sinh học do chủng vi khuẩn Clostridium sp. Tr2. Quá trình sản xuất hydro của chủng này bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi pH thay đổi trong quá trình lên men. Tốc độ tạo khí cũng như lượng khí thu được của chủng này tăng gần gấp đôi trong môi trường có duy trì pH ở pH 6 so với môi trường không kiểm soát pH. Quá trình lên men tối sản xuất hydro của chủng Tr2 được thực hiện ở quy mô bình thí nghiệm cũng như bình lên men tự động trong điều kiện môi trường tối ưu ở 30°C, pH ban đầu 6.5, ở qui mô bình lên men tự động (BioFlo 110), pH môi trường sau đó được duy trì ổn định ở pH 6. Lên men sản xuất hdyro của chủng Tr2 trong bình lên men tự động tốt hơn rất nhiều so với lên men trong bình thí nghiệm. Clostridium sp. Tr2 chỉ tạo ra được 0,74 L hydro (L medium)-1 chiếm 72,6 % tổng thể tích khí thu được ở điều kiện lên men bình thí nghiệm trong khi chủng này sản xuất được 2,94 L hydro (L medium)-1 chiếm 95,82 % tổng thể tích khí ở điều kiện lên men tự động. Sản lượng hydro thu được lớn nhất của chủng này trong bình lên men tự động BioFlo 110 trong trong môi trường tối ưu có kiểm soát pH tại pH 6 là 2,31 mol hydro (mol glucose)-1.Dự trữ nhiên liệu có giới hạn và việc sử dụng nhiên liêu hoá thạch góp phần không nhỏ gâyhiệu ứng nhà kính dẫn đến cần phải phát triển năng lượng mới, sạch và bền vững. Trong số các giải pháp, hydro sinh học xuất hiện như một nguồn năng lượng thay thế đầy hứa hẹn. Quá trình lên men sản xuất hydro có tiềm năng lớn để áp dụng trong sản xuất thương mại. Tuy nhiên qúa trìnhnày rất phức tạp và chịu ảnh hưởng lớn bởi pH. Nghiên cứu này trình bày sản xuất hydro sinh học do chủng vi khuẩn Clostridium sp. Tr2. Quá trình sản xuất hydro của chủng này bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi pH thay đổi trong quá trình lên men. Tốc độ tạo khí cũng như lượng khí thu được của chủng này tăng gần gấp đôi trong môi trường có duy trì pH ở pH 6 so với môi trường không kiểm soát pH. Quá trình lên men tối sản xuất hydro của chủng Tr2 được thực hiện ở quy mô bình thí nghiệm cũng như bình lên men tự động trong điều kiện môi trường tối ưu ở 30oC, pH ban đầu 6.5, ở qui mô bình lên men tự động (BioFlo 110), pH môi trường sau đó được duy trì ổn định ở pH 6. Lên men sản xuất hdyro của chủng Tr2 trong bình lên men tự động tốt hơn rất nhiều so với lên men trong bình thí nghiệm. Clostridium sp. Tr2 chỉ tạo ra được 0,74 L hydro (L medium)-1chiếm 72,6 % tổng thể tích khí thu được ở điều kiện lên men bình thí nghiệm trong khi chủng này sản xuất được 2,94 L hydro (L medium)-1chiếm 95,82 % tổng thể tích khí ở điều kiện lên men tự động. Sản lượng hydro thu được lớn nhất của chủng này trong bình lên men tự động BioFlo 110 trong trong môi trường tối ưu có kiểm soát pH tại pH 6 là 2,31 mol hydro (mol glucose)-1
Design and creation of control board for drying equipment based on development of a soft self-tuning PID controller: Thiết kế chế tạo mạch điều khiển cho thiết bị sấy mẫu trên cơ sở phát triển bộ điều khiển PID mềm tự chỉnh linh hoạt
This article introduces a versatile control board design that can be used in many drying systems using direct heat transfer solutions in combination with static tray distribution based on development of a flexible self-tuning PID controller. The product is applied for a small oven drying solid waste samples or plant materials for further analysis of some parameters. The control board is built based on the Arduino embedded system using a flexible soft PID (Proportional–Integral–Derivative) controller that can automatically change its gains according to the required temperature thresholds to best meet the setpoint of temperatures. The system has a small steady-state error (SSE), fast response to the setpoints and keep stable with temperature deviation when reaching the required threshold around ± 0.5 °C. In addition, the controller board can operate in a variety of modes, including direct temperature operation, pre-set operation, and switching mode.
Bài báo này giới thiệu một thiết kế mạch điều khiển đa năng có thể áp dụng trong nhiều hệ thống sấy sử dụng các giải pháp truyền nhiệt trực tiếp kết hợp phân phối khí kiểu khay tĩnh trên cơ sở phát triển bộ điều khiển PID mềm tự chỉnh linh hoạt. Sản phẩm được ứng dụng cho một mô hình lò nhỏ sấy mẫu chất thải rắn hoặc mẫu thực vật phục vụ các nghiên cứu phân tích thành phần một số chất.Mạch điều khiển được chế tạo trên nền tảng hệ thống nhúng Arduino sử dụng bộ điều khiển PID mềm linh hoạt, có khả năng tự động thay đổi tham số theo ngưỡng nhiệt yêu cầu để đáp ứng nhiệt độ tốt nhất so với ngưỡng nhiệt độ đặt. Hệ thống có độ quá điều chỉnh nhỏ, nhanh đáp ứng tới các ngưỡng đặt và giữ ổn định với sai lệch nhiệt độ khi đạt ngưỡng yêu cầu trong khoảng ±1°C. Ngoài ra, bộ điều khiển còn có thể hoạt động theo nhiều chế độ khác nhau, bao gồm hoạt động theo chế độ đặt nhiệt độ trực tiếp, hoạt động theo chu trình đặt trước, và chuyển chế độ hoàn toàn tự động
Evaluation of thermal stability of an antifungal protein from Bacillus subtilis isolated in Vietnam: Đánh giá tính bền nhiệt của protein có hoạt tính kháng nấm từ chủng Bacillus subtilis phân lập ở Việt Nam
Antifungal proteins were isolated from the crude bacterial supernatant using ammonium sulfate salt precipitation followed by passage over DEAE -cellulose and Biogel P100 columns. The purified protein had an apparent molecular mass of 14 kDa. Its antifungal activity was retained even at 100°C, for 60 min. The results of protein identification using MALDI -TOF/TOF mass spectrometer suggested that the purified protein is indeed a chitin binding protein that has 206 acid amine containing chitin -bind -3 region with a relative molecular mass of 22230 Da.
Protein có hoạt tính kháng nấm được tinh sạch từ dịch ngoại bào chủng vi khuẩn Bacillus subtilis sau khi qua ba bước tinh sạch: tủa muối ammonium sulphate 30-70%, qua cột sắc ký trao đổi ion DEAE – cellulose và cột săc ký lọc gel Biogel P100. Protein tinh sạch có khối lượng phân tử đạt 22 kDa trên điện di SDS-PAGE. Hoạt tính kháng nấm của protein tinh sạch vẫn còn duy trì khi ủ ở 100°C trong 60 phút. Kết quả nhận dạng bằng khối phổ MALDI -TOF/TOF đã chỉ ra rằng protein bền nhiệt này là chitin binding protein được mã hóa bởi 206 acid amin cùng với khối lượng phân tử là 22230 Da. trị an toàn đối với Al và Atrazie trong môi trường nước tự nhiên về khía cạnh bảo vệ sức khỏe sinh thái
Bioaccumulation of organochlorine pesticides (OCPs) in molluscs and fish at the Sai Gon - Dong Nai estuary: Tích lũy sinh học hóa chất bảo vệ thực vật clo hữu cơ trong nhuyễn thể và cá tại cửa sông Sài Gòn - Đồng Nai
The aim of this study is to assess the biological accumulation of pesticide residues in aquatic organisms in Sai Gon - Dong Nai (SG-DN) estuary. Fish and mollusks were collected directly at the Soai Rap and Long Tau estuary of the SG-DN river system, washed and separated for taking the tissue. The organochlorine compounds from the tissue were then extracted and analyzed by gas chromatography system. The results showed that, the concentration of OCPs in Tegillarca granosa, Meretrix lyrata, Margaritifera auricularia and Bostrychus sinensis varied from 6.4 to 59.9 μg/kg, 7.2 to 322 μg/kg, 4.5 to 62.1 μg/kg and 2.9 to 114.3 μg/kg fresh weight, respectively. In general, molluscs species that accumulate more heptachlor, aldrin, endrin or dieldrin tend to accumulate less DDT (dichlorodiphenyltrichloroethane). Endosulfan was the most commonly found in three bivalve mollusks while DDTs (1.5–75.2 μg/kg, averaging 8.7 μg/kg weight) was the most popular OCPs in the fish (Bostrychus sinensis) samples. In DDT group, the p,p’-DDT metabolite accounted for the largest percentage, reaching 50% of total DDTs. In HCH (Hexachlorocyclohexane) group, β-HCH isomer was predominant in almost samples.
Mgr đích ccc nghiên cch này là đánh giá tích lũy sinh hhn ccn thuu trr sâu trong các sinh vvn ssnh dưưh nưưh ttư khu vvu ccu sông Sài Gòn - ĐĐn Nai (SG-DN). Cá và nhuyyu thh đưưy llư trry tiiy iicửa sông Soài RRà và Lòng Tàu thuu hh thhu sông SG-DN, đư-D rư- ss-D và tách llc phhh mô thht. Các hhc chh clo hho cơ sau đó đưưđ tách chii và phân tích bbch hh thhh ssh ký khí. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dư lượng OCPs tích tụ trong sò điệp (Tegillarca granosa), ngao (Meretrix lyrata), trai nước ngọt (Margaritifera auricularia) và cá bớp (Bostrychus sinensis) dao động tương ứng từ 6,4 đến 59,9 μg/kg, 7,2 đến 322 μg/kg, 4,5 đến 62,1 μg/kg và 2,9 đến 114,3 μg/kg trọng lượng tươi. Nhìn chung, loài nhuyễn thể nào tích lũy nhiều heptachlor, aldrin, endrin hoăc dieldrin có xu hướng tích lũy ít DDT (Dichlorodiphenyltrichloroethane). Endosunfan là nhóm thuốc được tìm thấy nhiều nhất trong các loài nhuyễn thể nghiên cứu. Ngược lại, nhóm DDT lại phổ biến ở cá Bostrychus sinensis (1,5–75,2 μg/kg, trung bình 8,7 μg/kg trọng lượng). Dạng p.p’-DDT trong nhóm DDT chiếm tỷ lệ cao nhất, tới 50% DDT tổng. Trong khi đó, đồng dạng β-HCH của nhóm HCH (Hexachlorocyclohexane) chiếm đa số trong hầu hết các mẫu
Research on making material from waste sludge taken from domestic water treatment plant for arsenic removal from water: Nghiên cứu chế tạo vật liệu từ bùn thải nhà máy xử lý nước cấp để xử lý ô nhiễm asen trong nước
Iron oxide is a good and inexpensive adsorbent for arsenic (As) compounds and other heavy metals in water (Fe, Cu, Cd, Pb, Ni, Zn). Waste sludge from water treatment plant, which is highly in iron content, can be considered as a great adsorbent. Utilizing this waste as material for water treatment would get benefits on not only environment but also energy, resources and social economy. This study describes experiments to produce arsenic adsorbent material from waste sludge taken from Ha Dinh water treatment plant by using glass water, Fe(NO3)3 and heat to modify and enrich iron content. This process aims to make a good material for filtration and sorption of As. Other effects of pH, time, adsorbent mass, and adsorbate concentration are also considered. The processes are successful in removing Arsenic ion clearly. Initial As sample of 1000μg/L, contact time 4 hours, material 1 g/L, the efficiency is 99.64%. Treated water is under national technical regulation on domestic water quality (QCVN 02:2009/BYT column I), where column I is applicable to water provision units. Research also starts to make material particles, which are more favorable to practical application. These adsorbent productions after modification are beneficial with low-cost and environment-friendly advantages.
Oxít sắt là một chất hấp phụ tốt và rẻ trong việc loại bỏ các hợp chất asen (As) và một số kim loại nặng khác trong nước (Fe, Cu, Cd, Pb, Ni, Zn). Trong khi đó, bùn thải từ các nhà máy xử lí nước giàu thành phần sắt, có thể xem là một vật liệu hấp phụ tốt. Việc tận dụng bùn thải này làm vật liệu xử lý ô nhiễm không chỉ đem lại những lợi ích cho môi trường mà còn về mặt tài nguyên, năng lượng và kinh tế xã hội. Báo cáo này trình bày cách chế tạo vật liệu từ bùn thải của nhà máy xử lý nước cấp Hạ Đình thành vật liệu xử lý ô nhiễm asen bằng cách sử dụng thủy tinh lỏng, Fe(NO3)3 và nhiệt để biến tính làm tăng hàm lượng sắt trong bùn thải, tạo vật liệu tốt cho quá trình lọc và hấp phụ As. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu suất hấp phụ như pH, thời gian, khối lượng chất hấp phụ, và nồng độ As cũng được đưa ra đánh giá. Việc loại bỏ As đạt hiệu quả rõ rệt. Với nồng độ As ban đầu là 1000 μg/L, thời gian xử lý 4 giờ, vật liệu sử dụng là 1g/L thì hiệu suất xử lý đạt 99,64%. Nồng độ As sau xử lý đạt tiêu chuẩn QCVN 02:2009/BYT, cột I – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt, cột I áp dụng đối với các cơ sở cung cấp nước. Nghiên cứu cũng bước đầu thử nghiệm chế tạo thành viên vật liệu để thuận lợi hơn trong việc ứng dụng trong thực tiễn. Vật liệu bùn thải sau biến tính có lợi thế về chi phí thấp và thân thiện với môi trường