Journal of Vietnamese Environment
Not a member yet
249 research outputs found
Sort by
Cách tiếp cận toàn diện tái chế đèn hình thủy tinh và các bo mạch in ở Việt Nam: Cách tiếp cận toàn diện tái chế đèn hình thủy tinh và các bo mạch in ở Việt Nam
Rapidly growing quantities of e-waste (WEEE) demand the increasing attention of environmental policy all over the world. Developing countries are particularly affected by recycling and disposal activities, which are deemed harmful to health and environment. Holistic or integrated approaches to WEEE policy are required. The paper discusses first recycling technologies for glass from cathode ray tubes (CRT) and printed circuit boards (PCBs) in Vietnam. Thereafter the German approach to WEEE policy is adjusted to allow for an integrated policy. This is then adapted to allow for the recycling of used monitors and computers.
Sự gia tăng một cách nhanh chóng số lượng các chất thải từ các thiết bị điện, điện tử (WEEE) đòi hỏi sự tăng cường chú ý tới các chính sách môi trường toàn cầu. Các nước đang phát triển bị tác động đặc biệt bởi các hoạt động tái chế, do nó ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và môi trường. Các phương pháp tổ hợp và toàn diện đối với các chính sách quản lý chất thải điện tử (WEEE) là đòi hỏi cấp thiết. Trong bài báo này, trước hết phân tích đánh giá các công nghệ tái chế thủy tinh đèn hình (thủy tinh CRT) và bản mạchin điện tử (PCBs) ở Việt Nam. Tiếp theo là phương pháp tiếp cận các chính sách quản lý chất thải điện tử của Cộng hòa liên bang Đức được sử dụng để điều chỉnh cho thích hợp nhằm đưa ra giải pháp tổ hợp có thể thích ứng cho việc tái chế màn hình Tivi và máy tính hỏng, hết hạn sử dụng và thải bỏ ở Việt Nam.Sự gia tăng một cách nhanh chóng số lượng các chất thải từ các thiết bị điện, điện tử (WEEE) đòi hỏi sự tăng cường chú ý tới các chính sách môi trường toàn cầu. Các nước đang phát triển bị tác động đặc biệt bởi các hoạt động tái chế, do nó ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và môi trường. Các phương pháp tổ hợp và toàn diện đối với các chính sách quản lý chất thải điện tử (WEEE) là đòi hỏi cấp thiết. Trong bài báo này, trước hết phân tích đánh giá các công nghệ tái chế thủy tinh đèn hình (thủy tinh CRT) và bản mạch in điện tử (PCBs) ở Việt Nam. Tiếp theo là phương pháp tiếp cận các chính sách quản lý chất thải điện tử của Cộng hòa liên bang Đức được sử dụng để điều chỉnh cho thích hợp nhằm đưa ra giải pháp tổ hợp có thể thích ứng cho việc tái chế màn hình Tivi và máy tính hỏng, hết hạn sử dụng và thải bỏ ở Việt Nam
Giảm thiểu biến đổi khí hậu: Công nghệ nào phù hợp với Việt Nam?
Vietnam is one of the countries suffering from the most serious adverse effects due to climate change and sea level rise. The main cause of climate change is the increased activities generating greenhouse gases. Organic waste is the main source of carbon dioxide emission, which has the largest concentration among different kinds of greenhouse gases in the earth’s atmosphere. The conversion of organic waste and biomass into energy contributes not only to supply cleaner energy but also to reduce emissions of greenhouse gases. Vietnam has a large potential of biomass and agricultural by-products. The technologies to turn biomass into different kinds of bio-energies were developed and applied all over the world. Biogas was called as "brown revolution" in the field of new energy. Biogas production technology now has been studied and applied widely in the world, particularly in developing countries with warm climate that is suitable for anaerobic fermentation of organic waste. The biogas digester can be built with any capacity, needs small investment and the input materials are widely available. The biogas energy is used for many purposes such as cooking, lighting, running engines, etc. It is a production technology quite consistent with the economy of developing countries and really brings to life more civilized and convenient to rural areas.Việt Nam là một trong những quốc gia bị tác động nghiêm trọng nhất do biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao. Nguyên nhân chính của biến đổi khí hậu là các hoạt động gia tăng tạo ra các khí gây hiệu ứng nhà kính. Chất thải hữu cơ là nguồn chính phát thải khí carbon dioxide có nồng độ lớn nhất trong số các loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác nhau trong bầu khí quyển của trái đất. Việc chuyển đổi chất thải hữu cơ và sinh khối thành năng lượng góp phần không chỉ cung cấp năng lượng sạch hơn mà còn giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính. Việt Nam có một tiềm năng lớn về sinh khối và phụ phẩm nông nghiệp. Các công nghệ biến sinh khối thành các loại năng lượng sinh học khác nhau đã được phát triển và áp dụng rộng rãi trên thế giới. Khí sinh học được gọi là "cuộc cách mạng màu nâu" trong lĩnh vực năng lượng mới. Công nghệ sản xuất khí sinh học đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển với nhiệt độ khí hậu nhiệt đới phù hợp cho quá trình lên men kỵ khí các chất thải hữu cơ để sản xuất khí sinh học. Bình phản ứng tạo khí sinh học có thể được xây dựng với công suất bất kỳ, nhu cầu đầu tư nhỏ, các nguyên liệu đầu vào sẵn có. Năng lượng khí sinh học đã được sử dụng cho nhiều mục đích như thắp sáng, nấu ăn, chạy động cơ, v.v... Đây là hoạt động sản xuất khá phù hợp với nền kinh tế của các nước đang phát triển và thực sự đem lại cuộc sống văn minh hơn và tiện lợi đến các khu vực nông thôn
Tiềm năng rong Ulva sp. trong lọc sinh học và sản xuất năng lượng sinh học: Tiềm năng rong Ulva sp. tronglọc sinh học và sản xuất năng lượng sinh học
In order to evaluate the effect of seaweeds in bio-filtration for removing nitrogen from marine aquaculture and in bioenergy production, Ulva sp. was used in this study. Experiments were triplicated and run in 3-day incubation at salinities with 30 psu, 10 psu and 5 psu in different initial ammonium nitrogen concentrations from 100 µM to 10,000 µM, equivalently to marine aquaculture conditions. The highest concentrations of ammonium removed were about 690 µmol (12.42 mg) NH4+ at 30 psu, 410 µmol (7.38 mg) NH4+ at 10 psu and 350 µmol NH4+(6.3 mg NH4+) at 5 psu in three days of incubation, while highest growth rates of Ulva sp. were 49% and 150% per day at 500 µM of initial ammonium concentration, similarly to the growth rate reported in microalgae. Moreover, after these experiments, biomass of Ulva sp. has been tested for bioenergy producing goals, because the carbohydrate concentration of this alga was very high, reaching 60-70% of DW. Thus, Ulva sp. can be cultured to remove nitrogen concentration in eutrophication conditions at aquaculture systems in combination with the purpose of bioenergy production after harvesting.
Để đánh giá hiệu quả của tảo biển trong việc lọc sinh học loại bỏ hợp chất ni tơ từ việc nuôi trồng thủy sản và trong việc sản xuất năng lượng sinh học, Ulva sp. đã được sử dụng trong nghiên cứu này. Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần và chạy trong 3 ngày trong tủ ổn nhiệt tại các điều kiện độ mặn 30psu, 10psu, 5psuở các nồng độ NH4+-N từ 100μM đến 10.000μM, tương đương với điều kiện nuôi trồng thủy sản nước mặn. Nồng độ cao nhất của NH4+-N được loại bỏ khoảng 690 μmol NH4+ (12,42mg NH4+) tại 30psu, 410μmol NH4+ (7,38mg NH4+) tại 10psu và 350 μmol NH4+ (6.3mg NH4+) tại 5psu, trong đó tỉ lệ sinh trưởng của Ulva sp. là rất cao, sinh trưởng từ 49 đến 150% mỗi ngày tại nồng độ ammonium ban đầu 500 μM tương đương với sinh trưởng của vi tảo. Hơn nữa, sau các thí nghiệm trên, sinh khối của Ulva sp. được thử nghiệm sản xuất năng lượng sinh học vì hàm lượng carbohydrate trong tảo rất cao, chiếm khoảng 60-70% trọng lượng khô của tảo. Như vậy, Ulva sp. có thể đượcnuôi trồng để loại bỏ hợp chất ni tơ trong điều kiện phú dưỡng của các hệ thống nuôi trồng thủy sản, kết hợp với mục tiêusản xuất năng lượng sinh học sau thu hoạch.Để đánh giá hiệu quả của tảo biển trong việc lọc sinh học loại bỏ hợp chất ni tơ từ việc nuôi trồng thủy sản và trong việc sản xuất năng lượng sinh học, Ulva sp. đã được sử dụng trong nghiên cứu này. Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần và chạy trong 3 ngày trong tủ ổn nhiệt tại các điều kiện độ mặn 30psu, 10psu, 5psu ở các nồng độ NH4+-N từ 100µM đến 10.000µM, tương đương với điều kiện nuôi trồng thủy sản nước mặn. Nồng độ cao nhất của NH4+-N được loại bỏ khoảng 690 µmol NH4+(12,42mg NH4+) tại 30psu, 410µmol NH4+(7,38mg NH4+) tại 10psu và 350 µmol NH4+(6.3mg NH4+) tại 5psu, trong đó tỉ lệ sinh trưởng của Ulva sp. là rất cao, sinh trưởng từ 49 đến 150% mỗi ngày tại nồng độ ammonium ban đầu 500 µM tương đương với sinh trưởng của vi tảo. Hơn nữa, sau các thí nghiệm trên, sinh khối của Ulva sp. được thử nghiệm sản xuất năng lượng sinh học vì hàm lượng carbohydrate trong tảo rất cao, chiếm khoảng 60-70% trọng lượng khô của tảo. Như vậy, Ulva sp. có thể được nuôi trồng để loại bỏ hợp chất ni tơ trong điều kiện phú dưỡng của các hệ thống nuôi trồng thủy sản, kết hợp với mục tiêu sản xuất năng lượng sinh học sau thu hoạch
Kích kháng lưu dẫn đối với bệnh vàng lùn trên lúa – triển vọng trong việc sản xuất lúa theo hướng sinh thái: Kích kháng lưu dẫn đối với bệnh vàng lùn trên lúa –triển vọng trong việc sản xuất lúa theo hướng sinh thái
Most rice protection methods have currently used toxic chemicals to control pathogens and pests, which leads to environment pollution. Systemic acquired resistance (SAR) taking advantage of natural defence reaction of plants could be proposed as an alternative, ecologically friendly ap-proach for plant protection. Its application into rice production could minimize the chemicals quantity used, and could contribute to the decrease of environmental pollution and the development of sustainable agriculture. The research was conducted to select the best effective chemical and method to improve the health of rice plants infected by grassy stunt disease in net-house of Cantho University. SAR chemicals were used at very low concentrations (in mM). Results showed that the height of rice plants treated with SAR chemicals was higher than that of plants untreated. Besides, the number of diseased plant was reduced and the ratio of firm grain and yield increased when plants were applied by SAR. Among them, oxalic acid was the best systemic acquired resistance. With oxalic acid, seed soaking was better than seed coating in systemic acquired resistance against rice grassy stunt disease.
Hầu hết các phương pháp sản xuất lúa hiện nay đều sử dụng các hóa chất độc hại trong việc phòng trừ bệnh và côn trùng gây hại, nên dẫn đến ô nhiễm môi trường. Kích thích tính kháng lưu dẫn giúp kích hoạt cơ chế tự nhiênkháng bệnh của cây có thể là giải pháp bảo vệ thực vật thay thế an toàn với môi trường. Việc ứng dụng tiến bộ này vào trong sản xuất lúa có thể làm giảm lượng hóa chất sử dụng, đóng góp vào việc giảm thiểu ô nhiễmmôi trường và sự phát triển của một nền nông nghiệp bền vững. Nghiên cứu đã được thực hiện tại nhà lưới trường Đại học Cần Thơ để tuyển chọn hóa chất và phương pháp sử dụng hóa chất để tăng cường sức khỏe giúp cây lúa vượt qua bệnh vàng lùn. Hóa chất kích kháng được sử dụng ở một nồng độ rất thấp (đơn vị là mM). Kết quả cho thấy chiều cao cây lúa khi xử lý chất kích kháng tốt hơn so đối chứng không xử lý. Bên cạnh đó, số cây lúa nhiễm bệnh giảm, tỉ lệ hạt chắc và năng suất tăng khi cây lúa được xử lý với chất kích kháng. Trong số các chất kích kháng đã sử dụng, acid oxalic cho hiệu quả vượt trội. Với chất acid oxalic, phương pháp ngâm hạt cho hiệuquả kích kháng tốt hơn phương pháp áo hạt.Hầu hết các phương pháp sản xuất lúa hiện nay đều sử dụng các hóa chất độc hại trong việc phòng trừ bệnh và côn trùng gây hại, nên dẫn đến ô nhiễm môi trường. Kích thích tính kháng lưu dẫn giúp kích hoạt cơ chế tự nhiên kháng bệnh của cây có thể là giải pháp bảo vệ thực vật thay thế an toàn với môi trường. Việc ứng dụng tiến bộ này vào trong sản xuất lúa có thể làm giảm lượng hóa chất sử dụng, đóng góp vào việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường và sự phát triển của một nền nông nghiệp bền vững. Nghiên cứu đã được thực hiện tại nhà lưới trường Đại học Cần Thơ để tuyển chọn hóa chất và phương pháp sử dụng hóa chất để tăng cường sức khỏe giúp cây lúa vượt qua bệnh vàng lùn. Hóa chất kích kháng được sử dụng ở một nồng độ rất thấp (đơn vị là mM). Kết quả cho thấy chiều cao cây lúa khi xử lý chất kích kháng tốt hơn so đối chứng không xử lý. Bên cạnh đó, số cây lúa nhiễm bệnh giảm, tỉ lệ hạt chắc và năng suất tăng khi cây lúa được xử lý với chất kích kháng. Trong số các chất kích kháng đã sử dụng, acid oxalic cho hiệu quả vượt trội. Với chất acid oxalic, phương pháp ngâm hạt cho hiệu quả kích kháng tốt hơn phương pháp áo hạt
Khung pháp lý về tài nguyên nước ở Việt Nam: thành tựu và thử thách: Khung pháp lý về tài nguyên nước ở Việt Nam: thành tựu và thử thách
Since 1986 and especially during the early 90s, environmental protection has become a constitutional principle in Vietnam as regulated by Articles 17 and 29 of the 1992 Constitution. The first Law on Environmental Protection, passed by the National Assembly on December 27, 1993 created a foundation for environmental legislation becoming an important field in Vietnam’s legal system. In the following, Vietnam enacted its very first Law on Water Resources (No. 08/1998/QH10) in January 1999 aiming to provide a foundational framework for managing the water sector in Vietnam. In recent years, the legislative framework on water resources management has further developed. Important water-related regulations on the guidance and implementation of the Law on Water Resources have been issued and often amended to meet the requirements of the country’s development, and its international integration. To date, Vietnam’s legislation on the water sector consists of a complex system of legal documents issued by different state agencies. Though legislation of water sector management in Vietnam has greatly improved during the last decade, it has obviously not yet come to full fruition. Hence, the paper intends to provide an overview of achievements as well as problems and conflicting issues within Vietnam’s current water sector management legislation.
Kểtừnăm 1986, đặc biệt là những năm đầu của thập kỷ90, bảo vệmôi trường đã trởthành nguyên tắc hiến định (được quy định tại Điều 17 và 29 Hiến pháp 1992). Luật Bảo vệmôi trường đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993 đã đặt nền móng cho việc hình thành hệthống pháp luật vềmôi trường ởViệt Nam.Tiếp theo đó, ngày 20 tháng 05 năm 1998, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Việt Nam khóa X, kỳhọp thứ3 đã thông qua văn bản luật đầu tiên vềtài nguyên nước -Luật Tài nguyên nước số08/1998/QH10 hình thành một nền tảng pháp lý cho hệthống pháp luật bảo vệnguồn tài nguyên nước ởViệt Nam. Trong những năm gần đây, hầu hết các văn bản dưới luật quan trọng và cần thiết cho việc hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên nước đã được ban hành và không ngừng được sửa đổi, bổsung nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập quốc tếcủa đất nước trong nhiều lĩnh vực khác nhau.Tuy nhiên, khung pháp lý hiện hành vềtài nguyên nước ởViệt Nam bao gồm một hệthống các văn bản quy phạm pháp luật khá phức tạp, nhiều tầng nấc, được ban hành bởi nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau. Mặc dù hệthống pháp luật vềtài nguyên nước đã được liên tục sửa đổi, bổsung và hoàn thiện trong suốt một thập kỷqua, nhưng rõ ràng vẫn chưa thực sựđi vào cuộc sống.Bài viết dưới đây đềcập chủyến đến một sốcácthành tựu cũng nhưnhữngvấn đềmâu thuẫn hiện tại của pháp luật bảo vệnguồn tài nguyên nước ởViệt Nam.Kể từ năm 1986, đặc biệt là những năm đầu của thập kỷ 90, bảo vệ môi trường đã trở thành nguyên tắc hiến định (được quy định tại Điều 17 và 29 Hiến pháp 1992). Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993 đã đặt nền móng cho việc hình thành hệ thống pháp luật về môi trường ở Việt Nam. Tiếp theo đó, ngày 20 tháng 05 năm 1998, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 3 đã thông qua văn bản luật đầu tiên về tài nguyên nước - Luật Tài nguyên nước số 08/1998/QH10 hình thành một nền tảng pháp lý cho hệ thống pháp luật bảo vệ nguồn tài nguyên nước ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, hầu hết các văn bản dưới luật quan trọng và cần thiết cho việc hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên nước đã được ban hành và không ngừng được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, khung pháp lý hiện hành về tài nguyên nước ở Việt Nam bao gồm một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật khá phức tạp, nhiều tầng nấc, được ban hành bởi nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau. Mặc dù hệ thống pháp luật về tài nguyên nước đã được liên tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện trong suốt một thập kỷ qua, nhưng rõ ràng vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống. Bài viết dưới đây đề cập chủ yến đến một số các thành tựu cũng như những vấn đề mâu thuẫn hiện tại của pháp luật bảo vệ nguồn tài nguyên nước ở Việt Nam
Sổ tay hướng dẫn về phát triển bền vững: Quản lý tổng hợp tài nguyên nước tại Hà Nội, Việt Nam: Sổ tayhướng dẫn vềphát triển bền vững: Quản lý tổng hợp tài nguyên nước tại Hà Nội, Việt Nam
The handbook presented in this paper summarises the results of the research initiative “International Water Research Alliance Saxony” (IWAS). The subproject “IWAS Vietnam” (Phase I, October 2008 – December 2010) focuses on the model region “South-East Asia” with emphasis on Vietnam. The project started as a joint research initiative between German and Vietnamese organisations and included contributions from academic, private and public sector in both countries. The handbook was compiled by the Technische Universität Dresden (project coordination), the Institute for Technical and Scientific Hydrology and Dresden Drainage and Sewerage Company, with substantial contributions from Vietnamese partners.
Sổ tay hướng dẫntrong bài viết này tóm lượccác kết quả của sáng kiếnnghiên cứutừ “Liên minh Nghiên cứu ngành nước quốc tế bang Saxony” (IWAS). Dự án nhánh “IWAS Việt Nam” (giai đoạn 1, 10/2008 -12/2010) tập trung vào khu vực Đông Nam Á với trọng tâm là Việt Nam. Dự án khởi động như một sáng kiến liên kết nghiên cứu giữa các tổ chức của CHLB Đức và Việt Nam với sự đóng góp từ các đơn vịtư nhân,nhà nướcvà trường đại họccủa cả hai quốc gia. Quyển sổtay nàyđược biên soạn bởi Đại học Kỹ thuật Dresden (cơ quan điều phối dự án), Viện Công nghệ và Khoa học Thủy văn, và Công ty Thoát nước Dresden, cùng với sự đóng góp quan trọng của các đối tác Việt Nam.Sổ tay hướng dẫn trong bài viết này tóm lược các kết quả của sáng kiến nghiên cứu từ “Liên minh Nghiên cứu ngành nước quốc tế bang Saxony” (IWAS). Dự án nhánh “IWAS Việt Nam” (giai đoạn 1, 10/2008 - 12/2010) tập trung vào khu vực Đông Nam Á với trọng tâm là Việt Nam. Dự án khởi động như một sáng kiến liên kết nghiên cứu giữa các tổ chức của CHLB Đức và Việt Nam với sự đóng góp từ các đơn vị tư nhân, nhà nước và trường đại học của cả hai quốc gia. Quyển sổ tay này được biên soạn bởi Đại học Kỹ thuật Dresden (cơ quan điều phối dự án), Viện Công nghệ và Khoa học Thủy văn, và Công ty Thoát nước Dresden, cùng với sự đóng góp quan trọng của các đối tác Việt Nam
Phân lập và nhận dạng các chủng vi sinh vật biển từ mẫu bùn biển ven bờ Việt Nam và hoạt tính kháng khuẩn của chúng: Phân lập và nhận dạng các chủng vi sinh vật biển từ mẫu bùn biển ven bờ Việt Nam và hoạt tính kháng khuẩn của chúng
Seventeen bacterial strains were isolated from 9 marine mud samples from the inshore environments of the East Sea. Four bacterial strains showed an inhibition against all tested microorganisms Staphylococcus aureus ATCC10832, Escherichia coli JM109, and Fusarium oxysporum. 16S rRNA sequences of four bacterial strains were obtained by PCR using specific primers. PCR products were cloned into E. coli DH5a using pJET1.2 blunt vector. The recombinant plasmids were sequenced and the lengths of these 16S rRNA sequences were ~930bp. The 16S rRNA sequence from the four bacterial DB1.2, DB1.2.3, DB4.2 and DB5.2 strain showed a high identity of 97 to 99% with the 16S rRNA sequence from Photobacterium sp., Oceanisphaera sp., Shigella sp., Stenotrophomonas sp, respectively.
Mười bảy chủng vi khuẩn đã được phân lập từ 9 mẫu bùn biển từ các vùng ven bờ biển Việt Nam. Bốn chủng vi khuẩn được ghi nhận có khả năng ức chế mạnh sự sinh trưởng và phát triển của các chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus ATCC10832, Escherichia coli JM109, và thậm chí cả nấm Fusarium oxysporum. Trình tự gene 16S rRNA của bốn chủng vi khuẩn này đã được khuếch đại bằng PCR sử dụng cặp mồi đặc hiệu. Sản phẩm PCR được nối ghép vào vector pJET1.2 blunt sử dụng T4 ligase, hình thành plasmid tái tổ hợp và biến nạp vào E. coli DH5. Khuẩn lạc có plasmid mang phân đoạn DNA chèn được nuôi cấy và tách plasmid. Trình tự 16S rRNA từ 4 chủng DB1.2, DB1.2.3, DB4.2 and DB5.2 chỉ ra có sự tương đồng 97 ÷ 99% so với trình tự 16S rRNA tương ứng của các chủng vi sinh vật biển trên ngân hàng gene thế giới là Photobacterium sp., Oceanisphaera sp., Shigella sp., và Stenotrophomonas sp.Mười bảy chủng vi khuẩn đã được phân lập từ 9 mẫu bùn biển từ các vùng ven bờ biển Việt Nam. Bốn chủng vi khuẩn được ghi nhận có khả năng ức chế mạnh sự sinh trưởng và phát triển của các chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus ATCC10832, Escherichia coli JM109, và thậm chí cả nấm Fusarium oxysporum. Trình tự gene 16S rRNA của bốn chủng vi khuẩn này đã được khuếch đại bằng PCR sử dụng cặp mồi đặc hiệu. Sản phẩm PCR được nối ghép vào vector pJET1.2 blunt sử dụng T4 ligase, hình thành plasmid tái tổ hợp và biến nạp vào E. coli DH5a. Khuẩn lạc có plasmid mang phân đoạn DNA chèn được nuôi cấy và tách plasmid. Trình tự 16S rRNA từ 4 chủng DB1.2, DB1.2.3, DB4.2 and DB5.2 chỉ ra có sự tương đồng 97 ÷ 99% so với trình tự 16S rRNA tương ứng của các chủng vi sinh vật biển trên ngân hàng gene thế giới là Photobacterium sp., Oceanisphaera sp., Shigella sp., và Stenotrophomonas sp
Hội thảo quốc tế về đánh giá tính an toàn của hàng hóa tiêu dùng từ vật liệu tái chế trong viễn cảnh toàn cầu: Hội thảo quốc tế về đánh giá tính an toàn của hàng hóa tiêu dùng từ vật liệu tái chế trong viễn cảnh toàn cầu
Chemicals and additives in products being produced and marketed globally, this makes an international harmonised assessment and management essential. Chemical testing, research on risks, impacts and management options are carried out throughout the globe but quite fractionated to certain areas and sectors and much too often with little linkages between the different scientific communities. The coordination action (CA) "RISKCYCLE" is aimed to establish and co-ordinate a global network of European and international experts and stakeholders to define together future needs of R+D contributions for innovations in the risk-based management of chemicals and products in a circular economy of global scale leading to alternative strategies to animal tests and reduced health hazards. The partners joining this action seek to explore the synergies of the research carried out within different programmes and countries of the EU, in Asia and overseas to facilitate the intensified communication with researchers, institutions and industries about the risks of hazardous chemicals and additives in products and risk reduction measures and to improve the dispersion of available information. The RISKCYCLE network will closely collaborate with related projects, EU and international bodies and authorities such as for example the Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD), the European Chemical Industry Council (CEFIC) and the Scientific Committee on Health and Environmental Risks in Europe.
Mục đích chính của RISKCYCLE là xác đinhcác nghiện cứu và sự phát triển trong tương lai cấn thiết để thành lập một phương pháp đánh giá dựa trện rủi ro cho các hoá chất và các sản phấm. Phương pháp này sẽ giúp giảm bớt các thủ nghiệm trện động vật, đổng thời đảm bảo sự phát triển các hóa chất mới và một mô hình quản lý sản phấm để giảm thiểu rủi ro đối với sức khởe và môi trường. để đạt được mục tiệu này, trước hết cấn thu thập và đánh giá thông tin hiện có về các hoá chất và đặc biệt là các chất phụ gia được sủ dụng trong sản phấm công nghiệp và tiệu dùng. Nhiều hợp chất độc hại tiềm tàng được giao dich mua bán trện toàn thế giới như là chất phụ gia trong các sản phấm khác nhau. RISKCYCLE sẽ tập trung vào tác động và hậu quả của các chất phụ gia trong sáu lĩnh vực: dệt may, điện tủ, nhựa, da, giấy và dấu mớ bôi trơn. Trong ngành công nghiệp dệt may việc sủ dụng các chất phụ gia sẽ được nghiện cứu, trong khi ở ngành điện tủ và công nghiệp dệt may, việc sủ dụng các chất chống cháy, đặc biệt là chất chống cháy chứa brôm như PBDEs và HBCD, sẽ được phân tích. Trong công nghiệp da, kim loại nặng như crom sẽ được quan tâm. Việc sủ dụng chất diệt côn trùng trong ngành công nghiệp giấy cũng sẽ là một mối quan tâm chính của các hoạt động phối hợp.Mục đích chính của RISKCYCLE là xác đinh các nghiện cứu và sự phát triển trong tương lai cấn thiết để thành lập một phương pháp đánh giá dựa trện rủi ro cho các hoá chất và các sản phấm. Phương pháp này sẽ giúp giảm bớt các thủ nghiệm trện động vật, đổng thời đảm bảo sự phát triển các hóa chất mới và một mô hình quản lý sản phấm để giảm thiểu rủi ro đối với sức khởe và môi trường. để đạt được mục tiệu này, trước hết cấn thu thập và đánh giá thông tin hiện có về các hoá chất và đặc biệt là các chất phụ gia được sủ dụng trong sản phấm công nghiệp và tiệu dùng. Nhiều hợp chất độc hại tiềm tàng được giao dich mua bán trện toàn thế giới như là chất phụ gia trong các sản phấm khác nhau. RISKCYCLE sẽ tập trung vào tác động và hậu quả của các chất phụ gia trong sáu lĩnh vực: dệt may, điện tủ, nhựa, da, giấy và dấu mớ bôi trơn. Trong ngành công nghiệp dệt may việc sủ dụng các chất phụ gia sẽ được nghiện cứu, trong khi ở ngành điện tủ và công nghiệp dệt may, việc sủ dụng các chất chống cháy, đặc biệt là chất chống cháy chứa brôm như PBDEs và HBCD, sẽ được phân tích. Trong công nghiệp da, kim loại nặng như crom sẽ được quan tâm. Việc sủ dụng chất diệt côn trùng trong ngành công nghiệp giấy cũng sẽ là một mối quan tâm chính của các hoạt động phối hợp
Cách tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải rắn nhằm ứng phó biến đổi khí hậu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long: Cách tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải rắn nhằm ứng phó biến đổi khí hậu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
A fast increase of municipal solid waste (MSW) has become the most concerning environmental problem in Vietnam, especially in the Mekong Delta region, that is considered one of the most vulnerable deltas to climate change in the world. There are 12 provinces and one central city in MD that occupy about 12% of the whole area of the nation with 5% of MSW generated. However, there is no currently effective management system in place for treatment and management of MSW in the MD. Landfill is the sole treatment option for MSW right now. With a low-level plain, MD is facing the most serious environmental problem in the near future with an effect of climate change and sea level rising. The landfill should not be considered for long-term use in this area. Suitable treatment options for MSW should be applied together with other solutions for reuse, recycling and reduction of MSW as well as pollution prevention issue. An integrated MSW management approach in adaptation to climate change is considered necessary.
Sự tăng nhanh chất thải rắn đã trở thành vấn đề vấn đề môi trường được quan tâm nhất ở Việt Nam, đặc biệt là ở khu Đồng bằng Sông Cửu Long một trong những đồng bằng dễ bị tổn thương bởi sự biến đổi khí hậu nhất trên thế giới. Đồng bằng Sông Cửu Long có 12 tỉnh và một thành phố trực thuộc trung ương, chiếm 12% diện tích của cả nước với khoảng 5% lượng chất thải rắn phát sinh. Tuy nhiên,hiện nay chưa có một hệ thống quản lý hiệu quả cho chất thải rắn ở khu vực. Bãi rác là lựa chọn xử lý duy nhất ở thời điểm này. Với cao độ thấp, Đồng bằng Sông Cửu Long đang đối mặt với ảnh hưởng nghiêm trọng của các vấn đề môi trường trong tương lai gần bởi ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Về lâu dài bãi rác không nên sử dụng ở khu vực này. Các lựa chọn xử lý thích hợp cho chất thải rắn cần được áp dụng cùng với các giải pháp khác như tái sử dụng, tái chế và giảm thiểu chất thải rắn cũng như các giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm. Cách tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải rắn nhằm ứng phó sự biến đổi khí hậu cần đượcxem xét.Sự tăng nhanh chất thải rắn đã trở thành vấn đề vấn đề môi trường được quan tâm nhất ở Việt Nam, đặc biệt là ở khu Đồng bằng Sông Cửu Long một trong những đồng bằng dễ bị tổn thương bởi sự biến đổi khí hậu nhất trên thế giới. Đồng bằng Sông Cửu Long có 12 tỉnh và một thành phố trực thuộc trung ương, chiếm 12% diện tích của cả nước với khoảng 5% lượng chất thải rắn phát sinh. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một hệ thống quản lý hiệu quả cho chất thải rắn ở khu vực. Bãi rác là lựa chọn xử lý duy nhất ở thời điểm này. Với cao độ thấp, Đồng bằng Sông Cửu Long đang đối mặt với ảnh hưởng nghiêm trọng của các vấn đề môi trường trong tương lai gần bởi ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Về lâu dài bãi rác không nên sử dụng ở khu vực này. Các lựa chọn xử lý thích hợp cho chất thải rắn cần được áp dụng cùng với các giải pháp khác như tái sử dụng, tái chế và giảm thiểu chất thải rắn cũng như các giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm. Cách tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải rắn nhằm ứng phó sự biến đổi khí hậu cần được xem xét
Sản xuất ethanol từ sinh khối tảo: triển vọng và khó khăn: Sản xuất ethanol từ sinh khối tảo: triển vọng và khó khăn
The increase of petroleum cost as well as global warming and climate change result in investigation to discover new renewable energy resources. Bioenergy is one of the most important sources that is concerning the scientists and industrial sector. Although bioethanol had to be known as one of the most important renewable energy sources in order to reduce greenhouse gases and global warming, there is a limited number of publications reporting on them. In this review, a brief overview is offered about bioethanol production from algae. It can be given a deeper insight in dificulties and promising potential of bioethanol from algae.
Sự gia tăng giá nhiên liệu hóa thạch cùng với cảnh báo toàn cầu về biến đổi khí hậu hướng đến việc nghiên cứu tìm ra những nguồn năng lượng có thể tái tạo. Năng lượng sinh học là một trong những nguồn quan trọng được các nhà khoa học và doanh nghiệp quan tâm. Mặc dù ethanol sinh học đã được biết đến như là một trong những dạng năng lượng tái tạo quan trọng nhất để giảm thiểu các khí nhà kính và cảnh báo toàn cầu, nhưng chỉ có một số ít bài báo về nó. Trong bài tổng quan này, chúng tôi giới thiệu vắn tắt việc sản xuất ethanol sinh học từ tảo. Nó đưa ra cái nhìn sâu hơn về những khó khăn và tiềm năng hứa hẹncủa sản xuất ethanol sinh học từ tảo.Sự gia tăng giá nhiên liệu hóa thạch cùng với cảnh báo toàn cầu về biến đổi khí hậu hướng đến việc nghiên cứu tìm ra những nguồn năng lượng có thể tái tạo. Năng lượng sinh học là một trong những nguồn quan trọng được các nhà khoa học và doanh nghiệp quan tâm. Mặc dù ethanol sinh học đã được biết đến như là một trong những dạng năng lượng tái tạo quan trọng nhất để giảm thiểu các khí nhà kính và cảnh báo toàn cầu, nhưng chỉ có một số ít bài báo về nó. Trong bài tổng quan này, chúng tôi giới thiệu vắn tắt việc sản xuất ethanol sinh học từ tảo. Nó đưa ra cái nhìn sâu hơn về những khó khăn và tiềm năng hứa hẹn của sản xuất ethanol sinh học từ tảo