Journal of Vietnamese Environment
Not a member yet
249 research outputs found
Sort by
Hiện trạng và giải pháp quản lý rác thải hữu cơ trên đường sắt Việt nam: Hiện trạng và giải pháp quản lý rác thải hữu cơtrên đường sắt Việt nam
The quick social economic development of Vietnam stimulates great demand of quality as well as quantity on transport service by the increasingly growing needs of customer for transportation. The railway passenger transport is currently still an important branch of a country’s transport system because it is safer, more eco-friendly and much more efficient in comparison to another means. However, the increasing of the number of passengers is the main causes of fast increasing waste amount from the rail service. The aim of this paper is to study how the organic waste from rail service is managed and treated today by the Vietnam railways. The paper ends with some proposal solutions for treating and disposing of organic waste by applying renewable energy technologies for climate change mitigation to protect human health and the environment.
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Việt nam dẫn đếnnhu cầu vận chuyển hành khách ngày càng tăngmạnh về số lượng cũng nhưchất lượng dịch vụ. Vận chuyển hành khách bằng đường sắt hiện tại ở Việt nam vẫn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống vận tảiquốc giado lợi thế an toàn cao, thân thiện với môi trường và lợi ích cao của nó so với các phương tiện khác.Tuy nhiên sự biến động lớn của lượng hành khách đi tàu là nguyên nhân làm cho lượng rác thải từ các dịch vụ đường sắt cũng tăng mạnh. Bài báo tậptrung vào nghiên cứu và làm rõ hiện trạng quản lý chất thải hữu cơ trên đường sắt Việt nam hiện naycũng như các chiến lược nhằmxử lý chất thảihữu cơ, sử dụng công nghệ năng lượng tái tạo nhằm bảo vệ môi trường, giảm thiểu biến đổi khí hậu.Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Việt nam dẫn đến nhu cầu vận chuyển hành khách ngày càng tăng mạnh về số lượng cũng như chất lượng dịch vụ. Vận chuyển hành khách bằng đường sắt hiện tại ở Việt nam vẫn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống vận tải quốc gia do lợi thế an toàn cao, thân thiện với môi trường và lợi ích cao của nó so với các phương tiện khác. Tuy nhiên sự biến động lớn của lượng hành khách đi tàu là nguyên nhân làm cho lượng rác thải từ các dịch vụ đường sắt cũng tăng mạnh. Bài báo tập trung vào nghiên cứu và làm rõ hiện trạng quản lý chất thải hữu cơ trên đường sắt Việt nam hiện nay cũng như các chiến lược nhằm xử lý chất thải hữu cơ, sử dụng công nghệ năng lượng tái tạo nhằm bảo vệ môi trường, giảm thiểu biến đổi khí hậu
Sản xuất cao sản enzyme phân hủy tinh bột sống bởi chủng đột biến và môi trường tối ưu: Sản xuất cao sản enzyme phân hủy tinh bột sống bởi chủng đột biến và môi trường tối ưu
Selected fungal strain for production of raw-starch-digesting enzyme by solid state fermentation was improved by sequential exposures to gamma-irradiation of Co60, ultraviolet and treatments with N-methyl-N\u27-nitrosoguanidine. Mutant Aspergillus sp. CXN2-3A was chosen and its production of raw-starch-digesting enzyme (RSDE) was improved 2 folds higher than that of wild type. Optimal condition for the production of the enzyme using wheat bran as the substrate was accomplished for the CXN2-3A. With the optimal fermentation condition and the solid medium supplemented with urea and NH4NO3, CoSO4, Tween 80, 1% glucose, CXN2-3A produced RSDE 19.23 folds higher than wild type cultured in pre-optimized condition and un-supplemented medium.
Chủng nấm chọn lọc sản xuất enzyme thủy phân tinh bột bằng cách lên men trạng thái rắn, chủng nấm được cải thiện bằng chiếu xạ tia cực tím, tia Co60 và các phương pháp xử lí với N-methyl-N\u27-nitrosoguanidine. Mutant Aspergillus sp. CXN2-3A, đã được lựa chọn để sản xuất enzyme (RSDE) thủy phân tinh bột sống cải thiện cao hơn 2 lần so với chủng dại. Điều kiện tối ưu cho việc sản xuất các enzyme bằng cách sử dụng cám, lúa mì đã được thực hiện cho CXN2-3A. Với điều kiện lên men xốp tối ưu và bổ sung urê và NH4NO3, CoSO4, Tween 80, 1% glucose, CXN2-3A đã sản xuất RSDE cao gấp 19,23 lần so với kiểu dại ở cùng điều kiện.Chủng nấm chọn lọc sản xuất enzyme thủy phân tinh bột bằng cách lên men trạng thái rắn, chủng nấm được cải thiện bằng chiếu xạ tia cực tím, tia Co60 và các phương pháp xử lí với N-methyl-N\u27-nitrosoguanidine. Mutant Aspergillus sp. CXN2-3A, đã được lựa chọn để sản xuất enzyme (RSDE) thủy phân tinh bột sống cải thiện cao hơn 2 lần so với chủng dại. Điều kiện tối ưu cho việc sản xuất các enzyme bằng cách sử dụng cám, lúa mì đã được thực hiện cho CXN2-3A. Với điều kiện lên men xốp tối ưu và bổ sung urê và NH4NO3, CoSO4, Tween 80, 1% glucose, CXN2-3A đã sản xuất RSDE cao gấp 19,23 lần so với kiểu dại ở cùng điều kiện
Vi khuẩn sinh tổng hợp polyhydroxyalkanoates phân lập từ đất rừng ngập mặn tỉnh Quảng Ninh: Vi khuẩn sinh tổng hợp polyhydroxyalkanoates phân lập từ đất rừng ngập mặn tỉnh Quảng Ninh
A PHA producing bacterium (strain QN271) was selected from mangrove soil samples collected from Quang Ninh province by using the Nile red dying technique. PHA accumulation in the selected bacterium strain was confirmed by transmission electron microscope. With the exception of maltose or sucrose, the bacterium strain was found to be able to synthesize PHA from various carbon sources (glucose, xylose, fructose, glycerol, and glucose plus propionate). The strain accumulated poly(3-hydroxybutyrate) from glucose, fructose, xylose, and glycerol whereas poly(3-hydroxybutyrate-co-3-hydroxyvalarate) was produced when a combination of glucose and propionate was included in the culture medium. Fructose was found to be most suitable substrate for PHA synthesis by strain QN271. PHA content of 63.3% and CDW of 6 g/L were obtained after 32 hrs of cultivation in fructose medium.
Chủng vi khuẩn có khả năng sinh tổng hợp PHA đã được phân lập từ đất rừng ngập mặn tỉnh Quảng Ninh nhờ kỹ thuật nhuộm với Nile red. Ảnh quan sát dưới kính hiển vi điện tử dẫn truyền chứng tỏ rằng chủng vi khuẩn này có khả năng tích lũy lượng lớn PHA trong tế bào. Chủng vi khuẩn tuyển chọn có khả năng sinh tổng hợp PHA từ nhiều nguồn các bon khác nhau như glucose, xylose, fructose, glucerol, glucose và propionate nhưng không có khả năng tổng hợp PHA từ maltose hoặc saccharose. Chủng vi khuẩn tuyển chọn tổng hợp poly (3-hydroxybutyrate) từ các nguồn các-bon như glucose, xylose, fructose, hay glycerol, trong khi đó poly (3-hydroxybutyrate-co-3-hydroxyvalarate) sẽ được tổng hợp khi phối hợp sử dụng hai nguồn các-bon (glucose và propionate). Fructose là nguồn các-bon tốt nhất cho chủng QN271 sinh tổng hợp PHA, khi nuôi cấy trong môi trường có fructose chủng vi khuẩn này có thể tạo ra lượng sinh khối là 6 g/L trong đó có chứa 63.3% PHA sau 32 giờ.Chủng vi khuẩn có khả năng sinh tổng hợp PHA đã được phân lập từ đất rừng ngập mặn tỉnh Quảng Ninh nhờ kỹ thuật nhuộm với Nile red. Ảnh quan sát dưới kính hiển vi điện tử dẫn truyền chứng tỏ rằng chủng vi khuẩn này có khả năng tích lũy lượng lớn PHA trong tế bào. Chủng vi khuẩn tuyển chọn có khả năng sinh tổng hợp PHA từ nhiều nguồn các bon khác nhau như glucose, xylose, fructose, glucerol, glucose và propionate nhưng không có khả năng tổng hợp PHA từ maltose hoặc saccharose. Chủng vi khuẩn tuyển chọn tổng hợp poly (3-hydroxybutyrate) từ các nguồn các-bon như glucose, xylose, fructose, hay glycerol, trong khi đó poly (3-hydroxybutyrate-co-3-hydroxyvalarate) sẽ được tổng hợp khi phối hợp sử dụng hai nguồn các-bon (glucose và propionate). Fructose là nguồn các-bon tốt nhất cho chủng QN271 sinh tổng hợp PHA, khi nuôi cấy trong môi trường có fructose chủng vi khuẩn này có thể tạo ra lượng sinh khối là 6 g/L trong đó có chứa 63.3% PHA sau 32 giờ
Các kiểu hầm ủ khí sinh học phổ biến ở ĐBSCL: Các kiểu hầm ủ khí sinh học phổ biến ở ĐBSCL
In Vietnam, the research and application of biogas technology were given a considerable attention in past 30 years. There is several biogas plant models apply in the suburban and rural areas where most people’s life is based on animal husbandry. Each biogas plant model own strong points or weakness that adapt to detail circumstances. The biogas plants play a key role within the VACB farming system especially in the Mekong Delta where produce more than 50% of yearly national agriculture production. This paper gives a comprehensive overview on the popular biogas models in the Mekong Delta through its development history. Knowing on the presented biogas technology in the Mekong Delta will lead the biogas-related organizations or private on biogas development at this region.
Ở Việt Nam việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ khí sinh học đã được chú ý trong 30 năm gần đây. Một số mô hình khí sinh học đã và đang được lắp đặt tại các vùng ngoại ô và nông thôn là những nơi tập trung nhiều hộ dân chăn nuôi heo. Có nhiều mô hình khí sinh học đã được triển khai, trong đó mỗi mô hình đều có những điểm mạnh và điểm yếu đáp ứng theo từng yêu cầu cụ thể. Ở ĐBSCL nơi sản xuất trên 50% sản lượng nông nghiệp của cả nước, hầm ủ khí sinh học đóng một vai trò quan trọng trong mô hình canh tác VACB. Bài báo này trình bày chi tiết các kiểu hầm ủ khí sinh học phổ biến tại ĐBSCL tương ứng với từng thời điểm phát triển của công nghệ này. Sự hiểu biết về các kiểu hầm ủ khí sinh học hiện tại ở ĐBSCL sẽ giúp các tổ chức hoặc cá nhân có liên quan trong việc định hướng phát triển công nghệ khí sinh học cho toàn vùng.Ở Việt Nam việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ khí sinh học đã được chú ý trong 30 năm gần đây. Một số mô hình khí sinh học đã và đang được lắp đặt tại các vùng ngoại ô và nông thôn là những nơi tập trung nhiều hộ dân chăn nuôi heo. Có nhiều mô hình khí sinh học đã được triển khai, trong đó mỗi mô hình đều có những điểm mạnh và điểm yếu đáp ứng theo từng yêu cầu cụ thể. Ở ĐBSCL nơi sản xuất trên 50% sản lượng nông nghiệp của cả nước, hầm ủ khí sinh học đóng một vai trò quan trọng trong mô hình canh tác VACB. Bài báo này trình bày chi tiết các kiểu hầm ủ khí sinh học phổ biến tại ĐBSCL tương ứng với từng thời điểm phát triển của công nghệ này. Sự hiểu biết về các kiểu hầm ủ khí sinh học hiện tại ở ĐBSCL sẽ giúp các tổ chức hoặc cá nhân có liên quan trong việc định hướng phát triển công nghệ khí sinh học cho toàn vùng
Kết hợp keo tụ với PAC và quá trình UV/O3 để xử lý nước rỉ rác phát sinh từ bãi chôn lấp chất thải rắn: Kết hợp keo tụ với PAC và quá trình UV/O3 để xử lý nước rỉ rácphát sinh từbãi chôn lấp chất thải rắn
The landfill leachate is commonly treated for non-biodegradable organic matters, ammonia and colour. Experimental investigations using polyaluminium chlorite (PAC) and UV/O3 have been conducted for the determination of optimal pH value, reaction time and PAC concentration for the removal of chemical oxygen demand (COD) and colour. In pre-treatment coagulation stages, the highest COD and colour removal efficiencies were observed at the concentration of PAC ≥ 3,000 mglG1 and pH values between 7 and 8. However, these experiments also indicated significant removal efficiency for PAC starting with concentrations of 1,500 mglG1. The efficiency of COD and colour removal were approximately 30% and 70%, respectively. Similar efficiencies have been observed also during the second treatment stage where UV/O3 processes were used to treat coagulated leachate. After UV/O3 application, the pH of leachate reached the optimum value of 7.5 whereas the highest COD and colour removal efficiency was 55% and 72%, respectively, and the optimal reaction time was achieved after 80 min.
Nước rỉ rác sinh ra từ bãi chôn lấp chất thải rắn cần được xử lý các thành phần chất hữu cơ khó phân hủy sinh học, xử lí amoni và độ màu. Một số kết quả thử nghiệm về xử lý COD và màu của nước rỉ rác bằng việc sử dụng phương pháp keo tụ vớiPAC và quá trình UV/O3 đã được thực hiện cùng với việc xác định các giá trị pH tối ưu, thời gian phản ứng và nồng độ PAC tối ưu. Hiệu suất xử lý cao nhất đạt được khi nồng độ của PAC ≥ 3.000 mg/l, pH trong khoảng từ 7 đển 8 trong giai đoạn tiền xửlý. Tuy nhiên, hiệu quả loại bỏ COD và màu bắt đầu tăng rõ khi nồng độ PAC từ 1.500 mg/l trở lên. Hiệu quả loại bỏ COD và màu tương ứng là khoảng 30% và 70%. Các giá trị pH này phù hợp cho quá trình phản ứng UV/O3 được sử dụng sau giai đoạn keo tụ. Sau quá trình xử lý bằng hệ UV/O3, pH của nước rỉ rác tối ưu được xác định là 7,5 (hiệu suất xử lý COD và màu cao nhất tương ứng là 55% và 72%), thời gian phản ứng tối ưu là 80 phút.Nước rỉ rác sinh ra từ bãi chôn lấp chất thải rắn cần được xử lý các thành phần chất hữu cơ khó phân hủy sinh học, xử lí amoni và độ màu. Một số kết quả thử nghiệm về xử lý COD và màu của nước rỉ rác bằng việc sử dụng phương pháp keo tụ với PAC và quá trình UV/O3 đã được thực hiện cùng với việc xác định các giá trị pH tối ưu, thời gian phản ứng và nồng độ PAC tối ưu. Hiệu suất xử lý cao nhất đạt được khi nồng độ của PAC ≥ 3.000 mg/l, pH trong khoảng từ 7 đển 8 trong giai đoạn tiền xử lý. Tuy nhiên, hiệu quả loại bỏ COD và màu bắt đầu tăng rõ khi nồng độ PAC từ 1.500 mg/l trở lên. Hiệu quả loại bỏ COD và màu tương ứng là khoảng 30% và 70%. Các giá trị pH này phù hợp cho quá trình phản ứng UV/O3 được sử dụng sau giai đoạn keo tụ. Sau quá trình xử lý bằng hệ UV/O3, pH của nước rỉ rác tối ưu được xác định là 7,5 (hiệu suất xử lý COD và màu cao nhất tương ứng là 55% và 72%), thời gian phản ứng tối ưu là 80 phút
Phân tích đặc trưng quần xã tuyến trùng đất tại vùng trồng hồ tiêu (piper nigrum L.) thuộc xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước: Phân tích đặc trưng quần xã tuyến trùng đất tại vùng trồng hồ tiêu (piper nigrum L.) thuộc xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
Pepper (Piper nigrum L.) is a high economic value plant species that brings the main income to the people at Loc Hung commune. So the pepper’s yield plays a significant role in people’s life in this region. To assess the influence of environmental factors on the growth and development of pepper, we need to analyse the structural characteristics of soil nematode communities in order to promptly detect the levels of parasitic nematodes infection as well as assessment of soil environment status based on nematode communities. Study results at five sampling stations are analyses of 30 genera of nematodes belonging to 6 major trophic groups (bacterial feeders, fungal feeders, algal feeders, omnivores, carnivores and plant parasites). Calculation results of indices such as SUM(MI), SUM(MI2-5), MI and PPI showed that soil nematodes community is very little affected by the bacteria feeder group and the rate of parasitic nematode pepper quite severe. Analysis of correlation between trophic groups showed that nematodes are sensitive to environmental factors. This means the potential use of nematodes as a biological indicator for soil quality is possible.
Hồ tiêu (Piper nigrum L.) là cây trồng có giá trị kinh tế cao và là nguồn thu nhập chính của người dân tại xã Lộc Hưng. Do đó, năng suất cây tiêu có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống người dân trong vùng. Để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên sự sinh trưởng và phát triển của cây tiêu, cần phải phân tích đặc trưng cấu trúc quần xã tuyến trùng đất của vùng nhằm phát hiện kịp thời mức độ nhiễm tuyến trùng ký sinh trên hồ tiêu cũng như đánh giá nhanh hiện trạng môi trường đất dựa trên quần xã tuyến trùng. Kết quả nghiên cứu tại 5 điểm thu mẫu phân tích được 30 giống tuyến trùng thuộc 6 nhóm dinh dưỡng chính (ăn vi khuẩn, ăn nấm, ăn tảo, ăn tạp, ăn thịt và ký sinh thực vật). Kết quả tính toán các chỉ số ∑MI, ∑MI2-5, MI và PPI cho thấy quần xã tuyến trùng đất ở đây rất ít chịu ảnh hưởng của nhóm ăn vi khuẩn và tỷ lệ hồ tiêu nhiễm ký sinh khá nặng. Phân tích tương quan giữa các nhóm dinh dưỡng cho thấy tuyến trùng khá nhạy cảm với các yếu tố môi trường, điều này cho thấy tiềm năng sử dụng tuyến trùng như một sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường đất.Hồ tiêu (Piper nigrum L.) là cây trồng có giá trị kinh tế cao và là nguồn thu nhập chính của người dân tại xã Lộc Hưng. Do đó, năng suất cây tiêu có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống người dân trong vùng. Để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên sự sinh trưởng và phát triển của cây tiêu, cần phải phân tích đặc trưng cấu trúc quần xã tuyến trùng đất của vùng nhằm phát hiện kịp thời mức độ nhiễm tuyến trùng ký sinh trên hồ tiêu cũng như đánh giá nhanh hiện trạng môi trường đất dựa trên quần xã tuyến trùng. Kết quả nghiên cứu tại 5 điểm thu mẫu phân tích được 30 giống tuyến trùng thuộc 6 nhóm dinh dưỡng chính (ăn vi khuẩn, ăn nấm, ăn tảo, ăn tạp, ăn thịt và ký sinh thực vật). Kết quả tính toán các chỉ số ∑MI, ∑MI2-5, MI và PPI cho thấy quần xã tuyến trùng đất ở đây rất ít chịu ảnh hưởng của nhóm ăn vi khuẩn và tỷ lệ hồ tiêu nhiễm ký sinh khá nặng. Phân tích tương quan giữa các nhóm dinh dưỡng cho thấy tuyến trùng khá nhạy cảm với các yếu tố môi trường, điều này cho thấy tiềm năng sử dụng tuyến trùng như một sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường đất
Tách dòng và xác định trình tự gen endo-1,4-β – glucanase từ chủng vi khuẩn Bacillus sp VLSH08 ứng dụng để thủy phân sinh khối: Tách dòng và xác định trình tự gen endo-1,4-β – glucanase từ chủng vi khuẩn Bacillus sp VLSH08 ứng dụng để thủy phân sinh khối
Bacillus sp VLSH08 screened from sea wetland in Nam Dinh province produces an extracellular endo-1,4-beta-glucanase. According to the results of the classified Kit API 50/CHB as well as sequence of 1500 bp fragment coding for 16S rRNA gene of the Bacillus sp VLSH 08 strain showed that the taxonomical characteristics between the strain VLSH 08 and Bacillus amyloliquefaciene JN999857 are similar of 98%. Culture supernatant of this strain showed optimal cellulase activity at pH 5.8 and 60°C and that was enhanced 2.03 times in the presence of 5 mM Co2+. Moreover, the gene encoding endo-1,4-beta-glucanase from this strain was cloned in Escherichia coli using pCR2.1 vector. The entire gene for the enzyme contained a 1500-bp single open reading frame encoding 500 amino acids, including a 29-amino acid signal peptide. The amino acid sequence of this enzyme is very close to that of an EG of Bacillus subtilis (EU022560.1) and an EG of Bacillus amyloliquefaciene (EU022559.1) which all belong to the cellulase family E2. A cocktail of enzyme containing this endo-1,4-beta-glucanase used for biomass hydrolysis indicated that the cellulose conversion attained to 72.76% cellulose after 48 hours.
Chủng vi khuẩn Bacillus sp VLSH08 được tuyển chọn từ tập hợp chủng vi khuẩn phân lập ở vùng ngập mặn tỉnh Nam Định có khả năng sinh tổng hợp enzyme endo-1,4-beta-glucanase ngoại bào. Kết quả phân loại chủng vi khuẩn Bacillus sp VLSH08 bằng Kit hóa sinh API 50/CHB cũng như trình tự gen mã hóa 16S rRNA cho thấy độ tương đồng của chủng Bacillus sp VLSH08 và chủng Bacillus amyloliquefaciene JN999857 đạt 98%. Dịch lên men của chủng được sử dụng làm nguồn enzyme thô để nghiên cứu hoạt độ tối ưu của enzyme ở pH 5,8 và nhiệt đô 60°C. Hoạt tính enzyme tăng 2,03 lần khi có mặt 5 mM ion Co2+. Đồng thời, gen mã hóa cho enzyme endo-1,4-beta-glucanase cũng được tách dòng trong tế bào Escherichia coli sử dụng vector pCR 2.1. Gen mã hóa cho enzyme này có chiều dài 1500 bp, mã hóa cho 500 axit amin, bao gồm 29 axit amin của chuỗi peptid tín hiệu. So sánh cho thấy trình tự gen endo-1,4-beta-glucanase của chủng Bacillus sp VLSH08 có độ tương đồng cao với enzyme này của chủng Bacillus subtilis (EU022560.1) và của chủng Bacillus amyloliquefaciene (EU022559.1). Tất cả các enzyme nhóm này đều thuộc họ cellulase E2. Enzyme của chủng này cũng đã được phối trộn với các enzyme khác tạo thành cocktail để thủy phân sinh khối cho kết quả cellulose bị thủy phân 72,76% sau 48 giờ.Chủng vi khuẩn Bacillus sp VLSH08 được tuyển chọn từ tập hợp chủng vi khuẩn phân lập ở vùng ngập mặn tỉnh Nam Định có khả năng sinh tổng hợp enzyme endo-1,4-beta-glucanase ngoại bào. Kết quả phân loại chủng vi khuẩn Bacillus sp VLSH08 bằng Kit hóa sinh API 50/CHB cũng như trình tự gen mã hóa 16S rRNA cho thấy độ tương đồng của chủng Bacillus sp VLSH08 và chủng Bacillus amyloliquefaciene JN999857 đạt 98%. Dịch lên men của chủng được sử dụng làm nguồn enzyme thô để nghiên cứu hoạt độ tối ưu của enzyme ở pH 5,8 và nhiệt đô 60oC. Hoạt tính enzyme tăng 2,03 lần khi có mặt 5 mM ion Co2+. Đồng thời, gen mã hóa cho enzyme endo-1,4-beta-glucanase cũng được tách dòng trong tế bào Escherichia coli sử dụng vector pCR 2.1. Gen mã hóa cho enzyme này có chiều dài 1500 bp, mã hóa cho 500 axit amin, bao gồm 29 axit amin của chuỗi peptid tín hiệu. So sánh cho thấy trình tự gen endo-1,4-beta-glucanase của chủng Bacillus sp VLSH08 có độ tương đồng cao với enzyme này của chủng Bacillus subtilis (EU022560.1) và của chủng Bacillus amyloliquefaciene (EU022559.1). Tất cả các enzyme nhóm này đều thuộc họ cellulase E2. Enzyme của chủng này cũng đã được phối trộn với các enzyme khác tạo thành cocktail để thủy phân sinh khối cho kết quả cellulose bị thủy phân 72,76% sau 48 giờ
Thiết kế hệ thống quản lý giám sát các phương tiện vận chuyển chất thải rắn trên mỏ than lộ thiên: Thiết kế hệ thống quản lý giám sát các phương tiện vận chuyển chất thải rắn trên mỏ than lộ thiên
Today, solid waste management in coal mines is an urgent requirement for the coal mining industry. The overlying materials removed from a seam of coal are solid wastes transported to dumping sites and should be strictly, efficiently managed and monitored by an automatic system. These wastes must be separated for use as leveling and filling materials or residue materials need to be processed in order to minimize the impact on the environment. The system was designed to manage and monitor vehicles transporting solid waste in open coal mines to force them in tasks of taking solid wastes and giving out these wastes in the right places, to help collect and process suitably. The results showed that the calculation of numbers of trips using the software program named "Management of trucks" achieved the statistics of running trucks between the points of removing wastes and dumping sites, in which the numbers of valid and invalid trips were given out. The monitoring process obtained the statistics of active and inactive total time of vehicles transporting solid waste. From that we can calculate and classify them at each dumping site. In addition, the statistics of productivity of power-shovels, fuel consumption levels of excavators and trucks were also gained.
Hiện nay quản lý chất thải rắn tại các mỏ than là một yêu cầu cấp bách đối với ngành khai thác than. Các chất thải khi bóc vỉa được chở đến các bãi đổ cần có một hệ thống quản lý giám sát chặt chẽ. Những chất thải này phải được phân loại để làm vật liệu san lấp hoặc vật liệu cần xử lý nhằm giảm thiểu các tác động tới môi trường. Hệ thống được thiết kế có nhiệm vụ quản lý và giám sát các xe chở chất thải trong quá trình khai thác tại các mỏ lộ thiên, đảm bảo các phương tiện này được xúc và đổ đúng nơi quy định, giúp thu gom, xử lý một cách phù hợp. Kết quả cho thấy rằng việc tính toán số lượng các chuyến xe bằng cách sử dụng chương trình phần mềm có tên là "Quản lý xe tải" thu được các số liệu thống kê xe chạy giữa các điểm xúc chất thải và các điểm đổ, trong đó thống kê được số lượng các chuyến đi hợp lệ và không hợp lệ. Quá trình giám sát thu được các số liệu thống kê của tổng thời gian hoạt động và không hoạt động của các phương tiện vận chuyển chất thải rắn. Từ đó chúng tôi có thể tính toán và phân loại chúng ở mỗi điểm đổ chất thải. Ngoài ra, cũng thu được các số liệu thống kê năng suất hoạt động của máy xúc, mức tiêu thụ nhiên liệu của máy xúc và xe tải.Hiện nay quản lý chất thải rắn tại các mỏ than là một yêu cầu cấp bách đối với ngành khai thác than. Các chất thải khi bóc vỉa được chở đến các bãi đổ cần có một hệ thống quản lý giám sát chặt chẽ. Những chất thải này phải được phân loại để làm vật liệu san lấp hoặc vật liệu cần xử lý nhằm giảm thiểu các tác động tới môi trường. Hệ thống được thiết kế có nhiệm vụ quản lý và giám sát các xe chở chất thải trong quá trình khai thác tại các mỏ lộ thiên, đảm bảo các phương tiện này được xúc và đổ đúng nơi quy định, giúp thu gom, xử lý một cách phù hợp. Kết quả cho thấy rằng việc tính toán số lượng các chuyến xe bằng cách sử dụng chương trình phần mềm có tên là "Quản lý xe tải" thu được các số liệu thống kê xe chạy giữa các điểm xúc chất thải và các điểm đổ, trong đó thống kê được số lượng các chuyến đi hợp lệ và không hợp lệ. Quá trình giám sát thu được các số liệu thống kê của tổng thời gian hoạt động và không hoạt động của các phương tiện vận chuyển chất thải rắn. Từ đó chúng tôi có thể tính toán và phân loại chúng ở mỗi điểm đổ chất thải. Ngoài ra, cũng thu được các số liệu thống kê năng suất hoạt động của máy xúc, mức tiêu thụ nhiên liệu của máy xúc và xe tải
Nghiên cứu sự biến đổi một số thành phần hóa học của mùn vụn gỗ phế thải trong quá trình tạo phân bón hữu cơ vi sinh: Nghiên cứu sự biến đổi một số thành phần hóa học của mùn vụn gỗ phế thải trong quá trình tạo phân bón hữu cơ vi sinh
This paper presents the research results of treatment solution of wood waste of Acacia and Eucalyptus in making of bioorganic fertilizers for the effective utilization of plant biomass resources and minimization of environmental pollution. The conversion cycles of the basic chemical compounds of wood waste in composting process were established by two biological products: Biomix and Compost Maker. Research results have shown that, under the action of microorganisms, all basic chemical compounds were modified (among them cellulose was most powerfully modified) whereas lignin, extractives dissolved in ethanol were less destructed. Within about first 75 days of composting, the conversion of the above mentioned compounds is negligible. With the time of composting from 105 days to 120 days, in total over of 70% of cellulose was conversed into compounds dissolved in water and in 1% NaOH solution. The optimal composting time was about 105 days. In this case, the fertilizer obtained was humified, had dark colour and could be used for planting and soil improvement purposes.
Bài báo này trình bày các kết quả nghiên cứu giải pháp xử lý mùn vụn gỗ phế thải của gỗ Keo và Bạch đàn thành phân bón hữu cơ vi sinh, nhằm tận dụng hiệu quả nguồn sinh khối thực vật và giảm thiểu ô nhiễm môitrường. Đã xác lập được một số quy luật biến đổi của các thành phần hóa học cơ bản của mùn vụn gỗ trong quá trình ủ compost bằng hai chế phẩm vi sinh Biomix và Com-post Maker, để tạo phân bón hữu cơ vi sinh. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, dưới tác dụng của vi sinh vật, tất cả các thành phần hóa học cơ bản của mùn vụn gỗ đều bị biến đổi, trong đó xenluloza bị biến đổi mạnh nhất, lignin và các chất trích ly bằng etanol ít bị phân hủy hơn.Trong vòng khoảng 75 ngày ủ đầu tiên, sự biến đổi của các thành phần nêu trên là không đáng kể. Với thời gian ủ từ 105ngày đến 120 ngày, tổng cộng có trên 70% xenluloza bị phân hủy thành các hợp chất dễ tan trong nước và dung dịch NaOH 1%. Thời gian ủ thích hợp là khoảng 105 ngày. Trong trường hợp này, phân bón thu được đã bị mùn hóa, có mầu sẫm và có thể sử dụng cho mụcđích trồng trọt và cải tạo đất.Bài báo này trình bày các kết quả nghiên cứu giải pháp xử lý mùn vụn gỗ phế thải của gỗ Keo và Bạch đàn thành phân bón hữu cơ vi sinh, nhằm tận dụng hiệu quả nguồn sinh khối thực vật và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Đã xác lập được một số quy luật biến đổi của các thành phần hóa học cơ bản của mùn vụn gỗ trong quá trình ủ compost bằng hai chế phẩm vi sinh Biomix và Compost Maker, để tạo phân bón hữu cơ vi sinh. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, dưới tác dụng của vi sinh vật, tất cả các thành phần hóa học cơ bản của mùn vụn gỗ đều bị biến đổi, trong đó xenluloza bị biến đổi mạnh nhất, lignin và các chất trích ly bằng etanol ít bị phân hủy hơn. Trong vòng khoảng 75 ngày ủ đầu tiên, sự biến đổi của các thành phần nêu trên là không đáng kể. Với thời gian ủ từ 105 ngày đến 120 ngày, tổng cộng có trên 70% xenluloza bị phân hủy thành các hợp chất dễ tan trong nước và dung dịch NaOH 1%. Thời gian ủ thích hợp là khoảng 105 ngày. Trong trường hợp này, phân bón thu được đã bị mùn hóa, có mầu sẫm và có thể sử dụng cho mục đích trồng trọt và cải tạo đất
Nghiên cứu, phát triển thiết bị tự hành làm sạch nước trong vuông tôm sử dụng năng lượng mặt trời: Nghiên cứu, phát triển thiết bị tự hành làm sạch nước trong vuông tôm sử dụng năng lượng mặt trời
Limited water exchange shrimp culture technology is commonly used today in many shrimp farms in Vietnam to reduce water usage, input of diseases and discharge of nutrient-rich effluents into environment as well as to increase the production per unit area. However, a remaining problem in this technology is that the water quality in shrimp ponds will be reduced due to limitation of water exchange for a long period. The accumulation of inorganic components such as waste feed, bacterial deposits or other biological debris at the pond bottom will lead to low dissolved oxygen, high ammonia-nitrogen level, high fecal coliform bacteria and high turbidity which cause a severe degradation of water quality and detriment to shrimp growth and survival. To solve this remaining problem, an autonomous water-cleaning machine for shrimp ponds was designed to control the waste accumulation in the pond. This is an effective solution to replace manual cleaning methods for water quality management in shrimp farming in the coastal area of the Mekong delta of Vietnam. Especially, this technique can be used for biosecure shrimp production systems according to GMP standards to meet the objectives for sustainable development of shrimp aquaculture in Vietnam.
Kỹ thuật nuôi tôm không thay nước đang được sử dụng rộng rãi ở các trại nuôi tôm Việt Nam vì giúp giảm lượng nước sử dụng, hạn chế thải nước vào môi trường và giúp tăng diện tích nuôi trồng tôm. Tuy nhiên, bản thân kỹ thuật này cũng tạo nên một sản phẩm chất thải là phân tôm, thức ăn và chế phẩm sinh học xử lý nước dư thừa. Chất thải này dần dần tích tụ dưới đáy ao tạo thành lớp bùn độc, rất thiếu ôxy và chứa nhiều chất gây hại như ammonia, nitrite, hydrogen sul-fide. Để tránh làm giảm diện tích ao nuôi do chất thải tích tụ làm tôm lảng tránh và tăng mật độ tôm nuôi trồng, thiết bị tự hành thu gom chất thải làm sạch nước trong vuông nuôi tôm đã được nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thành công. Thiết bị đã thay thế các hoạt động làm sạch chất thải thủ công của con người, không sử dụng các nguồn năng lượng gây ô nhiễm, giảm nhu cầu về điện góp phần phát triển sản xuất tôm sạch đạt chuẩn GMP và phát triển bền vững ở các tỉnh ven biển miền Tây Việt Nam.Kỹ thuật nuôi tôm không thay nước đang được sử dụng rộng rãi ở các trại nuôi tôm Việt Nam vì giúp giảm lượng nước sử dụng, hạn chế thải nước vào môi trường và giúp tăng diện tích nuôi trồng tôm. Tuy nhiên, bản thân kỹ thuật này cũng tạo nên một sản phẩm chất thải là phân tôm, thức ăn và chế phẩm sinh học xử lý nước dư thừa. Chất thải này dần dần tích tụ dưới đáy ao tạo thành lớp bùn độc, rất thiếu ôxy và chứa nhiều chất gây hại như ammonia, nitrite, hydrogen sulfide. Để tránh làm giảm diện tích ao nuôi do chất thải tích tụ làm tôm lảng tránh và tăng mật độ tôm nuôi trồng, thiết bị tự hành thu gom chất thải làm sạch nước trong vuông nuôi tôm đã được nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thành công. Thiết bị đã thay thế các hoạt động làm sạch chất thải thủ công của con người, không sử dụng các nguồn năng lượng gây ô nhiễm, giảm nhu cầu về điện góp phần phát triển sản xuất tôm sạch đạt chuẩn GMP và phát triển bền vững ở các tỉnh ven biển miền Tây Việt Nam