Journal of Vietnamese Environment
Not a member yet
    249 research outputs found

    Thiết kế, chế tạo hệ thống tự động giám sát thủy văn cho nhà máy thủy điện: Thiết kế, chế tạo hệ thống tự động giám sát thủy văn cho nhà máy thủy điện

    Get PDF
    Nowadays, the management of parameters measured at the power plants is an urgent requirement for each country. The automatic systems measuring process parameters of hydropower plants as well as water management systems have been applied and flourished in the developed countries. Some important parameters of the hydro plants such as rainfall, level of river, level of water reservoir, flow rate of water in canals and rivers, as well as parameters related to safety dams are measured by sensors, processed suitably and sent to the management centre. In Vietnam and Laos so far most hydropower plants do not have an automatic data monitoring system and most parameters are transmitted manually, which is very time consuming and difficult to implement. Therefore, this paper introduces a new real-time, automatic system to overcome these problems. The design includes features such as automatic collecting, processing and transmitting data to the monitoring and management centre. Besides regulating water resources and capacity of the plant to reach the highest efficiency, the parameters of the system also help to assess impact, manage and monitor the environment. The device was designed, created, and used as visualization tool for teaching purposes in the Faculty of Electrical and Electronic Engineering, University of Transport and Communications in Vietnam, and installed as a technology transfer program in the Theun Hinboun hydropower plant, Na Hin village, Borikhamxai province, Lao People\u27s Democratic Republic. Hiện nay việc quản lý tham số đo đạc tại các nhà máy thủy điện là một yêu cầu cấp bách đối với mỗi quốc gia. Các hệ thống tự động hóa đo các tham số của nhà máy thủy điện cũng như các hệ thống quản lý nguồn nước đã được ứng dụng và phát triển mạnh mẽ ở các nước phát triển. Một số tham số quan trọng của nhà máy thủy điện như lượng mưa, mực nước sông, mực nước hồ chứa, tốc độ của dòng chảy của nước trên các kênh và trên sông, cũng như các tham số liên quan đến độ an toàn của đập, kè bao đều được đo bởi các cảm biến, sau đó được xử lý một cách phù hợp và được đưa về trung tâm quản lý. Tại Việt Nam và Lào cho đến nay hầu hết các nhà máy thủy điện không có hệ thống giám sát dữ liệu tự động và hầu hết các thông số được truyền một cách thủ công rất tốn thời gian và khó khăn để thực hiện. Vì vậy, bài viết này giới thiệu một hệ thống mới tự động thời gian thực nhằm khắc phục những vấn đề này. Hệ thống thiết kế có một số tính năng như tự động thu thập, xử lý dữ liệu và truyền dữ liệu về trung tâm quản lý giám sát. Ngoài việc điều tiết nguồn nước cũng như công suất của nhà máy sao cho đạt hiệu quả cao nhất, các thông số của hệ thống còn giúp đánh giá tác động và quản lý giám sát môi trường. Thiết bị đã được thiết kế, chế tạo thành công, được sử dụng làm công cụ trực quan phục vụ giảng dạy tại khoa Điện-Điện tử trường Đại học Giao thông Vận tải, Việt Nam và được chuyển giao lắp đặt cho nhà máy thủy điện Theun Hinboun, bản Na Hin thuộc tỉnh Borikhamxai, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.Hiện nay việc quản lý tham số đo đạc tại các nhà máy thủy điện là một yêu cầu cấp bách đối với mỗi quốc gia. Các hệ thống tự động hóa đo các tham số của nhà máy thủy điện cũng như các hệ thống quản lý nguồn nước đã được ứng dụng và phát triển mạnh mẽ ở các nước phát triển. Một số tham số quan trọng của nhà máy thủy điện như lượng mưa, mực nước sông, mực nước hồ chứa, tốc độ của dòng chảy của nước trên các kênh và trên sông, cũng như các tham số liên quan đến độ an toàn của đập, kè bao đều được đo bởi các cảm biến, sau đó được xử lý một cách phù hợp và được đưa về trung tâm quản lý. Tại Việt Nam và Lào cho đến nay hầu hết các nhà máy thủy điện không có hệ thống giám sát dữ liệu tự động và hầu hết các thông số được truyền một cách thủ công rất tốn thời gian và khó khăn để thực hiện. Vì vậy, bài viết này giới thiệu một hệ thống mới tự động thời gian thực nhằm khắc phục những vấn đề này. Hệ thống thiết kế có một số tính năng như tự động thu thập, xử lý dữ liệu và truyền dữ liệu về trung tâm quản lý giám sát. Ngoài việc điều tiết nguồn nước cũng như công suất của nhà máy sao cho đạt hiệu quả cao nhất, các thông số của hệ thống còn giúp đánh giá tác động và quản lý giám sát môi trường. Thiết bị đã được thiết kế, chế tạo thành công, được sử dụng làm công cụ trực quan phục vụ giảng dạy tại khoa Điện-Điện tử trường Đại học Giao thông Vận tải, Việt Nam và được chuyển giao lắp đặt cho nhà máy thủy điện Theun Hinboun, bản Na Hin thuộc tỉnh Borikhamxai, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

    Sự phân bố của quần xã tuyến trùng sống tự do ở 8 cửa sông Mekong theo mùa: Sự phân bố của quần xã tuyến trùng sống tự do ở 8 cửa sông Mekong theo mùa

    Get PDF
    The temporal variation of nematode communities in eight mouth stations of the Mekong River system was investigated in order to compare the change between the dry and the wet season. The nematode data was analysed by multivariate techniques such as SIMPROF, MDS, ANOSIM and SIMPER in the software PRIMER v.6 – PERMANOVA.  Our results showed that average dissimilarity between seasons of the nematode communities in each station was high. Seasonal factor did not affect strongly their distribution pattern. Dominant genera Desmodora and Oncholaimellus usually occurred in the sand stations and Parodontophora and Halalaimus were characteristic for the silty group in both seasons. The spatial variations in this estuarine area have an influence that is larger than seasonal factors. Sự phân bố theo thời gian của quần xã tuyến trùng sống tự do vùng cửa sông Mekong được nghiên cứu nhằm đánh giá sự khác biệt của chúng trong mùa mưa và mùa khô. Dữ liệu của tuyến trùng được xử lý và phân tích đa biến như SIMPROF, MDS, ANOSIM và SIMPER bằng phần mềm PRIMER v.6 – PERMANOVA. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt theo mùa trong quần xã tuyến trùng tại mỗi điểm là khá lớn nhưng yếu tố mùa không ảnh hưởng gì tới mô hình phân bố của chúng. Một số giống ưu thế trong nền đáy cát như Desmodora and Oncholaimellus trong khi đó Parodontophora và Halalaimus thích nghi nền bùn sét phù sa vẫn hiễn diện trong cả 2 mùa. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự biến động trong không gian ở đây lớn hơn sự biến động về mùa vụ.Sự phân bố theo thời gian của quần xã tuyến trùng sống tự do vùng cửa sông Mekong được nghiên cứu nhằm đánh giá sự khác biệt của chúng trong mùa mưa và mùa khô. Dữ liệu của tuyến trùng được xử lý và phân tích đa biến như SIMPROF, MDS, ANOSIM và SIMPER bằng phần mềm PRIMER v.6 – PERMANOVA. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt theo mùa trong quần xã tuyến trùng tại mỗi điểm là khá lớn nhưng yếu tố mùa không ảnh hưởng gì tới mô hình phân bố của chúng. Một số giống ưu thế trong nền đáy cát như Desmodora and Oncholaimellus trong khi đó Parodontophora và Halalaimus thích nghi nền bùn sét phù sa vẫn hiễn diện trong cả 2 mùa. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự biến động trong không gian ở đây lớn hơn sự biến động về mùa vụ

    Phương pháp tư duy hệ thống trong nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành chăn nuôi: Phương pháp tư duy hệ thống trong nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành chăn nuôi

    Get PDF
    The impacts of climate change on livestock production are complex problems, existing in the relationship among this sector and others sectors such as environmental, social, economic and political systems. The complexity and dynamic of these impacts cannot be solved simply in isolation with the linear approach. A system thinking methodology is introduced in this paper to understand the impacts of climate change on livestock production, and identify effective interventions strategies to address this systemic problem. System thinking is a way of thinking about the world and relationships which has been developed far along way in the past. Today, systems thinking has become increasingly popular because it provides a \u27new way of thinking\u27 to understand and manage complex problems, whether they rest within a local or global context. While four levels of thinking is a fundamental tool to identify systemic problems, Causal Loop Diagram (CLD) is a visual tool created by a computer program to illustrate the whole picture of climate change impacts. CLD consist of feedbacks for system, which help strategists identify appropriate intervention strategies in solving the systemic problem. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành chăn nuôi là một trong những vấn đề phức tạp, bởi mối quan hệ chặt chẽ có hệ thống của chúng với các lĩnh vực khác như môi trường, xã hội, kinh tế và chính trị. Những tác động phức tạp đa chiều này không thể giải quyết đơn thuần bằng các giải pháp mang tính đơn lẻ. Phương pháp tư duy hệ thống được giới thiệu trong bài này cho phép hiểu đầy đủ, có hệ thống các tác động của biến đổi khí hậu đến ngành chăn nuôi, đồng thời xác định được những giải pháp chiến lược phù hợp để giải quyết vấn đề mang tính hệ thống này. Tư duy hệ thống là cách tư duy và tiếp cận với sự vật, hiện tượng khách quan, và các mối quan hệ của chúng, phương pháp này đã được nghiên cứu và phát triển từ xa xưa. Ngày nay, tư duy hệ thống đang được ứng dụng phổ biến và rộng rãi hơn trong các nghiên cứu phát triển bền vững vì phương pháp này cung cấp một “tư duy mới” để hiểu và quản lý được các vấn đề phức tạp, dù chúng ở qui mô địa phương hay trên phạm vi toàn cầu. Trong đó, bốn cấp bậc của tư duy là công cụ cơ bản để nhận biết các vấn đề phức tạp, và sơ đồ các vòng tròn tác động (CLD) là công cụ trực quan được xây dựng bằng phần mềm máy tính để chỉ ra bức tranh toàn cảnh các tác động của biến đổi khí hậu. Các vòng tròn tác động này phản ánh các diễn biến thực tế và các thông tin giúp cho việc xác định các giải pháp chiến lược.Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành chăn nuôi là một trong những vấn đề phức tạp, bởi mối quan hệ chặt chẽ có hệ thống của chúng với các lĩnh vực khác như môi trường, xã hội, kinh tế và chính trị. Những tác động phức tạp đa chiều này không thể giải quyết đơn thuần bằng các giải pháp mang tính đơn lẻ. Phương pháp tư duy hệ thống được giới thiệu trong bài này cho phép hiểu đầy đủ, có hệ thống các tác động của biến đổi khí hậu đến ngành chăn nuôi, đồng thời xác định được những giải pháp chiến lược phù hợp để giải quyết vấn đề mang tính hệ thống này. Tư duy hệ thống là cách tư duy và tiếp cận với sự vật, hiện tượng khách quan, và các mối quan hệ của chúng, phương pháp này đã được nghiên cứu và phát triển từ xa xưa. Ngày nay, tư duy hệ thống đang được ứng dụng phổ biến và rộng rãi hơn trong các nghiên cứu phát triển bền vững vì phương pháp này cung cấp một “tư duy mới” để hiểu và quản lý được các vấn đề phức tạp, dù chúng ở qui mô địa phương hay trên phạm vi toàn cầu. Trong đó, bốn cấp bậc của tư duy là công cụ cơ bản để nhận biết các vấn đề phức tạp, và sơ đồ các vòng tròn tác động (CLD) là công cụ trực quan được xây dựng bằng phần mềm máy tính để chỉ ra bức tranh toàn cảnh các tác động của biến đổi khí hậu. Các vòng tròn tác động này phản ánh các diễn biến thực tế và các thông tin giúp cho việc xác định các giải pháp chiến lược

    Áp dụng quần xã động vật đáy cỡ trung bình và tuyến trùng như là công cụ cho quan trắc và đánh giá môi trường cửa sông Cửu Long: Áp dụng quần xã động vật đáy cỡ trung bình và tuyến trùng như là công cụ cho quan trắc và đánh giá môi trường cửa sông Cửu Long

    Get PDF
    The Mekong estuarine system is a sensitive region which is strongly effected from economic activities in the south Vietnam. This ecosystem is not only impacted by anthropogenic factors but also known as one of severely affected areas by climate change. The issue of environmental management in this estuarine system is very important and necessary. Many coastal provinces in the Mekong delta have awareness of environmental estuarine management to set up bio-monitoring programs for water and ecological quality. However, there is no province including meiobenthos or nematode communities in environmental bio-monitoring while they are clearly proven to be a helpful bio-indicator. This paper concerns to some baseline data of meiobenthos and nematode communities in this region to recommend applying nematode in meiobenthos communities for environmental bio – monitoring and management in the Mekong estuarine area. Hệ thống cửa sông Cửu Long là vùng sinh thái nhạy cảm và đang chịu tác động mạnh mẽ từ các hoạt động kinh tế ven biển của các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Hệ sinh thái khu vực này không những bị ảnh hưởng trực tiếp từ con người mà còn được biết đến như một trong những khu vực bị tác động nặng nề bởi biến đổi khí hậu. Vấn đề về quản lý môi trường ở hệ thống cửa sông này đã hết sức cần thiết. Các tỉnh trong khu vực ven biển đồng bằng Sông Cửu Long cũng đã ý thức được tính nguy cấp trong công tác quản lý môi trường cửa sông ven biển và xây dụng các chương trình quan trắc chất lượng nước và hệ sinh thái. Tuy nhiên, hầu như chưa có tỉnh nào ven biển đồng bằng sông Cửu Long đưa động vật đáy, đặc biệt là tuyến trùng vào các chương trình quan trắc và giám sát môi trường trong khi các công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh khả năng chỉ thị chính xác của chúng. Bài viết phân tích cơ sở, các số liệu động vật đáy cỡ trung bình và tuyến trùng khuyến nghị đưa vào công tác giám sát, quản lý môi trường cửa sông ven biển đồng bằng sông Cửu Long.Hệ thống cửa sông Cửu Long là vùng sinh thái nhạy cảm và đang chịu tác động mạnh mẽ từ các hoạt động kinh tế ven biển của các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Hệ sinh thái khu vực này không những bị ảnh hưởng trực tiếp từ con người mà còn được biết đến như một trong những khu vực bị tác động nặng nề bởi biến đổi khí hậu. Vấn đề về quản lý môi trường ở hệ thống cửa sông này đã hết sức cần thiết. Các tỉnh trong khu vực ven biển đồng bằng Sông Cửu Long cũng đã ý thức được tính nguy cấp trong công tác quản lý môi trường cửa sông ven biển và xây dụng các chương trình quan trắc chất lượng nước và hệ sinh thái. Tuy nhiên, hầu như chưa có tỉnh nào ven biển đồng bằng sông Cửu Long đưa động vật đáy, đặc biệt là tuyến trùng vào các chương trình quan trắc và giám sát môi trường trong khi các công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh khả năng chỉ thị chính xác của chúng. Bài viết phân tích cơ sở, các số liệu động vật đáy cỡ trung bình và tuyến trùng khuyến nghị đưa vào công tác giám sát, quản lý môi trường cửa sông ven biển đồng bằng sông Cửu Long

    Đề án quản lý nước tích hợp cho làng nghề - Thí dụ từ làng nghề chế biến thực phẩm Đại Lâm: Đề án quản lý nước tích hợp cho làng nghề -Thí dụ từ làng nghề chế biến thực phẩm Đại Lâm

    Get PDF
    Craft villages played a significant role in the development of Vietnam’s rural economy for a long time. The range of products and production methods, including the processing of materials and chemicals, are now adapted to modern market requirements but environmental and labour protection issues are not adequately considered in the management of the craft villages. The reasons are various: poor education of responsible operators, deficient technical equipment or missing regulatory framework and implementation of existing regulations. The INHAND project (Integrated Water Management Concept for Craft Villages) started in 2011 and is studying the food processing village of Dai Lam located on the banks of the Cau River in the Bac Ninh province (about 40 km NE of the capital Hanoi). The household-scale business focus mainly on rice and cassava processing with 200 out of 1000 households producing alcohol from cassava and rice, 10 households producing tofu, and 30 households recycling aluminium. In addition, most households also raise pigs. The wastewater is released mostly untreated into the receiving stream. Within the framework of the INHAND project, four German und two Vietnamese partners will conduct a basic analysis inventory in the village with identification of suitable measure for an integrated, environmentally sound concept for the removal and reuse of all output streams. The second major task of the 3.5 years research project is the conceptualisation, development and implementation of pilot-scale treatment facilities in the village and the scientific monitoring of their planning and operation. Đã từ lâu, làng nghề đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp tại Việt Nam. Các sản phẩm và phương thức sản xuất, bao gồm cả giai đoạn xử lý vật liệu và hóa chất,đã từng bước được cải tiến cho phù hợp với yêu cầu của thị trường hiện đại. Tuy nhiên, những yếu tố về môi trường và an toàn lao động vẫn chưa được quan tâm đúng mức tại các làng nghề do nhiều nguyên nhân như: trình độ của nhà sản xuất, vận hành còn hạn hẹp, thiếu trang thiết bị kỹ thuật, các quy chuẩn còn thiếu hoặc chưa được thi hành triệt để. Dự án INHAND (đề án xử lý nước tổng thể cho làng nghề) được khởi động từ năm 2011 và hiện đang tiến hành nghiên cứu làng nghề chế biến thực phẩm Đại Lâm ,nằm bên bờ song Cầu, thuộc tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội 40 km. Mô hình kinh tế hộ gia đình tại làng chủ yếu tập trung vào chế biến gạo và sắn: 200 trong số 1000 hộ gia đình nấu rượu gạo và sắn, 10 hộ sản xuất đậu phụ, 30 hộ tái chế nhôm. Ngoài ra, gần như tất cả các hộ đều có nuôi lợn. Nước thải của làng được dẫn trực tiếp ra các khối nước mở, gần như không qua xử lý. Trong khuôn khổ dự án INHAND, bốn đối tác Đức và hai đối tác Việt Nam sẽ tiến hành phân tích hiện trạng môi trường của làng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm xử lý và tái sử dụng các dòng thải. Nhiệm vụ thứ hai trong thời gian 3,5 năm của dự án là lập ra đề án, phát triển và triển khai các trạm xử lý ở quy mô thử nghiệm, đồng thời quan trắc khoa học các quá trình thiết kế và vận hành.Đã từ lâu, làng nghề đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp tại Việt Nam. Các sản phẩm và phương thức sản xuất, bao gồm cả giai đoạn xử lý vật liệu và hóa chất, đã từng bước được cải tiến cho phù hợp với yêu cầu của thị trường hiện đại. Tuy nhiên, những yếu tố về môi trường và an toàn lao động vẫn chưa được quan tâm đúng mức tại các làng nghề do nhiều nguyên nhân như: trình độ của nhà sản xuất, vận hành còn hạn hẹp, thiếu trang thiết bị kỹ thuật, các quy chuẩn còn thiếu hoặc chưa được thi hành triệt để. Dự án INHAND (đề án xử lý nước tổng thể cho làng nghề) được khởi động từ năm 2011 và hiện đang tiến hành nghiên cứu làng nghề chế biến thực phẩm Đại Lâm ,nằm bên bờ song Cầu, thuộc tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội 40 km. Mô hình kinh tế hộ gia đình tại làng chủ yếu tập trung vào chế biến gạo và sắn: 200 trong số 1000 hộ gia đình nấu rượu gạo và sắn, 10 hộ sản xuất đậu phụ, 30 hộ tái chế nhôm. Ngoài ra, gần như tất cả các hộ đều có nuôi lợn. Nước thải của làng được dẫn trực tiếp ra các khối nước mở, gần như không qua xử lý. Trong khuôn khổ dự án INHAND, bốn đối tác Đức và hai đối tác Việt Nam sẽ tiến hành phân tích hiện trạng môi trường của làng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm xử lý và tái sử dụng các dòng thải. Nhiệm vụ thứ hai trong thời gian 3,5 năm của dự án là lập ra đề án, phát triển và triển khai các trạm xử lý ở quy mô thử nghiệm, đồng thời quan trắc khoa học các quá trình thiết kế và vận hành

    Thu hồi năng lượng từ quá trình ủ yếm khí kết hợp phân heo và rơm sau ủ nấm ở đồng bằng sông Cửu Long: Thu hồi năng lượng từ quá trình ủ yếm khí kết hợp phân heo và rơm sau ủ nấm ở đồng bằng sông Cửu Long

    Get PDF
    This study aimed at seeking for the solution to recover the energy from agriculture waste in the Mekong Delta, Vietnam. The spent mushroom compost - a residue from the mushroom growing - was chosen for co-digestion with pig manure in anaerobic batch and semi-continuous experiments. The results showed that in case of spent mushroom compost made up 75% of the mixed substrate, the gained biogas volume was not significantly different compared to the treatment fed solely with 100% pig manure. The average produced biogas was 4.1 L×day-1 in the experimental conditions. The semi-continuous experiments remained in good operation up to the 90th day of the fermentation without any special agitating method application. The methane contents in both experiments were around 60%, which was significantly suitable for energy purposes. These results confirm that spent mushroom compost is possibly an acceptable material for energy recovery in the anaerobic fermentation process. Nghiên cứu này nhằm tìm kiếm giải pháp thu hồi năng lượng từ chất thải nông nghiệp tại ĐBSCL, Việt Nam. Rơm sau ủ nấm -phế phẩm sau khi trồng nấm rơm -được chọn để ủ kết hợp với phân heo trong các bộ ủ yếm khí theo mẻ và bán liên tục. Kết quả cho thấy nếu phối trộn đến 75% rơm sau ủ nấm trong nguyên liệu ủ, tổng lượng khí thu được không khác biệt đáng kể so với thí nghiệm ủ 100% phân heo. Trong điều kiện thí nghiệm, lượng khí thu được trung bình là 4.1 L.ngày-1. Thí nghiệm ủ bán liên tục vẫn vận hành tốt ở ngày thứ 90 mặc dù mẻ ủ không được khuấy đảo. Hàm lượng khí mê-tan đo được chiếm khoảng 60% hoàn toàn cóthể sử dụng cho các nhu cầu về năng lượng. Những kết quả thí nghiệm khẳng định có thể sử dụng rơm sau ủ nấm để thu hồi năng lượng thông qua quá trình ủ yếm khí kết hợp.Nghiên cứu này nhằm tìm kiếm giải pháp thu hồi năng lượng từ chất thải nông nghiệp tại ĐBSCL, Việt Nam. Rơm sau ủ nấm - phế phẩm sau khi trồng nấm rơm - được chọn để ủ kết hợp với phân heo trong các bộ ủ yếm khí theo mẻ và bán liên tục. Kết quả cho thấy nếu phối trộn đến 75% rơm sau ủ nấm trong nguyên liệu ủ, tổng lượng khí thu được không khác biệt đáng kể so với thí nghiệm ủ 100% phân heo. Trong điều kiện thí nghiệm, lượng khí thu được trung bình là 4.1 L.ngày-1. Thí nghiệm ủ bán liên tục vẫn vận hành tốt ở ngày thứ 90 mặc dù mẻ ủ không được khuấy đảo. Hàm lượng khí mê-tan đo được chiếm khoảng 60% hoàn toàn có thể sử dụng cho các nhu cầu về năng lượng. Những kết quả thí nghiệm khẳng định có thể sử dụng rơm sau ủ nấm để thu hồi năng lượng thông qua quá trình ủ yếm khí kết hợp

    Giảm thiểu ô nhiễm bằng nguồn quỹ tín dụng nhỏ - Trường hợp cụ thể ở làng nghề làm bột truyền thống Tân Phú Đông: Giảm thiểu ô nhiễm bằng nguồn quỹ tín dụng nhỏ - Trường hợp cụ thể ởlàng nghề làm bột truyền thống Tân Phú Đông

    Get PDF
    This paper introduces the results of a project initiated by Cantho University (CTU) on the introduction of micro-credits for addressing the environmental pollution in Vietnam’s craft villages. At Tan Phu Dong, a traditional rice powder production village in Sa Dec, Dong Thap, all wastes from domestic and production activities and animal husbandry were freely disposed into open water sources. This practice led to a negative impact on the local environment. With the financial support provided by the Bread for the World (BfdW), a micro-credit program was initiated in which farmers could borrow money to construct a biogas plant to treat animal husbandry and domestic wastes. In addition, the staff transferred biogas plant construction technology to the local masons and organized training courses on biogas plant operation and maintenance and biogas usage for the farmers and the local officials. 61 farmers borrowed money from the program to construct their biogas plants, followed by more than 250 farmers that constructed their biogas plants by their own finance after realizing the positive benefits of biogas plants. As result, the environmental pollution issue was solved step-by-step, thereby helping enhance the living conditions of the local community. Bài báo này trình bày biện pháp sử dụng nguồn quỹ tín dụng nhỏ để các hộ dân cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề Việt Nam. Tại làng nghề làm bột Tân Phú Đông -Sa Đéc -Đồng Tháp,các loại chất thải sinh hoạt, chất thải sản xuất và chăn nuôi xả thải bừa bãi đã gây ônhiễm môi trường nghiêm trọng. Với kinh phí tài trợ từ tổ chức Bánh mỳ cho thế giới (BfdW), các cán bộ trường Đại học Cần Thơ đã tổ chức cho người dân luân phiên vay vốn để xây dựng hầm ủ khí sinh học xử lý chất thải chăn nuôi và chất thảisinh hoạt. Bên cạnh đó còn tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao công nghệ xây hầm ủ khí sinh học cho thợ xây địa phương, hướng dẫn vận hành và bảo dưỡng hầm ủ cho người dân và cán bộ địa phương. Thông qua nguồn vốn vay của dự án, có 61 hộ dân đã xây dựng hầm ủ khí sinh học và trên 250 hộ dân khác đã tự đầu tư xây dựng khi thấy được lợi ích của hầm ủ. Nhờ đó tình trạng ô nhiễm môi trường từng bước được giải quyết góp phần cải thiện điều kiện sống của người dân tại địa phương.Bài báo này trình bày biện pháp sử dụng nguồn quỹ tín dụng nhỏ để các hộ dân cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề Việt Nam. Tại làng nghề làm bột Tân Phú Đông - Sa Đéc - Đồng Tháp, các loại chất thải sinh hoạt, chất thải sản xuất và chăn nuôi xả thải bừa bãi đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Với kinh phí tài trợ từ tổ chức Bánh mỳ cho thế giới (BfdW), các cán bộ trường Đại học Cần Thơ đã tổ chức cho người dân luân phiên vay vốn để xây dựng hầm ủ khí sinh học xử lý chất thải chăn nuôi và chất thải sinh hoạt. Bên cạnh đó còn tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao công nghệ xây hầm ủ khí sinh học cho thợ xây địa phương, hướng dẫn vận hành và bảo dưỡng hầm ủ cho người dân và cán bộ địa phương. Thông qua nguồn vốn vay của dự án, có 61 hộ dân đã xây dựng hầm ủ khí sinh học và trên 250 hộ dân khác đã tự đầu tư xây dựng khi thấy được lợi ích của hầm ủ. Nhờ đó tình trạng ô nhiễm môi trường từng bước được giải quyết góp phần cải thiện điều kiện sống của người dân tại địa phương

    Ước lượng sinh khối cho tính toán lượng tích trữ các bon và hấp thụ CO¬2 ở Vườn Quốc gia Yok Đôn, Tây Nguyên Việt Nam, bằng cách sử dụng công nghệ viễn thám: Ước lượng sinh khối cho tính toán lượng tích trữ các bon và hấp thụ CO2 ở Vườn Quốc gia Yok Đôn, Tây Nguyên Việt Nam, bằng cách sử dụng công nghệ viễn thám

    Get PDF
    Global warming and climate change are closely related to the amount of CO2 in the air. Forest ecosystem plays very important role in the global carbon cycle; CO2 from the atmosphere is taken up by vegetation and stored as plant biomass. Therefore, quantifying biomass and carbon sequestration in tropical forests has a significant concern within the United Nations Framework Convention on Climate Change (UNFCC), Kyoto Protocol and Reducing Emission from Deforestation and Forest Degradation (REDD) program for the purpose of the improvement of national carbon accounting as well as for addressing the potential areas for carbon credits, basis for payment for environmental services. The aim of research is to estimate biomass and carbon stocks in tropical forests using remote sensing data for dry forest of central highlands of Vietnam. This result showed that from satellite images of the SPOT, satellites could build the land cover map, carbon map and biomass map of Yok Don National Park, Central Highlands of Vietnam. Through which also the biomass (above ground biomass and below ground biomass) of each type of forest can be calculated. For instance the biomass of the dry forest (Dry Dipterocarp Forest) is 153.49 tones x ha-1, biomass of rich forest is 343.35 tones x ha-1, biomass of medium forest is 210.34 tones x ha-1 and biomass of poor forest & scrub are 33.56 tones x ha-1. Sự ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu có liên quan chặt chẽ với tổng lượng CO2 trong không khí. Hệ sinh thái rừng có vai trò rất quan trọng trong chu trình các bon toàn cầu; khí CO2 trong khí quyển được hấp thụ bởi thảm thực vật dưới dạng sinh khối. Vì vậy, việc xác định sinh khối và car-bon tích trữ trong rừng nhiệt đới đã có được sự quan tâm đáng kể trong Công ước của Liên hiệp quốc về biến đổikhí hậu (UNFCC), Nghị định thư Kyoto và Chương trình giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng (REDD) gần đây, nhằm cho mục đích cải thiện việc tính toán lượng các bon tích trữ cũng như giải quyết các vấn đề tiềm năng cho tín dụng các bon, làm cơ sở cho việc thanh toán cho các dịch vụ môi trường. Mục đích của nghiên cứu này là ước lượng sinh khối và các bon lưu trữ trong các khu rừng nhiệt đới bằng cách sử dụng dữ liệu viễn thám, mà ở nghiên cứu này là cho rừng khộp Tây Nguyên của Việt Nam. Kết quả cho thấy rằng, từ ảnh vệ tinh SPOT có thể xây dựng bản đồ lớp phủ thực vật, bản đồ các bon và bản độ sinh khối của Vườn quốc gia Yok Đôn, Tây Nguyên Việt Nam. Qua đó đã tính toán được sinh khối (bao gồm cả trên mặt đất và dưới mặt đất) như: đối với sinh khối của rừng khô cây họ dầu (Dry Dipterocarp Forest) là 153,59 tấn/ha, sinh khối rừng giàu là 343,35 tấn/ha, sinh khối rừng trung bình là 210,34 tấn/ha và sinh khối rừng nghèo & cây bụi là 33,56 tấn/ha.Sự ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu có liên quan chặt chẽ với tổng lượng CO2 trong không khí. Hệ sinh thái rừng có vai trò rất quan trọng trong chu trình các bon toàn cầu; khí CO2 trong khí quyển được hấp thụ bởi thảm thực vật dưới dạng sinh khối. Vì vậy, việc xác định sinh khối và carbon tích trữ trong rừng nhiệt đới đã có được sự quan tâm đáng kể trong Công ước của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCC), Nghị định thư Kyoto và Chương trình giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng (REDD) gần đây, nhằm cho mục đích cải thiện việc tính toán lượng các bon tích trữ cũng như giải quyết các vấn đề tiềm năng cho tín dụng các bon, làm cơ sở cho việc thanh toán cho các dịch vụ môi trường. Mục đích của nghiên cứu này là ước lượng sinh khối và các bon lưu trữ trong các khu rừng nhiệt đới bằng cách sử dụng dữ liệu viễn thám, mà ở nghiên cứu này là cho rừng khộp Tây Nguyên của Việt Nam. Kết quả cho thấy rằng, từ ảnh vệ tinh SPOT có thể xây dựng bản đồ lớp phủ thực vật, bản đồ các bon và bản độ sinh khối của Vườn quốc gia Yok Đôn, Tây Nguyên Việt Nam. Qua đó đã tính toán được sinh khối (bao gồm cả trên mặt đất và dưới mặt đất) như: đối với sinh khối của rừng khô cây họ dầu (Dry Dipterocarp Forest) là 153,59 tấn/ha, sinh khối rừng giàu là 343,35 tấn/ha, sinh khối rừng trung bình là 210,34 tấn/ha và sinh khối rừng nghèo&cây bụi là 33,56 tấn/ha

    Tình hình xử lý nước thải sơ chế mủ cao su thiên nhiên ở vùng Đông Nam Bộ, Việt Nam: Tình hình xử lý nước thải sơ chế mủ cao su thiên nhiên ở vùng Đông Nam Bộ, Việt Nam

    Get PDF
    Rubber tree is one of the main plants which play an important role in the economy of Southeastern region, Vietnam. Approximately 90% of Vietnamese natural rubber latex is exported as raw products. The preliminary process of natural rubber latex discharges a large amount of wastewater to the environment. In Vietnam, there are many available technologies set up and operated for treatment wastewater of rubber latex processing. However, the effluent quality is still poor and the concentration of pollutants is higher than the required national technical regulation on the effluent of the natural rubber processing industry (QCVN 01:2008/BTNMT). Thus, this paper summarizes various technologies and methods currently applied for the treatment of latex processing wastewater in Vietnam. Additionally, the new effective methods being researched and applied in Thailand and Malaysia are also mentioned (countries with the highest production of natural rubber in the world). This paper also provides a screening of treatment technologies for reducing environmental pollution and contributing to high-quality effluent for meeting the required standard. Cao su là một trong những cây trồng chính và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của miền Đông Nam Bộ, Việt Nam. Sản phẩm từ cây cao su thiên nhiên tại Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu (khoảng 90%), tuy nhiên chỉ mới là dạng cao su thiên nhiên sơ chế. Quá trình sơ chế mủ cao su thiên nhiên thải bỏ một lượng lớn nước thải vào môi trường. Ở Việt Nam, hiện tại có rất nhiều công nghệ xử lý nước thải sơ chế mủ cao su đã được thiết lập và vận hành. Tuy nhiên, nồng độ ô nhiễm trong nước thải sau quá trình xử lý còn cao so với tiêu chuẩn yêu cầu (QCVN 01:2008/BTNMT). Vì vậy, bài báo này tóm tắt những công nghệ và phương pháp khác nhau được sử dụng để xử lý nước thải sơ chế mủ cao su tại Việt Nam gần đây. Thêm vào đó, những phương pháp mới và hiệu quả đang được nghiên cứu và áp dụng tại Malaysia và Thái Lan, những quốc gia có sản lượng sản xuất mủ cao su cao nhất trên thế giới cũng được giới thiệu. Bài báo này cũng cung cấp sự đa dạng của những phương pháp xử lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và góp phần đảm bảo chất lượng nước đầu ra đạt tiêu chuẩn cho phép.Cao su là một trong những cây trồng chính và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của miền Đông Nam Bộ, Việt Nam. Sản phẩm từ cây cao su thiên nhiên tại Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu (khoảng 90%), tuy nhiên chỉ mới là dạng cao su thiên nhiên sơ chế. Quá trình sơ chế mủ cao su thiên nhiên thải bỏ một lượng lớn nước thải vào môi trường. Ở Việt Nam, hiện tại có rất nhiều công nghệ xử lý nước thải sơ chế mủ cao su đã được thiết lập và vận hành. Tuy nhiên, nồng độ ô nhiễm trong nước thải sau quá trình xử lý còn cao so với tiêu chuẩn yêu cầu (QCVN 01:2008/BTNMT). Vì vậy, bài báo này tóm tắt những công nghệ và phương pháp khác nhau được sử dụng để xử lý nước thải sơ chế mủ cao su tại Việt Nam gần đây. Thêm vào đó, những phương pháp mới và hiệu quả đang được nghiên cứu và áp dụng tại Malaysia và Thái Lan, những quốc gia có sản lượng sản xuất mủ cao su cao nhất trên thế giới cũng được giới thiệu. Bài báo này cũng cung cấp sự đa dạng của những phương pháp xử lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và góp phần đảm bảo chất lượng nước đầu ra đạt tiêu chuẩn cho phép

    Sản xuất khí sinh học từ sinh khối và rác thải hữu cơ-nguyên lý và hiện trạng: Sản xuất khí sinh học từ sinh khối và rác thải hữu cơ-nguyên lý và hiện trạng

    Get PDF
    The use of renewable waste for bioenergy production is in discussion because of the concurrence to the food or animal feed. The treatment of organic waste is necessary in order to keep clean the environment. The combination of those proposals, the waste utilization and the production of renewable energy can be combined with several techniques. In Vietnam the energy demand will increase rapidly in the next years, because a lot of people do not have access to electricity. The development of power sources is limited mainly to large central power plants using hydropower and traditional fossil fuels. So in the country there exists a considerable potential for sustainable energy sources like biomass and residues. The biogas potential is large due to the high livestock population. There are more than 30 million animals in farms, mostly pigs, cattle, and water buffalo. There is a high potential for biogas utilization. Biogas production is economic in small and in big plants, so household biogas digesters are one opportunity for production of renewable energy in small villages or cities with a high livestock population. The advantage of anaerobic treatment of organic waste is the work in closed loops. The treatment of organic waste and the utilization of digested sludge from wastewater treatment plants are samples for the circulation of materials after use. The remaining materials can be used in the natural circulation process, because the nutrients such as nitrogen, phosphorous and carbon, and also trace elements remain in the digested matter. In biogas plants a huge variety of substrates can be used. The adaption of biogas technology to the special conditions of the substrates, the increase of the prices for energy, the aim to replace fossil energies with renewable energies will be forced in the next years. Việc sử dụng chất thải có thể tái tạo được để sản xuất năng lượng sinh học là vấn đề còn đang được thảo luận vì sự cạnh tranh với thức ăn hoặc thức ăn cho động vật. Việc xử lý các chất thải hữu cơ là cần thiết để giữ sạch môi trường. Sự kết hợp của các đề xuất đó, tận dụng các chất thải và sản xuất năng lượng tái tạo có thể có thể được kết hợp với một số kỹ thuật.Ở Việt Nam, nhu cầu năng lượng sẽ tăng lên nhanh chóng trong những năm tiếp theo, bởi vì rất nhiều người vẫn chưa có điện sử dụng. Sự phát triển của các nguồn năng lượng chỉ giới hạn chủ yếu là các nhà máy điện lớn trung tâm sử dụng thủy điện và các nhiên liệu hóa thạch truyền thống. Vì vậy, trong nước tồn tại tiềm năng đáng kể cho các nguồn năng lượng bền vững như sinh khối và những nguồn khác. Tiềmnăng khí sinh học lớn do quần thể động vật nuôi rất lớn. Có hơn 30 triệu động vật trong trang trại, chủ yếu là lợn, bò, trâu nước. Tiềm năng sử dụng khí sinh học rất cao. Sản xuất khí sinh học rất có hiệu quả kinh tế trong các nhà máy nhỏ và lớn, do đó, các thiết bị phản ứng tạo khí sinh học ở các hộ gia đình là một cơ hội để sản xuất năng lượng tái tạo trong các thành phố hay làng mạc nhỏ với số lượng lớn các gia súc được chăn nuôi. Ưu điểm của việc xử lý kỵ khí các chất thải hữu cơ là làm việc trong vòngkhép kín. Việc xử lý các chất thải hữu cơ và sử dụng bùn phân hủy từ các nhà máy xử lý nước thải là các ví dụ cho việc tuần hoàn các vật chất sau khi sử dụng. Các vật chất còn lại có thể được sử dụng trong quá trình tuần hoàn tự nhiên, vì các chất dinh dưỡng như phốt pho, nitơ và carbon, và cả các nguyên tố vi lượng vẫn tồn tại trong nguyên liệu đã phân hủy. Trong các nhà máy khí sinh học, rất nhiều loại chất nền có thể được sử dụng. Sự cải tiến công nghệ sản xuất khí sinh học theo các điều kiện đặc biệt của các chất nền, sự gia tăng của giá năng lượng, mục đích thay thế nguồn năng lượng hóa thạch bằng năng lượng tái tạo sẽ là bắt buộc trong những năm tới.Việc sử dụng chất thải có thể tái tạo được để sản xuất năng lượng sinh học là vấn đề còn đang được thảo luận vì sự cạnh tranh với thức ăn hoặc thức ăn cho động vật. Việc xử lý các chất thải hữu cơ là cần thiết để giữ sạch môi trường. Sự kết hợp của các đề xuất đó, tận dụng các chất thải và sản xuất năng lượng tái tạo có thể có thể được kết hợp với một số kỹ thuật. Ở Việt Nam, nhu cầu năng lượng sẽ tăng lên nhanh chóng trong những năm tiếp theo, bởi vì rất nhiều người vẫn chưa có điện sử dụng. Sự phát triển của các nguồn năng lượng chỉ giới hạn chủ yếu là các nhà máy điện lớn trung tâm sử dụng thủy điện và các nhiên liệu hóa thạch truyền thống. Vì vậy, trong nước tồn tại tiềm năng đáng kể cho các nguồn năng lượng bền vững như sinh khối và những nguồn khác. Tiềm năng khí sinh học lớn do quần thể động vật nuôi rất lớn. Có hơn 30 triệu động vật trong trang trại, chủ yếu là lợn, bò, trâu nước. Tiềm năng sử dụng khí sinh học rất cao. Sản xuất khí sinh học rất có hiệu quả kinh tế trong các nhà máy nhỏ và lớn, do đó, các thiết bị phản ứng tạo khí sinh học ở các hộ gia đình là một cơ hội để sản xuất năng lượng tái tạo trong các thành phố hay làng mạc nhỏ với số lượng lớn các gia súc được chăn nuôi. Ưu điểm của việc xử lý kỵ khí các chất thải hữu cơ là làm việc trong vòng khép kín. Việc xử lý các chất thải hữu cơ và sử dụng bùn phân hủy từ các nhà máy xử lý nước thải là các ví dụ cho việc tuần hoàn các vật chất sau khi sử dụng. Các vật chất còn lại có thể được sử dụng trong quá trình tuần hoàn tự nhiên, vì các chất dinh dưỡng như phốt pho, nitơ và carbon, và cả các nguyên tố vi lượng vẫn tồn tại trong nguyên liệu đã phân hủy. Trong các nhà máy khí sinh học, rất nhiều loại chất nền có thể được sử dụng. Sự cải tiến công nghệ sản xuất khí sinh học theo các điều kiện đặc biệt của các chất nền, sự gia tăng của giá năng lượng, mục đích thay thế nguồn năng lượng hóa thạch bằng năng lượng tái tạo sẽ là bắt buộc trong những năm tới

    244

    full texts

    249

    metadata records
    Updated in last 30 days.
    Journal of Vietnamese Environment
    Access Repository Dashboard
    Do you manage Open Research Online? Become a CORE Member to access insider analytics, issue reports and manage access to outputs from your repository in the CORE Repository Dashboard! 👇