Journal of Vietnamese Environment
Not a member yet
    249 research outputs found

    Decolorization of Reactive Red 195 solution by electrocoagulation process: Nghiên cứu khử màu nước thải nhuộm hoạt tính Red 195 bằng keo tụ điện hóa

    Get PDF
    In this study, the application of bipolar electrocoagulation (EC) with iron electrode has been assessed for color removal of simulated wastewater containing Reactive Red 195. The influence of initial pH, sodium sulphate concentration, initial dye concentration, electrolysis time, and electric current were examined. The optimum operational parameters were found to be pH =11, concentration of dye = 50 mg L-1, sodium sulphate concentration = 1200 mg L-1, electrolysis time = 5 min, and electric current = 4 A. In such condition, color removal efficiency achieved over 99%. This result indicates that EC can be used as an efficient and “green” method for color removal from reactive dye solution. Trong nghiên cứu này, quá trình khử màu nhuộm hoạt tính (Reactive Red 195) được khảo sát bằng hệ thống keo tụ điện hóa điện cực kép, với vật liệu sắt. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình khử màu như pH, nồng độ màu nhuộm, nồng độ muối Na2SO4, thời gian phản ứng và cường độ dòng được lựa chọn nghiên cứu. Kết quả cho thấy hệ thống điện hóa trên loại gần như hoàn toàn màu nhuộm với hiệu suất đạt trên 99 % tại pH 11, nồng độ màu 50 mgL-1 và nống độ muối Na2SO4 1200 mgL-1 trong khoảng thời gian 5phút. Kết quả trên cho thấy keo tụ điện hóa có thể xem là một phương pháp xử lý hiệu quả và “xanh” trong việc loại bỏ hoàn toàn màu từ nước thải nhuộm hoạt tính

    Solid waste management in Vietnam and estimation of CH4 emission from landfill by IPCC 2006, application for Go Cat landfill in Ho Chi Minh City: Quản lý chất thải rắn tại Việt Nam và tính toán lượng phát thải CH4 từ bãi chôn lấp theo mô hình IPCC 2006 ứng dụng cho Gò Cát-Tp.HCM

    No full text
    Over 27.8 million tons of solid waste produced per year from various sources in Vietnam, of which more than 46% from urban areas. In cities, the per-capita figure for garbage production has topped 0.7 kg per person per day; the largest amounts of garbage in Ho Chi Minh City and in Hanoi, 1.3 kg per day and 1.0 kg per day, respectively. Due to limited funding, most municipal waste is collected and dumped into landfills, not in compliance with hygiene standards. Currently, CH4 amount produced from landfills in Vietnam, in general, and in Ho Chi Minh City, in particular, has not been specifically identified. This report presents a method for determining the amount of CH4 released from closed landfills with the IPCC 2006 model. This model is capable of calculating and forecasting the amount of CH4 from landfills based on first-order decay (First Order Decay, FOD). The study applied the IPCC 2006 for preliminary estimate and forecast of CH4 produced at GoCat landfill in Ho Chi Minh City. Calculation results will support Go Cat’s landfill management in the future for the economic and environmental efficiency. Trên 27,8 triệu tấn chất thải rắn được phát sinh mỗi năm tại Việt Nam từ các nguồn khác nhau, trong đó 46% đến từ khu vực đô thị. Trung bình mỗi ngày mỗi người dân tại các đô thị phát thải 0,7 kg rác thải, lớn nhất tại Tp.Hồ Chí Minh với 1,3 kg/người/ngày và tại Tp. Hà Nội với 1,0 kg/người/ngày. Do hạn chế về kinh phí nên rác thải đô thị sau khi thu gom chủ yếu đem đi chôn lấp không hợp vệ sinh. Lượng khí CH4 sinh ra từ các bãi chôn lấp rác thải tại Việt Nam nói chung và tại Tp.Hồ Chí Minh nói riêng chưa được quan tâm. Nghiên cứu này sử dụng mô hình của IPCC năm 2006 để đánh giá lượng khí CH4 phát sinh từ bãi rác, ứng dụng cho khu chôn lấp rác thải Gò Cát của Tp.Hồ Chí Minh. Kết quả tính toán nhằm phục vụ cho công tác quản lý khu chôn lấp về hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường

    Phytoremediation of heavy metal polluted soil and water in Vietnam: Sử dụng thực vật để xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất và nước tại Việt Nam

    Get PDF
    Phytoremediation has been intensively studied during the past decade due to its cost-effectiveness and environmental harmonies. Most of the studies on treatment of heavy metal pollution in soil and water by plant species have been done in developed countries but are limited in Vietnam. In this study, we presented some research results of phytoremediation of polluted soils and water with heavy metals that were done by Institute of Environmental Technology for several last years. For treatment of heavy metal pollution in the water, some plants have great ability to accumulate heavy metals such as Vetiveria zizanioides, Phragmites australis, Eichhornia crassipes, Pistia stratiotes, Ipomoea aquatica, Nypa fruticans and Enhydra fluctuans. The heavy metal uptake into shoots and roots of 33 indigenous plant species in Thai Nguyen province was also determined. Two species of the plants investigated, Pteris vittata L. and Pityrogramma calomelanos L. were As hyperaccumulators, containing more than 0.1% As in their shoots while Eleusine indica, Cynodon dactylon, Cyperus rotundus and Equisetum ramosissimum accumulated very high Pb (0.15-0.65%) and Zn (0.22-1.56%) concentrations in their roots. Some experiments to clarify the potential of several plants as good candidates for phytoremediation of polluted soil by heavy metals were carried out in our institute. Phương pháp sử dụng thực vật để xử lý ô nhiễm đã được nghiên cứu nhiều trong thập kỷ qua do chi phí thấp và thân thiện với môi trường. Hầu hết các nghiên cứu về xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất và nước bằng thực vật đã được thực hiện ở các nước phát triển nhưng ít có tại Việt Nam. Trong nghiên cứu này, chúng tôi giới thiệu một số kết quả dùng công nghệ thực vật để xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất và nước tại Viện Công nghệ môi trường trong những năm gần đây. Đối với xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong nước, một số thực vật có khả năng tích lũy tốt kim loại nặng như Vetiveria zizanioides, Phragmites australis, Eichhornia crassipes, Pistia stratiotes, Ipomoea aquatica, Nypa fruticans và Enhydra fluctuans. Sự hấp thụ và tích lũy kim loại nặng trong phần trên mặt đất và rễ của 33 loài thực vật bản địa tại Thái Nguyên cũng đã được xác định. Hai loài thực vật khảo sát là Pteris vittata và Pityrogramma calomelanos là những loài siêu tích lũy As, chứa hơn 0,1% As trong phần trên mặt đất của cây. Eleusine indica, Cynodon dactylon, Cyperus rotundus và Equisetum ramosissimum tích lũy Pb (0,15-0,65%) và Zn (0,22-1,56%) rất cao trong rễ. Một số thí nghiệm đánh giá tiềm năng của một số thực vật là đối tượng tốt cho xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất đã được tiến hành trong phòng thí nghiệm của Viện Công nghệ môi trường

    Human ecology and gender: a framework to discover natural and cultural resources with climate change accommodation: Sinh thái nhân văn và vấn đề giới: Khung lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu tài nguyên thiên nhiên và văn hoá thích nghi với biến đổi khí hậu

    Get PDF
    Based on the human ecological pyramid described by Robert Ezra Park, the founder of Human Ecology at Chicago School of Sociology around 1920 (Park 1952; visualized by Teherani-Krönner 1992), Duncan developed his model for comprehensive research on changes in human societies. He believed that scientific analysis had to include the interplay and interaction of the following components: population (P), organization (O), environment (E) and technology (T). This research frame – POET - became known as the Ecological Complex visualized as a rhombus (Duncan 1959; Teherani-Krönner 1992; Teherani-Krönner 2014). Such an approach needs inter- and trans-disciplinary research methodologies. Combining this human ecological model with theoretical and conceptual approaches in gender studies (Boserup 1970, Teherani-Krönner 2014) will open a new perspective to gender sensitive environmental researches. As the UNDP has stated: “human development if not engendered, is endangered”. This simple but far-reaching message of Human Development Report (UNDP 1995) should be taken more seriously into account in theoretical and practical work (gender mainstreaming and gender budgeting). The gender gap (FAO 2011) will be a roadblock to sustainable environmental development (Jacobson 1992) under climate change conditions. Therefore the POET model needs to be engendered. The paper will present a new concept and a methodological framework to discover natural and cultural resources with regard to climate change accommodation. Trên cơ sở tháp sinh thái nhân văn có lồng ghép giới được xây dựng bởi Robert Ezra Park, nhà sáng lập ngành học về sinh thái nhân văn tại trường Khoa học xã hội Chicago vào khoảng năm 1920 (Park 1952; do Teherani-Krönner thể hiện năm 1992), Duncan đã phát triển một mô hình nghiên cứu toàn diện về sự thay đổi trong xã hội loài người. Ông cho rằng các phân tích khoa học cần phải bao gồm sự tương tác qua lại giữa các thành tố sau: dân số (P), tổ chức (O), môi trường (E), và công nghệ (T). Khung nghiên cứu này được gọi tắt là POET, được biết tới với tên gọi tổ hợp sinh thái, và được thể hiện bằng hình ảnh của một hình thoi (Duncan 1959; Teherani-Krönner 1992; Teherani-Krönner 2014). Cách tiếp cận này cần phải sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành và đa ngành. Kết hợp mô hình sinh thái nhân văn với các cách tiếp cận về lý thuyết và định nghĩa trong các nghiên cứu về giới (Boserup 1970, Teherani-Krönner 2014) sẽ mở ra một hướng nghiên cứu mới đối với các nghiên cứu về môi trường có liên quan tới nhạy cảm giới. Tổ chức Phát triển LHQ (UNDP) đã nêu rõ: “Nếu sự phát triển của con người không tính đến vấn đề giới, sự phát triển đó sẽ gặp trở ngại”. Thông điệp đơn giản nhưng hàm chứa này được nêu trong báo cáo: Phát triển con người của UNDP (1995) cần được xem xét một cách nghiêm túc hơn trong lý thuyết và thực tiễn (lồng ghép giới và lập ngân sách có tính đến vấn đề giới). Khoảng cách về giới (FAO 2011) sẽ là một cản trở trên con đường phát triển môi trường bền vững (Jacobson 1992) trong các điều kiện biến đổi khí hậu hiện tại. Do đó, mô hình POET cần được xem xét cả từ góc độ giới. Bài viết đưa ra một khái niệm mới và một khung phương pháp logic nhằm phát hiện các nguồn lực tự nhiên và văn hóa trong bối cảnh biến đổi khí hậu

    A survey of traditional medicinal plants used by K’ho people in the buffer zone of Chu Yang Sin national park, Vietnam: Nghiên cứu cây thuốc truyền thống của người K’ho ở vùng đệm Vườn quốc gia Chư Yang Sin, Việt Nam

    Get PDF
    This paper shows the results of asurvey on use of traditional medicinal plants of K’ho people who living in the buffer zone of Chu Yang Sin National Park, Central Highlands, Vietnam. Total of 66 medicinal plant species belonging to 61 genera, 40 families were recorded through semi-structured interviews, group discussions and from guides of field trips who are knowledgeable about medicinal plants. These medicinal plants used by K’ho people are documented with latin name, family, local name, parts used and medicinal uses. In generally, fresh medicinal plants are mainly boiled or decocted for drinking and leaves are parts most commonly used. The results of this study showed that K’ho people still depend heavily on medicinal plants to treat diseases such as headache, fever, malaria, diarrhea, fractures, sprains and arthritis. Bài báo này đề cập kết quả khảo sát cách sử dụng cây thuốc truyền thống của người K’ho sống ở vùng đệm Vườn quốc gia Chư Yang Sin, Việt Nam. Tổng số 66 loài cây thuốc thuộc 61 chi, 40 họ đã được ghi nhận thông qua quá trình phỏng vấn bán cấu trúc, thảo luận nhóm và từ những người dẫn đường đi thu mẫu có am hiểu về cây thuốc. Những cây thuốc truyền thống của dân tộc K’ho được tư liệu hóa gồm tên latin, tên phổ thông, bộ phận sử dụng và cộng dụng. Nhìn chung, dược liệu tươi được dùng đun hoặc sắc để uống là chủ yếu và lá là bộ phận được sử dụng phổ biến nhất. Kết quả nghiên cứu cho thấy cộng đồng K’ho vẫn phụ thuộc vào cây thuốc để chữa trị một số bệnh như đâu đầu, sốt, sốt rét, ỉa chảy, lị, gãy xương, bong gân và thấp khớp

    Biomass and carbon stocks of the natural forests at Me Linh biodiversity station, Vinh Phuc province, Vietnam: Sinh khối và trữ lượng các bon của thảm thực vật rừng tự nhiên tại trạm đa dạng sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, Việt Nam

    Get PDF
    Biomass and carbon stock of the natural forests in Vietnam are still not clear due to limitation of knowledge and financial. In this paper, the results of estimating biomass and carbon stocks of the natural forests at Me Linh Biodiversity Station are shown. There are two forest types in this study: the forest vegetation restored after shifting cultivation (vegetation type I) and the forest vegetation restored after clear cutting exploitation (vegetation type II). As the results, the estimated biomass of the forest vegetation restored after shifting cultivation is 86.80 ton.ha-1 and the estimated biomass of the forest vegetation restored after clear cutting exploitation is higher, about 131.59 ton.ha-1. The carbon stock in plants was about 43.40 ton.ha-1 of vegetation type I and 65.79 ton.ha-1 of vegetation type II. The carbon storage in soil of vegetation type I is 79.01 ton.ha-1 and vegetation type II is 99.65 ton.ha-1. Hence, the total of carbon stock in forest vegetation I and II are accounted by 122.41ton.ha-1 and 165.44 ton.ha-1, respectively. In general, it can be pointed out that the naturally recovering secondary forest at Me Linh Station is the secondary young forest with the low economic value due to shortly restored process (about 10-20 years), the flora is not rich and abundant, and there are only commonly pioneer and light demanding tree species. Sinh khối và trữ lượng các bon của rừng tự nhiên ở Việt Nam vẫn ít được quan tâm của do hạn chế về kiến thức và tài chính. Trong bài báo này, chúng tôi đưa ra kết quả của việc ước lượng sinh khối và tổng hợp các bon của các thảm thực vật rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc - Việt Nam, nơi có loại hình thảm thực vật chính, đó là thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy (kiểu thảm thục vật I) và thảm thực vật phục hồi sau khai thác kiệt (kiểu thảm thực vật II) nhằm mục đích đánh giá tiềm năng của rừng thứ sinh tại khu vực nghiên cứu. Sinh khối của thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy là 86,80 tấn/ha. Sinh khối của thảm thực vật phục hồi sau khai thác cao hơn, đạt 131.59 tấn/ha. Lượng các bon hấp thu trong đất của thảm thực vật I là 79,01 tấn/ha và thảm thực vật II là 99,65 tấn/ha. Như vậy, tổng lượng các bon được hấp thu trong mỗi loại hình thảm thực vật trên là: 122,41 tấn/ha (thảm thực vật I) và 165,14 tấn/ha. Nhìn chung, rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại Trạm Đa dạng Mê Linh chủ yếu là rừng non thứ sinh, ít có giá trị kinh tế do quá trình phục hồi diễn ra ngắn (khoảng 10-20 năm) nên thành phần thực vật nghèo nàn, không phong phú, thành phần chính chủ yếu là các cây gỗ tiên phong, ưa sáng

    So sánh lượng năng lượng và dấu chân carbon từ các công nghệ thu hồi năng lượng từ nước thải chế biến thủy sản tại Việt Nam: So sánh lượng năng lượng và dấu chân carbon từ các công nghệ thu hồi năng lượng từ nước thải chế biến thủy sản tại Việt Nam

    Get PDF
    The treatment of industrial wastewater with high organic loads has large potential for energy recovery and reduction of GHG-Emissions. In this work, the Energy and Carbon Footprints of different process technologies for the treatment of fat rich wastewater from the Vietnamese seafood industry have been determined. Three options have been compared: the current lowtech solution in which the fat is used as an input for biodiesel production, the anaerobic treatment of the fat with power generation from the biogas and a combined option in which the fat is converted to biodiesel and the effluent is pre-treated anaerobically. All options need aerobic post-treatment to ensure that current regional effluent standards are met. Energy consumption and recovery as well as other emission sources have been analysed during construction and operation phase of the plants, while demolition phase has been neglected. All analyzed options have a positive net energy output which sums up to 5.24; 4.56 and 11.16 kWh per treated m3 of wastewater for variants 1, 2 and 3. The corresponding Carbon Footprints are -0,90; -0,69 and -2,24 KgCO2/m3. Hence, anaerobic digestion of the fat cannot improve neither the net energy output nor the Carbon Footprint of the treatment plant, while the combination of biodiesel production and anaerobic pre-treatment reduces energy consumption during the operational phase and recovers more than twice as much energy as the other options. Furthermore, all variants have a negative carbon footprint and thus save CO2 emissions, since the carbon in the wastewater is biogenic and the recovered energy can replace fossil fuels. Việc xử lý nước thải công nghiệp với hàm lượng hữu cơ cao có tiềm năng rất lớn trong việc thu hồi năng lượng và làm giảm phát thải khí nhà kính. Trong nghiên cứu này, lượng năng lượng và khí thải gây ô nhiễm môi trường (dấu chân Carbon) từ các công nghệ xử lý nước thải giàu chất béo ngành công nghiệp chế biến thủy sản tại Việt Nam đã được nghiên cứu. 3 phương pháp đã được so sánh: giải pháp hiện tại sử dụng chất béo làm nguyên liệu sản xuất diesel sinh học; phương pháp xử lý kỵ khí chất béo có sản sinh năng lượng và phương pháp kết hợp trong đó chất béo được chuyển thành diesel sinh học và nước thải đầu ra được xử lý kỵ khí. Lượng năng lượng tiêu thụ và thu hồi cũng như các nguồn phát thải khác đều đã được phân tích trong suốt quá trình xây dựng và vận hành nhà máy. Các phương pháp phân tích đều cho kết quả tích cực về mặt năng lượng, chẳng hạn như 1m3 nước thải tạo ra lần lượt 5,24; 4,56 và 11,16 kWh tương ứng với các phương pháp 1, 2, 3. Lượng CO2 lần lượt là 0,90; 0,69 và 2,24 Kg CO2 /m3. Do đó, xử lý kỵ khí chất béo không thể cải thiện lượng năng lượng đầu ra hoặc dấu chân carbon của nhà máy xử lý, trong khi việc kết hợp sản xuất diesel sinh học và tiền xử lý kỵ khí làm giảm lượng năng lượng tiêu thụ trong quá trình vận hành và thu hồi lượng năng lượng nhiều gấp 2 lần các phương pháp khác. Ngoài ra, các phương pháp đều tạo ra giá trị dấu chân carbon âm, tức là làm giảm lượng phát thải CO2, vì carbon trong nước thải là carbon sinh học và năng lượng thu hồi có thể thay thế nhiên liệu hóa thạch.Việc xử lý nước thải công nghiệp với hàm lượng hữu cơ cao có tiềm năng rất lớn trong việc thu hồi năng lượng và làm giảm phát thải khí nhà kính. Trong nghiên cứu này, lượng năng lượng và khí thải gây ô nhiễm môi trường (dấu chân Carbon) từ các công nghệ xử lý nước thải giàu chất béo ngành công nghiệp chế biến thủy sản tại Việt Nam đã được nghiên cứu. 3 phương pháp đã được so sánh: giải pháp hiện tại sử dụng chất béo làm nguyên liệu sản xuất diesel sinh học; phương pháp xử lý kỵ khí chất béo có sản sinh năng lượng và phương pháp kết hợp trong đó chất béo được chuyển thành diesel sinh học và nước thải đầu ra được xử lý kỵ khí. Lượng năng lượng tiêu thụ và thu hồi cũng như các nguồn phát thải khác đều đã được phân tích trong suốt quá trình xây dựng và vận hành nhà máy. Các phương pháp phân tích đều cho kết quả tích cực về mặt năng lượng, chẳng hạn như 1m3 nước thải tạo ra lần lượt 5,24; 4,56 và 11,16 kWh  tương ứng với các phương pháp 1, 2, 3. Lượng CO2 lần lượt là 0,90; 0,69 và 2,24 Kg CO2 /m3. Do đó, xử lý kỵ khí chất béo không thể cải thiện lượng năng lượng đầu ra hoặc dấu chân carbon của nhà máy xử lý, trong khi việc kết hợp sản xuất diesel sinh học và tiền xử lý kỵ khí làm giảm lượng năng lượng tiêu thụ trong quá trình vận hành và thu hồi lượng năng lượng nhiều gấp 2 lần các phương pháp khác. Ngoài ra, các phương pháp đều tạo ra giá trị dấu chân carbon âm, tức là làm giảm lượng phát thải CO2, vì carbon trong nước thải là carbon sinh học và năng lượng thu hồi có thể thay thế nhiên liệu hóa thạch

    Vị trí phân bố và tính toán sức chịu tải môi trường khu vực nuôi cá bớp lồng bè (Cobia or Back King fish) tại Phú Quốc, Kiên Giang: Vị trí phân bố và tính toán sức chịu tải môi trường khu vực nuôi cá bớp lồng bè (Cobia or Back King fish) tại Phú Quốc, Kiên Giang

    Get PDF
    Cobia fish cage is the most popular marine culture species raised in Phu Quoc Island, Vietnam. For its sustainable development, there is a need to determine the carrying capacity to avoid negative marine environmental impact in the future. This study was carried out to collect water samples each two months at the lowest and highest tides at four points around the farming area in Rach Vem, Phu Quoc Island, Kien Giang Province from February to October 2011. Water quality in cobia cage culture was surveyed to assess the environmental status of coastal aquaculture areas including seven parameters such as DO, COD, BOD, TSS, TN, TP and Chlorophyll-a. These parameters are suitable to rear cobia fish cage in this area. Nitrogen and phosphorus are considered as the principal nutrients produced by the cobia fish farm and affecting water environment. This study found that the carrying capacity for fish cage farming in the area is 290.96 to 727.81 tons (based on total nitrogen) and 428.64 to 1,383.88 tons (based on total phosphorus) from February to Au-gust 2011. The maximum number of cobia cages should be, based on total nitrogen, from 64 to 266 and, based on total phosphorus, from 94 to 253. Moreover, this study examined the possibility of remote sensing and geographic information system (GIS) technique based on Object-based Image Analysis (OBIA) method by THEOS imagery for mapping of cage culture facilities and detect the location for cobia cage culture in study area. Cá bớp nuôi lồng bè là một trong những loài cá nuôi phổ biến khu vực ven biển Phú Quốc, Việt nam. Nhằm phát triển bền vững vùng ven biển, đề tài thực hiện đã xác định và đánh giá hiện trạng môi trường nước và sức tải môi trường của nghề nuôi cá bớp lồng bè ở đảo Phú Quốc. Nghiên cứu này được thực hiện thông qua việc thu mẫu môi trường nước mỗi 2 tháng theo mức nước triều cao nhất và thấp nhất tại 4 điểm quanh khu vực nuôi tại ấp Rạch Vẹm, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang từ tháng 02-10/2011. Chất lượng nước khu vực nuôi thủy sản cũng được khảo sát với 7 chỉ tiêu gồm DO, COD, BOD, TSS, TN, TP, Chlorophyll-a. Các thông số chất lượng môi trường này phù hợp nuôi cá bớp tại khu vực nghiên cứu dựa trên tiêu chuẩn chất lượng môi trường. Trong nghiên cứu này, đạm và lân là 2 thông số được sử dụng để tính toán sức tải môi trường. Sức tải môi trường được tính toán cho khu vực nuôi cá bớp dao động khoảng từ 290.96 tấn đến 727.81 tấn (tính trên hàm lượng đạm tổng số) và từ 428,64 tấn đến 1.383,88 tấn (tính trên hàm lượng lân tổng số) trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 10 năm 2011. Số lượng tối đa lồng bè nuôi cá bớp khoảng từ 64 đến 266 (đạm tổng số) và từ 94 đến 253 (lân tổng số) dựa vào phân tích hồi quy tương quan. Bên cạnh đó, công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) đã được ứng dụng bằng cách sử dụng ảnh THEOS để xác định vị trí và phân bố không gian khu vực nuôi cá lồng bè dựa trên phương pháp phân tích đối tượng theo hướng (OBIA).Cá bớp nuôi lồng bè là một trong những loài cá nuôi phổ biến khu vực ven biển Phú Quốc, Việt nam. Nhằm phát triển bền vững vùng ven biển, đề tài thực hiện đã xác định và đánh giá hiện trạng môi trường nước và sức tải môi trường của nghề nuôi cá bớp lồng bè ở đảo Phú Quốc. Nghiên cứu này được thực hiện thông qua việc thu mẫu môi trường nước mỗi 2 tháng theo mức nước triều cao nhất và thấp nhất tại 4 điểm quanh khu vực nuôi tại ấp Rạch Vẹm, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang từ tháng 02-10/2011. Chất lượng nước khu vực nuôi thủy sản cũng được khảo sát với 7 chỉ tiêu gồm DO, COD, BOD, TSS, TN, TP, Chlorophyll-a. Các thông số chất lượng môi trường này phù hợp nuôi cá bớp tại khu vực nghiên cứu dựa trên tiêu chuẩn chất lượng môi trường. Trong nghiên cứu này, đạm và lân là 2 thông số được sử dụng để tính toán sức tải môi trường. Sức tải môi trường được tính toán cho khu vực nuôi cá bớp dao động khoảng từ 290.96 tấn đến 727.81 tấn (tính trên hàm lượng đạm tổng số) và từ 428,64 tấn đến 1.383,88 tấn (tính trên hàm lượng lân tổng số) trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 10 năm 2011. Số lượng tối đa lồng bè nuôi cá bớp khoảng từ 64 đến 266 (đạm tổng số) và từ 94 đến 253 (lân tổng số) dựa vào phân tích hồi quy tương quan. Bên cạnh đó, công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) đã được ứng dụng bằng cách sử dụng ảnh THEOS để xác định vị trí và phân bố không gian khu vực nuôi cá lồng bè dựa trên phương pháp phân tích đối tượng theo hướng (OBIA)

    Hội thảo lần thứ nhất của Mạng lưới châu Á về Môi trường và Năng lượng

    Get PDF
    Asia is one of the most densely populated areas in the world. Many Asian countries experienced strong economic growth and rapid urbanization in the last decade. However, Asia is also faced with the challenge of environmental protection, energy security and CO2 emissions. The purpose of establishment of the Asian Network for Environment and Energy (ANEE) is to connect the research and training institutions, facilitate the exchange of experience and know-how, and initiating joint projects on environmental protection and renewable energy. The network organizes annual scientific conferences, develops projects addressing environmental problems of the region, and builds personnel training programs for renewable energy and environment. The first ANEE workshop held in Ho Chi Minh City is the launching event the network addressing air pollution, water management, solid waste and energy. Châu Á là một trong những khu vực đông dân nhất trên thế giới. Nhiều quốc gia tại châu Á đã có sự phát triển kinh tế mạnh mẽ và đô thị hóa rất nhanh trong thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, khu vực châu Á cũng đối mặt với các thách thức về bảo vệ môi trường, phát thải CO2 và an ninh năng lượng. Mục đích thành lập Mạng lưới châu Á về Môi trường và Năng lượng (ANEE) nhằm kết nối các tổ chức nghiên cứu và đào tạo, tạo điều kiện cho trao đổi kinh nghiệm và know-how, xây dựng các dự án tổng thể về bảo vệ môi trường và năng lượng tái tạo. Mạng lưới tổ chức các Hội thảo khoa học hàng năm, phát triển các dự án giải quyết các vấn đề môi trường thời sự của khu vực, xây dựng các chương trình đào tạo nhân lực ngành môi trường và năng lượng tái tạo. Hội thảo lần thứ nhất của ANEE được tổ chức tại Tp.Hồ Chí Minh là sự kiện khởi động Mạng lưới với các chuyên đề về Ô nhiễm không khí, Quản lý nguồn nước, chất thải rắn và năng lượng.Châu Á là một trong những khu vực đông dân nhất trên thế giới. Nhiều quốc gia tại châu Á đã có sự phát triển kinh tế mạnh mẽ và đô thị hóa rất nhanh trong thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, khu vực châu Á cũng đối mặt với các thách thức về bảo vệ môi trường, phát thải CO2 và an ninh năng lượng. Mục đích thành lập Mạng lưới châu Á về Môi trường và Năng lượng (ANEE) nhằm kết nối các tổ chức nghiên cứu và đào tạo, tạo điều kiện cho trao đổi kinh nghiệm và know-how, xây dựng các dự án tổng thể về bảo vệ môi trường và năng lượng tái tạo. Mạng lưới tổ chức các Hội thảo khoa học hàng năm, phát triển các dự án giải quyết các vấn đề môi trường thời sự của khu vực, xây dựng các chương trình đào tạo nhân lực ngành môi trường và năng lượng tái tạo. Hội thảo lần thứ nhất của ANEE được tổ chức tại Tp.Hồ Chí Minh là sự kiện khởi động Mạng lưới với các chuyên đề về Ô nhiễm không khí, Quản lý nguồn nước, chất thải rắn và năng lượng

    Semina dành cho nghiên cứu sinh trong khuôn khổ dự án Mạng lưới nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuật và Quản lý: Semina dành cho nghiên cứu sinh trong khuôn khổ dự án Mạng lưới nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuật và Quản lý

    Get PDF
    The Water Doctoral Network of Engineering and Management is a bilateral German – Vietnamese academic network with the aim to provide a platform for the development of joint research activities in water sector. Within the framework of the project, the network members organised a series of workshops and seminars targeted especially at PhD students from universities conducting research programs in water-related issues from both countries. The present paper summarises the outcomes of the last PhD seminar held on March 21-22, 2013 in Dresden, Germany. The seminar was attended by participants from IEEM – Institute of Environmental Engineering and Management at the University of Witten/Herdecke gGmbH and IAA – Institute of Waste Management and Contaminated Site Treatment at the Technische Universität Dresden. Mạng lưới nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuật và quản lý về nước là một mạng lưới hàn lâm song phương Đức-Việt, nhằm tạo ra một diễn đàn đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu hợp tác trong ngành nước. Trong khuôn khổ dự án này, các thành viên thuộc mạng lưới đã cùng nhau tổ chức một loạt những hội thảo và semina chủ yếu phục vụ cho các nghiên cứu sinh của các trường đại học đang tham gia cá chương trình nghiên cứu về những đề tài liên quan đến nước ở cả Việt Nam và Đức. Bài báo quý vị đang đọc đưa ra tóm tắt ngắn gọn những kết quả đạt được trong semina vừa tổ chức ngày 21.-22.03.2013 tại Dresden, Đức. Semina này hướng tới các đối tượng thuộc Viện Kỹ thuật và Quản lý môi trường (IEEM) thuộc trường Đại học Witten/Herdecke gGmbH và Viện Quản lý chất thải-Xử lý vùng ô nhiễm (IAA) thuộc Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Dresden.Mạng lưới nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuật và quản lý về nước là một mạng lưới hàn lâm song phương Đức-Việt, nhằm tạo ra một diễn đàn đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu hợp tác trong ngành nước. Trong khuôn khổ dự án này, các thành viên thuộc mạng lưới đã cùng nhau tổ chức một loạt những hội thảo và semina chủ yếu phục vụ cho các nghiên cứu sinh của các trường đại học đang tham gia cá chương trình nghiên cứu về những đề tài liên quan đến nước ở cả Việt Nam và Đức. Bài báo quý vị đang đọc đưa ra tóm tắt ngắn gọn những kết quả đạt được trong semina vừa tổ chức ngày 21.-22.03.2013 tại Dresden, Đức. Semina này hướng tới các đối tượng thuộc Viện Kỹ thuật và Quản lý môi trường (IEEM) thuộc trường Đại học Witten/Herdecke gGmbH và Viện Quản lý chất thải-Xử lý vùng ô nhiễm (IAA) thuộc Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Dresden

    244

    full texts

    249

    metadata records
    Updated in last 30 days.
    Journal of Vietnamese Environment
    Access Repository Dashboard
    Do you manage Open Research Online? Become a CORE Member to access insider analytics, issue reports and manage access to outputs from your repository in the CORE Repository Dashboard! 👇