Hue University Journal of Science (HU JOS)
Not a member yet
    4351 research outputs found

    English

    No full text
    The Philippines and China have a long-standing relationship in history. Through many ups and downs, this relationship continues to grow and achieve important achievements. The year 2010 marked the rise of China when it surpassed Japan to become the second economy in the world, after the US. This has attracted more attention from countries in the region, seeking opportunities from China to develop. Moreover, in order to realize the strategic ambition of a great power in the 21st century, China must set strong goals, in which the economy is the driving force for all its development activities. And the Philippines, a neighboring country with many features that align with the interests China is seeking politically, economically and diplomatically, has become an important place in China's rise. In this article, the author focuses on clarifying the current situation of Philippines-China relations in the period 2010-2021 in the fields of diplomacy - politics, economy, security and defense, and on a number of other fields such as culture, Education and Tourism. Besides, the author also analyzes and offers some prospects for cooperation between the two countries in the coming time

    NGHIÊN CỨU VẬN DỤNG MÔ HÌNH HỌC CÙNG CỘNG ĐỒNG VÀO TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG RÈN LUYỆN NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ

    Get PDF
    Học cùng cộng đồng - với những ưu điểm vượt trội về khả năng kết nối các tri thức lí thuyết với thực tiễn và ý nghĩa học tập thông qua trải nghiệm cộng đồng, phụng sự cộng đồng - là mô hình lí tưởng để tạo nên những tác động tích cực đối với cả sinh viên và học sinh khi tổ chức các hoạt động trải nghiệm phát triển văn hoá đọc. Từ những khảo cứu lí thuyết và điền dã, hình thức dự án đọc tổ chức trực tiếp ở trường học và xây dựng phòng đọc trực tuyến được triển khai thực hiện, bước đầu thu nhận được phản hồi tích cực từ những người tham gia. Bên cạnh ưu điểm về khả năng tạo hứng thú và gia tăng tương tác trong các hoạt động đọc, việc vận dụng mô hình Học cùng cộng đồng còn tác động mạnh mẽ đến nghiệp vụ sư phạm và ý thức học tập phục vụ cộng đồng của sinh viên; đồng thời góp phần hình thành thói quen đọc - trải nghiệm, rèn luyện kĩ năng đọc và ghi chép phiếu đọc, nhật kí đọc cho học sinh tiểu học

    HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TÍCH CỰC: NÂNG CAO KHẢ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM QUA TÌM HIỂU ĐỊA DANH DU LỊCH TẠI HUẾ

    Get PDF
    Trong thời kỳ công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ và việc học online trở nên phổ biến như hiện nay, thì tính tích cực được đòi hỏi cao hơn bao giờ hết. Tính tích cực thể hiện trong mọi mặt của cuộc sống hàng ngày, đặc biệt trong việc dạy và học ngoại ngữ cũng như học tiếng Pháp, học nhóm là một trong những hoạt động thể hiện rõ tính tích cực của người học khi cùng nhau chia sẻ thông tin, trao đổi những điểm mạnh điểm yếu cùng nhau. Trong bài viết lần này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát một nhóm sinh viên trong giờ học địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam với các hoạt động làm nhóm, trong đó có chủ đề về tìm hiểu các địa danh du lịch tại Huế. Hoạt động này đã chứng tỏ sinh viên có tính tích cực trong học tập, có khả năng làm việc nhóm tốt, sinh viên không chỉ có thể học hỏi về văn hóa, mà còn đưa ra được các cấu trúc ngữ pháp, các từ vựng trong quá trình tìm hiểu, đặc biệt là tăng khả năng giao tiếp và trao đổi về một vấn đề khi có ý kiến đồng thuận hoặc trái ngược nhau.Trong thời kỳ công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ và việc học online trở nên phổ biến như hiện nay, thì tính tích cực được đòi hỏi cao hơn bao giờ hết. Tính tích cực thể hiện trong mọi mặt của cuộc sống hàng ngày, đặc biệt trong việc dạy và học ngoại ngữ cũng như học tiếng Pháp, học nhóm là một trong những hoạt động thể hiện rõ tính tích cực của người học khi cùng nhau chia sẻ thông tin, trao đổi những điểm mạnh điểm yếu cùng nhau. Trong bài viết lần này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát một nhóm sinh viên trong giờ học địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam với các hoạt động làm nhóm, trong đó có chủ đề về tìm hiểu các địa danh du lịch tại Huế. Hoạt động này đã chứng tỏ sinh viên có tính tích cực trong học tập, có khả năng làm việc nhóm tốt, sinh viên không chỉ có thể học hỏi về văn hóa, mà còn đưa ra được các cấu trúc ngữ pháp, các từ vựng trong quá trình tìm hiểu, đặc biệt là tăng khả năng giao tiếp và trao đổi về một vấn đề khi có ý kiến đồng thuận hoặc trái ngược nhau

    TRỒNG, SỬ DỤNG VÀ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA MỘT SỐ CÂY DƯỢC LIỆU TẠI KBANG, GIA LAI

    Get PDF
    The data were collected by interviewing stakeholders. The antibacterial activity of medicinal plant extracts was evaluated with the agar diffusion method, and the minimum bactericidal concentration (MBC) was determined with the dilution method. The most widely cultivated medicinal plants are Amomum longiligulare, Polyscias fruticosa, and Angelica sinensis. Most of the surveyed households are willing to expand their planting area, but they lack capital (70.7%), labour (33.3%), or land (26.7%). The extracts from Achyranthes aspera, Pseuderanthemum palatiferum, and Tithonia diversifolia have a high antibacterial activity with an inhibition zone’s diameter of 17, 16.1, and 18 mm, respectively, at the concentration of 1.5 mg·mL–1 and 5.9, 7.2, and 6.0 mm, respectively, at the concentration of 0.25 mg·mL–1. The MBC values of the extracts from Achyranthes aspera, Tithonia diversifolia, and Pseuderanthemum palatiferum are 0.0625, 0.0313, and 0.0313 mg·mL–1, respectively. These results play an essential role in the selection of suitable herbal medicine for animals.Số liệu được thu thập bằng phỏng vấn các bên liên quan. Tính kháng khuẩn của dịch chiết được đánh giá bằng phương pháp khuếch tán trên thạch và giá trị MBC (Minimum bactericidal concentrations) được xác định bằng phương pháp dãy pha loãng. Dược liệu được trồng phổ biến gồm sa nhân, đinh lăng và đương quy. Đa số các hộ điều tra đều có nhu cầu mở rộng diện tích, nhưng, họ gặp một số khó khăn, như thiếu vốn (70,7%), thiếu lao động (33,3%) và thiếu đất (26,7%). Dịch chiết từ cỏ xước, hoàng ngọc và dã quỳ có tính kháng khuẩn cao với đường kính vòng vô khuẩn (ĐKVK) ở nồng độ 1,5 mg·mL–1 tương ứng là 17, 16,1 và 18 mm;  ở nồng độ 0,25 mg·mL–1, ĐKVK tương ứng là 5,9, 7,2 và 6 mm. Giá trị MBC của dịch chiết từ cỏ xước, dã quỳ và hoàng ngọc tương ứng là 0,0625, 0,0313 và 0,0313 mg·mL–1. Những kết quả này là cơ sở cho chọn lọc những dược liệu phù hợp để phòng và trị bệnh cho động vật ở địa phương

    KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT SINH KHỐI VÀ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CÂY ĐAY (HIBISCUS CANNABINUS L.) TRỒNG TẠI THỪA THIÊN HUẾ

    Get PDF
    We investigated the kenaf plants (Hibiscus cannabinus. L) on the 50th day after planting. The experiments were carried out on a 200 m2 area in the hilly area of ​​Huong Tho commune, Hue City. The plants grew well, reaching a height of 118.41 cm. The fresh biomass and dry matter were 40.16 and 7.6 kg. The yield of fresh biomass and dry matter were 2.01 and 0.38 kg·m–2. The dry matter in stems and leaves was 18.93 and 18.07%. Crude protein, lipids, and minerals of dried leaves were higher than that of stems. Crude fibre, ADF, and NDF of stems were higher than that of leaves. Crude protein, lipids, and minerals in the dried stems and leaves were 8.81–28.03, 1.03–4.28, and 6.37–8.42%, respectively, whereas the percentage in the fresh was 1.66–5.07, 0.19–0.77, and 1.18–1.52%, respectively. Crude fibre, ADF, and NDF in stems and leaves by dry matter were 47.64–12.89, 51.49–16.36, and 65.55–23.91%, respectively, whereas the percentage of these components in the fresh matter was 9.04–2.32, 9.75–2.95, and 12.41–4.31%, respectively.Đối tượng của nghiên cứu là cây đay (Hibiscus canabinus L.) 50 ngày tuổi. Thí nghiệm được tiến hành trên 200 m2 đất ở vùng gò đồi thuộc xã Hương Thọ, thành phố Huế. Cây sinh trưởng tốt với chiều cao đạt 118,41 cm. Khối lượng sinh khối thô xanh (KLSK TX) và khối lượng sinh khối vật chất khô (KLSK VCK) thu được là 40,16 và 7,6 kg. Năng suất sinh khối thô xanh (NSSK TX) và năng suất sinh khối vật chất khô (NSSK VCK) là 2,01 và 0,38 kg/m2. Vật chất khô (DM) trong thân và lá cây là 18,93 và 18,07%. Protein thô (CP), lipid thô (EE) và khoáng tổng số (Ash) theo nguyên trạng (NT) và DM trong lá cao hơn trong thân. Xơ thô (CF), xơ không tan trong chất tẩy axit (ADF) và xơ không tan trong chất tẩy trung tính (NDF) theo NT và theo DM trong thân cao hơn trong lá. Protein thô, EE và Ash trong thân/lá theo DM lần lượt là 8,81–28,03, 1,03–4,28 và 6,37–8,42%; theo NT lần lượt là 1,66–5,07, 0,19–0,77 và 1,18–1,52%. CF, ADF và NDF trong thân/lá theo DM lần lượt là 47,64–12,89, 51,49–16,36 và 65,55–23,91%; theo NT lần lượt là 9,04–2,32, 9,75–2,95 và 12,41–4,31%

    MỨC ĐỘ NHIỄM VÀ HIỆU QUẢ CỦA DỊCH CHIẾT CÂY SẦU ĐÂU (Azadirachta indica) ĐỐI VỚI RẬN CÁ Caligus spp. TRÊN CÁ DÌA (Siganus guttatus)

    Get PDF
    The study was conducted on 120 fish collected from two sites over six months. The neem leaf and seed extract at 0, 10, 50, 100, 500, and 1000 ppm was used to evaluate its effect on sea lice. The infection rate of sea lice on rabbitfish was 66.7%, and infection intensity averaged 20.3 sea lice/fish. The infection intensity was higher in January, February, and March than in April, May, and June. After 30 hours of experiment, the EC50 and EC90 of leaf extract were 148 and 928 ppm and of seed extract were 62 and 397 ppm.Nghiên cứu được tiến hành trên 120 con cá dìa thu từ hai điểm thu mẫu trong sáu tháng. Dịch chiết từ lá và hạt cây sầu đâu với nồng độ 0, 10, 50, 100, 500 và 1000 ppm được sử dụng để đánh giá tác động lên rận cá Caligus spp. Tỷ lệ nhiễm Caligus spp. trên cá dìa là 66,7% và cường độ nhiễm trung bình là 20,3 con rận/con cá. Cường độ nhiễm lớn hơn trong tháng 1, 2 và 3 có ý nghĩa thống kê so với các tháng còn lại. Sau 30 giờ thí nghiệm, EC50 và EC90 của dịch chiết từ lá sầu đâu là 148 và 928 ppm và từ hạt sầu đâu là 62 và 397 ppm.

    ỨNG DỤNG GIS ĐỂ CẬP NHẬT, VẬN HÀNH VÀ KHAI THÁC CƠ SỞ DỮ LIỆU NỀN ĐỊA LÝ TẠI THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

    Get PDF
    We used the Production Mapping tool in ArcGIS software to update, operate, and exploit the 1/10,000-scale geographic database in Dong Ha City. We updated the geographic database of Dong Ha City from satellite images, including seven groups of updated data: Border and boundary data, Measurement data, Residential data, Topographic data, Traffic data, Surface overlay data, and Hydrological data. In addition, we conducted the operation of this geographic database with a centralized model and a decentralized model; simultaneously, we exploited the database under three objects: Users, Communication Channels, and Application Platforms. Applying the results to work practice might create a platform for other databases not only in the natural resources and environment but also in other fields, such as transportation, construction, and agriculture.Chúng tôi sử dụng công cụ Production Mapping trong phần mềm ArcGIS để bổ sung, cập nhật, hoàn thiện và khai thác cơ sở dữ liệu nền địa lý tỷ lệ 1/10.000 ở thành phố Đông Hà. Cơ sở dữ liệu nền địa lý của thành phố Đông Hà đã được cập nhật từ ảnh vệ tinh gồm bảy nhóm dữ liệu: Dữ liệu biên giới địa giới, Dữ liệu cơ sở đo đạc, Dữ liệu dân cư, Dữ liệu địa hình, Dữ liệu giao thông, Dữ liệu phủ bề mặt và Dữ liệu thuỷ văn. Ngoài ra, chúng tôi tiến hành vận hành cơ sở dữ liệu nền địa lý này với mô hình tập trung và mô hình phi tập trung; đồng thời, chúng tôi khai thác CSDL nền địa lý theo Người sử dụng, Kênh giao tiếp và Các nền tảng ứng dụng. Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn công tác sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu làm nền cho CSDL khác không chỉ trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường mà trong các lĩnh vực khác như giao thông, xây dựng và nông nghiệp

    ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIỂN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SINH KẾ CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VEN BIỂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

    Get PDF
    The livelihood vulnerability index (LVI) methods were used to assess the impact of climate change (CC) on the livelihoods of coastal communities in Quang Dien district, Thua Thien Hue province. Primary data was collected from the survey of 150 households living in coastal communities in the Quang Dien district. The results showed that there is a difference in the vulnerability to climate change in the livelihoods of households in these communities. The difference was mainly due to the following factors: (1) Household characteristics; (2) Livelihood strategies and (3) Health.Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chỉ số tổn thương sinh kế (Livelihood Vulnerability Index – LVI) để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến sinh kế của cộng đồng ven biển huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Số liệu của nghiên cứu được thu thập từ việc khảo sát 150 hộ dân đang sinh sống ở các cộng đồng ven biển của huyện Quảng Điền. Kết quả cho thấy có sự khác biệt về tính dễ tổn thương do BĐKH đến sinh kế của các hộ dân ở các cộng đồng này. Sự khác nhau chủ yếu do các yếu tố: (1) Đặc điểm hộ; (2) Chiến lược sinh kế và (3) Sức khỏe

    ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI HIỆN TRẠNG RỪNG BẰNG CHỈ SỐ THỰC VẬT KHÁC BIỆT CHUẨN HOÁ (NDVI) TẠI HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ TRONG GIAI ĐOẠN 1991–2022

    Get PDF
    Assessment of the vegetation cover, particularly the forest cover, is crucial for effectively managing and building forest development and protection plans. In this study, we used Landsat - 5, 8 satellite images in April of 1991, 2016, and 2022 to evaluate the correlation between forest status and the Normalized Difference Vegetation Index (NDVI) and randomly verified 4,911 points on the map of forest status in 2016. The results show a relatively strong correlation between the bare land, bushland, plantation forest, natural forest and the NDVI with the following correlation MaHTR = 1/(1.851 – 1.936 × NDVI2016), with R2 being 67.4% and p < 0.05. The results obtained in 1991–2022 indicate that the forest status in the study sites had an NDVI increase for the natural forests with a low NDVI in the regions close to villages, transport systems, and hydropower stations.Đánh giá độ che phủ bề mặt là công việc hết sức quan trọng, đặc biệt là độ che phủ rừng, giúp quản lý và xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả hơn. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng nguồn ảnh viễn thám Landsat 5, 8 trong tháng 4 của các năm 1991, 2016 và 2022 để đánh giá mối tương quan giữa hiện trạng rừng và chỉ số NDVI và tiến hành kiểm chứng ngẫu nhiên 4.911 điểm trên bản đồ hiện trạng rừng năm 2016. Kết quả cho thấy mối tương quan giữa hiện trạng của đất trống, đất trống có cây gỗ rải rác, rừng trồng, rừng tự nhiên thông qua trữ lượng gỗ và chỉ số NDVI là tương đối mạnh, thể hiện qua phương trình tương quan: MaHTR = 1/(1,851 – 1,936 × NDVI2016) với R2 = 67,4% ở p < 0,05. Kết quả từ năm 1991 đến năm 2022 cho thấy hiện trạng rừng tại khu vực nghiên cứu có chỉ số NDVI tăng ở những vùng rừng tự nhiên và thấp các khu vực gần dân cư, hệ thống giao thông và thuỷ điện

    ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH THỪA THIÊN HUẾ

    Get PDF
    Tourism plays an essential role in the socio-economic development of Thua Thien Hue province. In order to develop tourism and increase the contribution of the tourism industry to the local economy, human resources have a crucial and decisive role. This study was conducted to assess the quality of human resources of the tourism industry in TT-Hue, based on the survey of 168 respondents – owners of tourism business and managers members - by applying a professional competence framework including the following factors: Knowledge, Skills, and Attitudes. Descriptive analysis, Cronbach’s Alpha test, and Exploratory Factor Analysis (EFA) have been used in this study. It is worth noting that up to 63% of surveyed tourism businesses rated the quality of human tourism resources at the average level. In which the factor with the highest average score is "Knowledge", followed by "Skill" and "attitude" respectively.Để phát triển du lịch và tăng cường đóng góp của ngành du lịch với kinh tế địa phương, nguồn nhân lực du lịch có vai trò then chốt và quyết định. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xây dựng bộ thang đo và tiến hành đánh giá chất lượng nguồn nhân lực du lịch đối với trường hợp TT-Huế theo hướng tiếp cận là sử dụng mô hình năng lực nghề nghiệp gồm các nhân tố là: 1) Kiến thức; 2) Kỹ năng và 3) Thái độ với 19 biến quan sát được kế thừa, phát triển từ các nghiên cứu trong và ngoài nước. Kết quả thống kê mô tả thông qua dữ liệu khảo sát từ 168 nhà quản lý và chủ doanh nghiệp đến từ lĩnh vực kinh doanh du lịch thuộc địa bàn nghiên cứu đã cho thấy về cơ bản các các doanh nghiệp du lịch chưa đánh giá cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch TT-Huế. Nhân tố được phần lớn doanh nghiệp du lịch đánh giá khá tốt là Kiến thức, với GTTB là 3,6/5 điểm; tiếp đến là nhân tố “Kỹ năng”, với GTTB là 3,53/5 điểm và có GTTB thấp nhất là nhân tố “Thái độ”, với 3,49/5 điểm

    1,602

    full texts

    4,351

    metadata records
    Updated in last 30 days.
    Hue University Journal of Science (HU JOS)
    Access Repository Dashboard
    Do you manage Open Research Online? Become a CORE Member to access insider analytics, issue reports and manage access to outputs from your repository in the CORE Repository Dashboard! 👇