Hue University Journal of Science (HU JOS)
Not a member yet
4351 research outputs found
Sort by
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT Ở VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ THÔNG QUA SỬ DỤNG CHỈ SỐ SINH HỌC EPT
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng ấu trùng côn trùng ở nước (aquatic insect) của ba bộ (Phù du, Cánh lông, Cánh úp) làm chỉ thị sinh học để đánh giá chất lượng nước mặt ở 08 điểm trên các thủy vực chính vườn quốc gia Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế thông qua chỉ số sinh học EPT. Kết quả cho thấy, chất lượng môi trường nước mặt tại đây từ tốt đến rất tốt, chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm hữu cơ; phù hợp với việc đánh giá chất lượng nước mặt thông qua phân tích các chỉ tiêu hóa học. Nghiên cứu còn cho thấy chỉ số EPT và các thông số DO, COD tồn tại mối tương quan tuyến tính. Các hệ số tương quan và hệ số hồi quy đều tồn tại với độ tin cậy 95%. Tương quan giữa EPT với DO là tương quan âm, còn tương quan giữa EPT với hoặc COD là tương quan dương. Tương quan giữa biến phụ thuộc EPT với 1 biến độc lập (DO và COD) thì giữa EPT với DO tồn tại mối tương quan chặt nhất, thể hiện qua hệ số tương quan R lớn nhất
ĐẶC TRƯNG QUANG ĐIỆN HÓA CỦA TẤM NANO MoS2/TiO2 CHẾ TẠO BẰNG PHƯƠNG PHÁP QUAY PHỦ VÀ THỦY NHIỆT
MoS2/TiO2 nanoflakes (NFs) have been synthesized using the spin-coater and hydrothermal method at a temperature of 180 oC for photoelectrochemical application. The thick-MoS2 nanoflakes are about a few nano to tens of nano for 4 – 8 h, which consist of highly active sites at edges and planes to improve photoconversion efficiency. XRD pattern of MoS2/TiO2 NFs showed both hexagonal and anatase phases for MoS2 and TiO2, respectively, with a high crystal quality. At room temperature, the photoluminescence spectra of MoS2 NFs exhibited an asymmetric shape and good emission peak at 688 nm. The photoelectrochemical cell of the MoS2/TiO2 nanostructure obtained a photocurrent density of 3.5 mA. cm–2 at –0.8 V (vs. SCE), using 0.5 M H2SO4 electrolyte. As a result, we propose a potential fabrication of high-efficiency optoelectronic devices through the synthesis of MoS2 NFs hybrid with traditional photocatalyst oxide materials by the one-step hydrothermal approach.Tấm nano MoS2 trên màng mỏng TiO2 (MoS2/TiO2) được chế tạo thành công bằng phương pháp quay phủ và thủy nhiệt nhằm ứng dụng trong quang điện hóa. Các tấm nano MoS2 có độ dày từ vài chục nano đến vài trăm nano được tổng hợp thành công tại nhiệt độ 180 oC, thời gian 4-8 giờ, giúp tăng cường hiệu suất quang điện hóa thông qua tăng cường mật độ tâm hoạt động xúc tác tại vị trí biên cạnh và trên mặt phẳng. Cấu trúc dị thể MoS2/TiO2 thể hiện pha lục giác của MoS2 và anatase của TiO2 được xác định bằng phương pháp nhiễu xạ điện tử X-ray. Phổ huỳnh quang của tấm nano MoS2 tại nhiệt độ phòng thể hiện sự bất đối xứng với đỉnh phát xạ tại bước sóng 688 nm với chất lượng tinh thể tốt. Tế bào quang điện hóa chế tạo từ cấu trúc tấm nano MoS2/TiO2 thu được mật độ dòng 3,5 mA. cm-2 tại điện thế –0,8 V (so sánh với SCE) sử dụng dung dịch điện li H2SO4 với nồng độ 0,5 M. Từ kết quả nghiên cứu này, chúng tôi hướng đến tiềm năng chế tạo hợp chất lai giữa tấm nano MoS2 với các vật liệu màng mỏng xúc tác truyền thống như ô xít kim loại chuyển tiếp bằng phương pháp thủy nhiệt, nhằm ứng dụng trong các linh kiện quang điện-điện tử hiệu năng cao
PHÂN TÍCH NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO CỦA THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
This research investigates the current situation and factors affecting the intention of creative entrepreneurship among young people in Thua Thien Hue province. The qualitative method was used to build the research model and the quantitative method was used to measure the impact of factors on the entrepreneurial intention of young people in Thua Thien Hue province. The research data was collected from the survey results of 274 young people from 9 districts, towns and cities in Thua Thien Hue province. The research results show that there are 3 factors affecting the entrepreneurial intention of young people in decreasing order, including: entrepreneurial training programs, attitude towards entrepreneurship, knowledge and experience. entrepreneurial experience. The research results also show that subjective norms, perceived behavioral control, perceived luck and demographic characteristics do not affect the entrepreneurial intention of young people.Nghiên cứu này tìm hiểu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp sáng tạo của thanh niên trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Phương pháp định tính được sử dụng để xây dựng mô hình nghiên cứu và phương pháp định lượng được sử dụng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định khởi nghiệp của thanh niên trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Số liệu nghiên cứu được thu thập từ kết quả khảo sát 274 thanh niên thuộc 9 huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên theo mức độ giảm dần bao gồm: chương trình đào tạo khởi nghiệp, thái độ đối với khởi nghiệp, kiến thức và kinh nghiệm khởi nghiệp. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra, quy chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, cảm nhận về sự may mắn và đặc điểm nhân khẩu học không có tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH QUAY TRỞ LẠI ĐIỂM ĐẾN CỦA KHÁCH DU LỊCH
The article employs bibliometric analysis, a systematic literature review, and VOSviewer software to assess the current state and development trends of research on the relationship between destination image, memorable tourism experience, and tourist-resident interaction impact on revisit intention to the destination. Based on 250 articles from the Scopus database covering the years 2010–2024, the study's findings, which are displayed in tables and visualizations, show a notable rise in the number of publications in the field, indicating a growing interest in comprehending the various interactions that occur between travelers and destinations. The nation having the most research on the subject is Malaysia. Additionally, content analysis highlights foundational theories, popular research models, validated relationships, methodologies, and research contexts. This allows for a summary of strengths and limitations to identify research gaps. The findings are significant in shaping future research directions.Bài báo sử dụng phương pháp phân tích trắc lượng thư mục, tổng quan tài liệu có hệ thống và phần mềm VOSviewer để đánh giá hiện trạng và xu hướng phát triển các nghiên cứu về mối quan hệ giữa hình ảnh điểm đến, trải nghiệm du lịch đáng nhớ, tương tác khách du lịch với cư dân ảnh hưởng đến ý định quay trở lại điểm đến. Nghiên cứu dựa trên 250 bài báo từ dữ liệu Scopus, giai đoạn 2010–2024, kết quả được trình bày qua bảng số liệu và hình ảnh trực quan chỉ ra sự gia tăng đáng kể về số lượng ấn phẩm liên quan đến lĩnh vực cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng trong việc tìm hiểu các tương tác đa dạng giữa khách du lịch và điểm đến. Malaysia là quốc gia có số lượng nghiên cứu nhiều nhất về chủ đề. Thêm vào đó, phân tích nội dung cũng giúp phân biệt khái niệm trải nghiệm du lịch và trải nghiệm du lịch đáng nhớ, ngoài ra kết quả nêu bật các lý thuyết nền tảng, mô hình nghiên cứu phổ biến, mối quan hệ đã kiểm chứng, phương pháp và bối cảnh nghiên cứu. Từ đó, khái quát ưu điểm, hạn chế để xác định khoảng trống nghiên cứu cần giải quyết. Kết quả bài viết rất có ý nghĩa trong việc định hình hướng nghiên cứu tương lai
Characterization of schweinfurthinol 9-O-β-D-pyranoglucoside as a potential anti-diabetic compound via in-silico studies
Schweinfurthinol 9-O-β-D-pyranoglucoside (SP) was isolated from Euonymus laxiflorus Champ. (ELC) and found as novel α-glucosidase and α-amylase inhibitors in our previous works via experimental studies. This work aims to further characterize SP as a potential inhibitor of α-glucosidase and α-amylase and develop an anti-diabetic drug via in-silico studies. Molecular docking indicated that SP interacted with targeting enzymes α-glucosidase (Q6P7A9) and α-amylase (1SMD) with acceptable RMSD values (≤2.0 Å) and showed an efficient binding energy with DS values of –10.4 and –12.0 kcal/mol, respectively. The binding energy of SP is comparable with that of acarbose, an anti-diabetic compound, with DS values of –11.2 to –12.7 kcal/mol for enzymes Q6P7A9 and 1SMD, respectively. The analysis indicated that SP satisfied all the requirements of Lipinski’s Rules of Five while acarbose might conform to approximately 20% of Lipinski’s rules criteria. Furthermore, SP showed satisfied ADMET properties in the required permitted limit. The result of this work suggested that SP might be a potential candidate with good drug-likeness properties and a high possibility of being an anti-diabetic drug
A Determination of andrographolide from Andrographis paniculata growing in Thua Thien Hue with high performance liquid chromatography
Andrographis paniculata (Acanthaceae) is a medicinal plant commonly used in Vietnam in the 1980s. The chemical composition of the plant includes a group of diterpene lactones with antimicrobial, cytotoxic, antidiabetic, and anti-inflammatory activities. In this group, andrographolide is a typical compound. This paper describes a method for quantifying andrographolide in A. paniculata grown in Thua Thien Hue by using high-performance liquid chromatography. Andrographolide was analyzed on an RP-C18 column with a methanol/acetonitrile/water (55/10/35, v/v/v) mobile phase, a detecting wavelength of 225 nm, a flow rate of 0.5 mL/min, and an injected sample volume of 10 μL. This method displays linearity for andrographolide in the range of 200–1,000 μg/mL, and the recovery of andrographolide is 99.63 ± 0.88 %. The contents of andrographolide in root, stem, and leaf of A. paniculata grown in Vietnam were determined for the first time, and the values are 0.03 ± 0.007%, 0.57 ± 0.021%, and 3.98 ± 0.034%, respectively
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐẠI HỌC HUẾ
This study aims to assess and analyze the factors that affect the student’s academic performance enrolled in the Faculty of Accounting and Finance, University of Economics, Hue University. Data collected from the student records was used to estimate the marginal effects of the factors influencing student’s results by multivariate linear regression. The findings indicate that gender, training majors, entrance scores, and academic year affect the student’s achievement at a statistical significance of 1%.Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập (KQHT) của sinh viên Khoa Kế toán – Tài chính (KT-TC), Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế. Để ước lượng mức độ và chiều hướng tác động của những yếu tố đến KQHT của sinh viên, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến với nguồn số liệu được thu thập từ hồ sơ sinh viên. Kết quả cho thấy, các yếu tố như giới tính, ngành đào tạo, nơi thường trú của sinh viên, điểm tuyển sinh đầu vào và năm học có ảnh hưởng đến KQHT của sinh viên, với mức ý nghĩa thống kê 1%
SỰ LÂY LAN RỦI RO GIỮA TỶ GIÁ ĐỒNG VIỆT NAM VỚI CÁC ĐỒNG TIỀN CHỦ CHỐT CHÂU Á TRƯỚC VÀ TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19
This research utilizes the framework of forecast error variance decomposition to examine the extent of risk spillovers between the Vietnamese dong (VND) and vital Asian currencies before and during the Covid-19 pandemic. The findings show that, in general, the risk contagion between the VND and other crucial Asian currencies in the study is modest. Second, the intensity of risk spillovers is not constant but varies over time, spiking significantly when Covid-19 became a pandemic. Third, the VND is a net-risk receiver currency, especially from stronger currencies such as KRW, SGD, or JPY, and becomes more vulnerable during the disease occurrence.Nghiên cứu áp dụng khung phân tích phân rã phương sai sai số dự báo để khảo sát mức độ lây lan rủi ro tỷ giá giữa đồng tiền Việt Nam (VND) với các đồng tiền chủ chốt trong khu vực châu Á trước và trong đại dịch Covid-19. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Một là, nhìn chung mức lây lan rủi ro giữa VND với các đồng tiền châu Á chủ chốt trong nghiên cứu ở mức khiêm tốn. Hai là, cường độ lây lan rủi ro không cố định mà có sự thay đổi theo thời gian, tăng đột biến khi Covid-19 trở thành đại dịch. Ba là, đồng VND là đồng tiền nhận ròng rủi ro, đặc biệt từ các đồng tiền mạnh như KRW, SGD hay JPY và trở nên dễ bị tổn thương hơn khi dịch bệnh xảy ra
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN LOÀI VẰNG SẺ (Jasminum subtriplinerve) TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM
This study was conducted to evaluate the effects of factors on the growth and development of Jasminum subtriplinerve in nursery periods. The experiments were arranged according to the Split - Splot method, three repetitions. In experiment 1, the large plot had 6 concentrations of IAA and the small plot had 3 types of cuttings. experiment 2, the large plot had 3 types of substrates and the small plot had 4 levels of leaf cutting area. After 90 days, the seedling growth indicators of the best treatments of experiments 1 and 2: The survival rate: 83,33, 83,00%; The budding rate: 96,67, 96,67%; Number of buds: 3,00, 3,40 buds/cutting; Height: 12,93, 12,77 cm; Diameter: 0,86, 0,93 mm; Number of leaves/bud: 5,80, 5,93, rooting index: 122,62, 199,04 cm. The results of this study show that the breeding formula for of Jasminum subtriplinerve species that can be applied in the nursery stage is as follows: middle cuttings with 15 - 20 cm long, at least 3-4 burning eyes; leave 2 - 4 leaves, cut off 1/3 of the leaf area; growth stimulant is IAA concentration 1,000ppm; the substrate consists of 60% ancient alluvial soil + 10% sand + 22% manure + 5% microbial fertilizer + 3% NPK.Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến sinh trưởng và phát triển của loài Vằng sẻ (Jasminum subtriplinerve) trong giai đoạn vườn ươm. Các thí nghiệm được bố trí theo phương pháp Split – Splot, ba lần lặp lại. Trong đó, thí nghiệm 1, ô lớn là 6 nồng độ chất điều hòa sinh trưởng (ĐHST) 3-Indoleacetic acid (IAA) và ô nhỏ là 3 loại hom; thí nghiệm 2, ô lớn là 3 loại thành phần giá thể và ô nhỏ là 4 diện tích cắt lá. Sau 90 ngày, các chỉ tiêu sinh trưởng của các công thức tốt nhất của thí nghiệm 1 và 2 lần lượt là: tỷ lệ sống: 83,33, 83,00%; tỷ lệ nảy chồi: 96,67, 96,67%; số chồi: 3,00, 3,40 chồi/hom; chiều cao: 12,93, 12,77 cm; đường kính: 0,86, 0,93 mm; số lá/chồi: 5,80, 5,93 và chỉ số ra rễ: 122,62, 199,04 cm. Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng, công thức nhân giống loài Vằng sẻ có thể áp dụng trong giai đoạn vườn ươm là: loại hom bánh tẻ, độ dài 15 – 20 cm, có ít nhất 3 – 4 mắt dương; số lá để lại 2 – 4 lá, cắt bỏ 1/3 diện tích lá; chất ĐHST là IAA, nồng độ 1.000ppm; giá thể gồm 60% đất phù sa cổ + 10% cát + 22% phân chuồng + 5% phân vi sinh + 3% NPK
TÁC ĐỘNG CỦA HỌC TẬP LIÊN TỤC, KẾT NỐI HỆ THỐNG, LÃNH ĐẠO CHIẾN LƯỢC ĐẾN CHIA SẺ TRI THỨC TRONG CÁC TỔ CHỨC: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH KHU VỰC QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG – THỪA THIÊN HUẾ
Knowledge sharing is one of the crucial approaches to maintaining competitiveness in today's increasingly dynamic business environment. This quantitative research employs a questionnaire with a 5-point Likert scale and the PLS-SEM data processing approach on 181 managers in tourism businesses in the Quang Nam - Da Nang - Thua Thien Hue region to investigate the relationships between continuous learning, system connections, strategic leadership, and knowledge sharing within organizations. The research findings indicate that strategic leadership is the most influential factor, followed by system connections and continuous learning. This study provides valuable insights for tourism businesses in the three aforementioned regions to enhance knowledge-sharing practices for effective collaboration.Chia sẻ tri thức là một trong những cách quan trọng để duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng nhiều biến động như hiện nay. Nghiên cứu định lượng này sử dụng bảng câu hỏi với thang Likert 5 điểm và cách tiếp cận xử lý dữ liệu PLS-SEM trên 181 nhà quản lý doanh nghiệp thuộc hệ sinh thái kinh doanh du lịch ở khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng - Thừa Thiên Huế để kiểm tra mối quan hệ giữa học tập liên tục, kết nối hệ thống, lãnh đạo chiến lược với chia sẻ tri thức trong tổ chức. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng lãnh đạo chiến lược là yếu tố tác động lớn nhất, tiếp đến là kết nối hệ thống và học tập liên tục cũng có tác động tích cực đến chia sẻ tri thức. Nghiên cứu này cung cấp thông tin hữu ích cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch ở ba khu vực trên nhằm cải thiện hoạt động chia sẻ tri thức để hợp tác hiệu quả