Hue University Journal of Science (HU JOS)
Not a member yet
    4351 research outputs found

    XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ BỊ ẢNH HƯỞNG DO MỞ RỘNG KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HUẾ

    Get PDF
    This research was conducted to identify factors influenced by the expansion of urban space in Hue city. The study used principal component analysis (PCA -Principal Component Analysis), cluster analysis (CA - Clustering Analysis) and survey methods interviewing 420 households in the expanding urban space. The research results have identified 5 main groups of factors with 11 factors that are influenced by the expansion of urban space on land users in Hue city. In particular, indicators on address, land price, infrastructure and public services are most affected. Identifying the prominence of the urban development model and related impacts will help localities have new options suitable to actual conditions, contributing to promoting the urbanization process over time.Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các yếu tố bị ảnh hưởng do mở rộng không gian đô thị thành phố Huế. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA -Principal Component Analysis), phương pháp phân tích cụm (CA- Clustering Analysis) và phương pháp điều tra phỏng vấn 420 hộ dân trong vùng mở rộng không gian đô thị. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 5 nhóm nhân tố chính với 11 yếu tố bị ảnh hưởng do sự mở rộng không gian đô thị tới người sử dụng đất ở thành phố Huế. Trong đó, chỉ tiêu về địa chỉ, giá đất, cơ sở hạ tầng và dịch vụ công bị ảnh hưởng nhiều nhất. Việc xác định được tính nổi bật của mô hình phát triển đô thị và những ảnh hưởng liên quan sẽ giúp địa phương có thêm những phương án mới phù hợp với điều kiện thực tế, góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa trong thời gian tới

    A DỊ HÌNH KÍCH THƯỚC GIỚI TÍNH VÀ SỬ DỤNG VI MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA LOÀI ẾCH BÁM ĐÁ Amolops ricketti group (Anura, Ranidae) Ở VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

    No full text
    Amolops ricketti (group) is a species with nutritional and medicinal value. However, little is known about sexual size dimorphism (SSD), microhabitat use, and the mode of action of this species. We observed the behavior of this species in the field at Bach Ma National Park, combined with analyzing morphological characteristics in the laboratory. Based on 97 adult Rock Frog samples (44 males and 53 females), assessments and comparisons of morphological measurements and calculations of the SSD index were performed. The results showed that the average trunk length (SVL) of adult females was longer than that of adult males, with an SSD index of 0.23. This species lives in fast-flowing stream water, also known as torrential environments, with microhabitats mainly on high-slope rocks dominating (52.58%), followed by rocks with low-slope (34.02%). This species used the highest proportion of time for lying and waiting activities (77.78%). The mode of activity of this species is more suitable for the sit-and-wait model than the wide forager model. Some environmental, physical, and chemical indicators in the species' living area were also surveyed in this study.Ếch bám đá Amolops ricketti (group) là một loài có giá trị về dinh dưỡng, dược liệu. Tuy nhiên, thông tin về dị hình kích thước giới tính (SSD), sử dụng vi môi trường sống, phương thức hoạt động của loài này ít được biết đến. Chúng tôi đã quan sát các tập tính của loài này trong quá trình thực địa tại Vườn Quốc gia Bạch Mã kết hợp với việc phân tích các đặc điểm hình thái trong phòng thí nghiệm. Trên cơ sở 97 mẫu Ếch bám đá trưởng thành (44 con đực và 53 con cái), những đánh giá và so sánh các số đo hình thái, tính toán chỉ số SSD đã được thực hiện. Các kết quả cho thấy rằng chiều dài thân (SVL) trung bình của con cái trưởng thành lớn hơn con đực trưởng thành với chỉ số SSD = 0,23. Ếch bám đá sống ở nước suối chảy xiết, với vi môi trường sống chủ yếu trên các vách đá độ dốc cao chiếm ưu thế (52,58%), tiếp đến là các vách đá có độ dốc thấp (34,02%). Thời gian sử dụng cho các hoạt động nằm chờ chiếm tỷ lệ cao nhất (77,78%), phương thức hoạt động của loài này phù hợp với mô hình ngồi và đợi (sit-and-wait) hơn mô hình tìm kiếm rộng (wide forager). Một số chỉ tiêu lí hoá môi trường tại khu vực sống của loài cũng được khảo sát trong nghiên cứu này

    VAI TRÒ CỦA HẬU PHƯƠNG VĨNH LINH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC NHỮNG NĂM 1965-1975

    Get PDF
    Abstract After the victory of the resistance war against French colonialists (1954), the Geneva Agreement on Indochina was signed, according to the Agreement, Vietnam was temporarily divided into two regions, taking the 17th parallel, Ben Hai River running across Vinh Linh district, Quang Tri province. creating a temporary military boundary line. From here, Vinh Linh became a political - military zone at the front line, the front line of the socialist North, the immediate rear, the place where the North's military and ammunition warehouses gathered for the large front line. The South, where the main units stood before crossing the river to the South bank to fight, then returning to consolidate, rest, practice, and prepare for the new fight. During the resistance war against the US to save the country in the years 1965-1975, the Party Committee, army and people of Vinh Linh under the Party's leadership excellently completed the tasks of building, fighting, coordinating to fight, and firmly defending the country. The front line of the socialist North, actively supporting the southern battlefield, contributing with the army and people of the whole country to bring the resistance war to complete victory, Vinh Linh truly deserved to be the front line. heroes of the socialist North.Tóm tắt: Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (năm 1954), Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, theo Hiệp định, nước Việt Nam tạm chia thành hai miền, lấy vĩ tuyến 17, sông Bến Hải chạy ngang qua địa phận huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị làm đường ranh giới quân sự tạm thời.  Từ đây, Vĩnh Linh trở thành một điểm nút chính trị - quân sự địa đầu giới tuyến, là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương trực tiếp, nơi tập trung quân, kho tàng đạn dược của miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam, nơi đứng chân của các đơn vị chủ lực trước khi vượt sông sang bờ Nam chiến đấu, rồi trở lại củng cố, nghỉ ngơi tập luyện, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1975, Đảng bộ, quân và dân Vĩnh Linh dưới sự lãnh đạo của Đảng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng, chiến đấu, phối hợp chiến đấu, bảo vệ vững chắc hậu phương tuyến đầu miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tích cực chi viện hết mình cho chiến trường miền Nam, góp phần cùng quân dân cả nước đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, Vĩnh Linh thật sự xứng đáng là tiền tuyến anh hùng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa

    TẠO DÒNG VÀ PHÂN TÍCH TRÌNH TỰ GEN SERINE PROTEASE THỦY PHÂN FIBRIN TỪ GIUN QUẾ (Perionyx excavatus)

    No full text
    Lumbrokinase của giun quế (Perionyx excavatus) là một enzyme thủy phân fibrin. Trong nghiên cứu này, cDNA mã hóa gen lumbrokinase được khuếch đại với cặp mồi đặc hiệu được thiết kế dựa vào trình tự gen mã hóa lumbrokinase trên GenBank với mã số DQ234061. Đoạn cDNA có kích thước 726 bp được tạo dòng với vector pCR®2.1. Trình tự nucleotide của cDNA được so sánh với trình tự của gen lumbrokinase của các loài giun đất Eisenia fetida (mã số DQ234061), Lumbricus bimastus (mã số AY187629) và Lumbricus rubellus (mã số U25644) trên GenBank và có độ tương đồng lần lượt là 52,02%; 50,06% và 48,03%. Từ khóa: cDNA, lumbrokinase, giun quế (Perionyx excavatus)

    KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA NẤM Trichoderma VỚI NẤM BỆNH HẠI CÂY TRỒNG Sclerotium rolfsii Sacc TRONG ĐIỀU KIỆN IN VITRO

    No full text
    Nấm Scleroitum rolfsii là nấm có nguồn gốc từ đất và có phổ ký chủ rộng. Việc phòng trừ nấm S. rolfsii gặp nhiều khó khăn. Nấm đối kháng Trichoderma có nhiều tiềm năng trong phòng trừ sinh học nấm S. rolfsii. Bốn mươi chủng nấm Trichoderma được phân lập từ 8 mẫu đất khác nhau ở Thừa Thiên Huế và Quảng Trị. Khảo nghiệm khả năng ức chế và đối kháng với S. rolfsii,  có 11 chủng đối kháng cao; 26 chủng đối kháng trung bình, và 3 chủng đối kháng yếu. Mười một chủng ức chế cao có hiệu quả ức chế sợi nấm dao động 61,39 - 88,06%. Thời gian hình thành hạch nấm khi có mặt của nấm Trichoderma kéo dài hơn từ 5,33 - 7,67 ngày so với đối chứng (4,67 ngày). Sáu chủng nấm Trichoderma có khả năng ức chế giảm số lượng hạch nấm hình thành 0,00 - 1,91 hạch nấm/cm2 tản nấm so với đối chứng (3,93 hạch nấm/cm2 tản nấm). Trong đó đáng chú ý chủng ĐR16 có khả năng ức chế hoàn toàn sự hình thành hạch nấm S.rolfsii, làm cho hạch nấm không hình thành được. Từ khoá: Đối kháng, hạch nấm, nấm có nguồn gốc từ đất, Trichoderm

    NGHIÊN CỨU NUÔI CẤY MÔ CÂY BAO BÁP (Adansonia grandidieri L.)

    No full text
    Cây bao báp (Adansonia grandidieri L.) là loại cây thân đại mộc, hiếm ở Việt Nam. Do đó, vấn đề bảo tồn loài cây này rất cần thiết. Môi trường tốt nhất cho sự nảy mầm của hạt là môi trường cơ bản MS bổ sung 1,0 mg/L BA + 0,1 mg/L NAA. Môi trường tốt nhất cho sự tạo chồi từ đỉnh chồi và đoạn thân mang chồi nách của cây bao báp in vitro là môi trường cơ bản MS bổ sung 4,0 mg/L KIN + 0,1 mg/L NAA. Chồi được tạo rễ trên môi trường cơ bản MS có bổ sung IBA hoặc NAA, hình thành rễ tốt nhất trên môi trường MS có bổ sung 2,0 mg/L NAA. Cây nảy mầm in vitro và cây in vitro được đưa ra giá thể đất và cát với tỷ lệ 1:1, thích nghi với điều kiện tự nhiên và cho tỷ lệ sống sót đạt 93,33 %

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SẴN SÀNG CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG QUẢN TRỊ NHÂN SỰ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

    Get PDF
    The aim of this study is to identify and evaluate the impact of factors on the readiness for digital transformation in human resource management (HRM) of small and medium-sized enterprises (SMEs) in Thua Thien Hue province. Data from 207 SMEs were analyzed using quantitative methods such as exploratory factor analysis (EFA), confirmatory factor analysis (CFA), and structural equation modeling (SEM). The results show that digital leadership, digital culture, digital technology platforms, and digital capacity all directly affect the readiness for digital transformation in HRM and indirectly affect the readiness for digital transformation in HRM through the mediating variable of dynamic capability. Among these, the factor with the greatest impact is digital culture (β = 0.350), and the least impact is digital leadership (β = 0.209) at a 5% significance level. The variables in the model explain 65% of the variance in the readiness for digital transformation in HRM. Based on these findings, the study proposes managerial implications to promote the readiness for digital transformation in HRM of SMEs in Thua Thien Hue province in the future.Mục đích của nghiên cứu này nhằm xác định và đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến sự sẵn sàng chuyển đổi số trong quản trị nhân sự của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Số liệu khảo sát từ 207 doanh nghiệp nhỏ và vừa được xử lý trên các kỹ thuật định lượng như phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả cho thấy yếu tố lãnh đạo số, văn hoá số, nền tảng công nghệ số, năng lực số đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự sẵn sàng chuyển đổi số trong quản trị nhân sự, đồng thời ảnh hưởng gián tiếp thông qua biến trung gian là năng lực động, trong đó yếu tố ảnh hưởng lớn nhất là văn hoá số (với tổng mức tác động là 0,350) và yếu nhất là lãnh đạo số (với tổng mức tác động là 0,209) ở mức ý nghĩa 5%. Các biến trong mô hình giải thích được 65% sự biến thiên của sự sẵn sàng chuyển đổi số trong quản trị nhân sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy sự sẵn sàng chuyển đổi số trong quản trị nhân sự của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian tới

    ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ MANG TRỨNG CỦA LUÂN TRÙNG (Brachionus rotundiformis)

    Get PDF
    This study aimed to evaluate the effect of different diets on the growth performance and egg-carrying ratio of rotifer. The experiment was designed as completely randomly designed, including three diets with 3 replications: NT1 (100% Nannochloropsis oculata); NT2 (50% baker’s yeast + 50% Nannochloropsis oculata); and NT3 (100% Selco S.parkle). The results showed that water quality parameters were within the suitable ranges for growing rotifer. After 8 cultured days, the highest density of rotifer was in NT3                         (276 ind/mL) and was significantly different from other treatments (p < 0,05). Similarly, the highest population growth rate of rotifer was in NT3 (0.25%) on the sixth day. Also, the highest percentage of egg-carrying rotifer was also in NT3 (32.93%) and was significantly different from other treatments (p < 0,05). The results recommend that Selco S.parkle should be used to enhance the growth performance and biomass of rotifer.Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên sinh trưởng và tỷ lệ mang trứng của luân trùng (Brachionus rotundiformis). Thí nghiệm được thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn gồm ba nghiệm thức thức ăn và mỗi nghiệm thức được lặp lại ba lần: NT1 (100% tảo Nannochloropsis oculata); NT2 (50% tảo Nannochloropsis oculata + 50% men bánh mì); và NT3 (Selco S.parkle). Kết quả nghiên cứu cho thấy thông số môi trường trong suốt quá trình thí nghiệm như nhiệt độ, pH, oxy hòa tan, độ mặn, độ kiềm, NH3 biến động trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng của luân trùng. Sau tám ngày nuôi, mật độ Luân trùng cao nhất ở NT3 (276 cá thể/mL) và khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại (p < 0,05). Tương tự, tốc độ sinh trưởng quần thể ở cả ba nghiệm thức đều đạt giá trị cực đại vào ngày thứ sáu, cao nhất ở NT3 (0,25%) và có sự khác biệt có ý nghĩa (p > 0,05) so với các nghiệm thức còn lại. Tỷ lệ luân trùng mang trứng lớn nhất được tìm thấy ở NT3 (32,93%) vào ngày nuôi thứ bảy và khác biệt so với NT2 (30,17%) và NT1 (29,97%) (p < 0,05). Kết quả thí nghiệm cho thấy, trong nuôi sinh khối nên sử dụng Selco S.parkle để nâng cao tốc độ sinh trưởng và sinh khối của luân trùng

    NỘI DUNG DO NGƯỜI DÙNG TẠO VÀ HÌNH ẢNH ĐIỂM ĐẾN: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC

    Get PDF
    Social networks with content shared by tourists or users who have experienced tourism services are considered the primary source of information that forms the image of a tourism destination. Many studies have explored the relationship between user-generated content (UGC) and destination images. This article aims to review research on UGC and tourism destination images based on the bibliometric analysis method, analyzing data from 89 documents, including journal articles, conference proceedings, and book chapters obtained from the Scopus scientific database from 2010 to 2023. VOSviewer and Excel software are utilized to analyze the database. Co-citation and co-keyword analyses were performed to identify the foundation theory and the topic’s research directions. Among the findings, the article identifies that the research on UGC and destination images is still in its early stages; studies have mainly focused on content discovery, and there is still debate about the impact of UGC on tourism destination images.Mạng xã hội với việc chia sẻ nội dung của du khách hoặc người dùng đã từng trải nghiệm dịch vụ du lịch được xem là nguồn thông tin chính hình thành hình ảnh điểm đến du lịch. Nhiều nghiên cứu tập trung vào việc khám phá mối quan hệ giữa nội dung do người dùng tạo đối với hình ảnh điểm đến. Bài báo này nhằm mục đích xem xét các nghiên cứu liên quan đến nội dung do người dùng tạo và hình ảnh điểm đến du lịch dựa trên phương pháp phân tích trắc lượng thư mục, dữ liệu phân tích dựa trên 89 tài liệu bao gồm các bài báo, kỷ yếu hội thảo và chương sách thu được từ cơ sở dữ liệu khoa học Scopus trong giai đoạn 2010 đến 2023.  Phần mềm VOSviewer và Excel được sử dụng để phân tích cơ sở dữ liệu. Phân tích đồng trích dẫn và phân tích đồng từ khóa được thực hiện nhằm xác định lý thuyết nền tảng và các hướng nghiên cứu của chủ đề. Trong số các phát hiện, bài báo xác định được rằng nghiên cứu về nội dung do người dùng tạo và hình ảnh điểm đến vẫn đang ở giai đoạn đầu, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc khám phá nội dung, vẫn còn nhiều tranh cãi về tác động của nội dung do người dùng tạo đối với hình ảnh điểm đến

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ CANH TÁC ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY RAU MÁ (Centella asiatica (L.) Urban) NUÔI CẤY MÔ TẠI XÃ QUẢNG THỌ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

    Get PDF
    Quang Tho commune is the locality with the largest area of Centella growing in Thua Thien Hue province, with about 70 hectares, of which 52 hectares are produced according to the Vietgap standard. This study investigated the morphological, growth, and yield characteristics of in vitro Centella in Quang Tho commune. The results showed that the growth ability of in vitro origin seedlings was not significantly different from that of natural cuttings or seeds; they had smaller and higher uniform leaves. The in vitro centella shows the best results of leaf morphology, growth, leaf spot disease reduction, and yield when planted in the spring (from 10 to 20/2) with an average planting density (25 plants/m2). The yield reached 6.13 tons/ha with a low disease rate (12.01% after 14 days). Based on the total yield, the suitable duration to harvest is 25-28 days/time (total yield reaches 2.10 kg/m2). Developing a process for growing in vitro centella culture helps provide: Uniform, Disease-free seedlings for planting and helping increase Centella's economic value.Xã Quảng Thọ là địa phương có diện tích trồng rau má lớn nhất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế với diện tích khoảng 70 ha, trong đó có 52 ha rau má được sản xuất theo quy trình Vietgap. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã khảo sát các đặc điểm hình thái, sinh trưởng và năng suất của cây rau má có nguồn gốc nuôi cấy mô. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng sinh trưởng của cây rau má nuôi cấy mô không có sự khác biệt quá lớn so với cây rau má giâm hom tự nhiên hay từ hạt, cây có lá nhỏ hơn và độ đồng đều cao hơn. Cây rau má nuôi cấy mô có các chỉ tiêu về hình thái lá, sinh trưởng, bệnh đốm lá và năng suất tốt nhất khi được trồng vào vụ xuân (khoảng 10-20/2) với mật độ trồng trung bình (25 cây/m2), năng suất đạt 6,13 tấn/ha và có tỷ lệ bệnh đốm lá thấp (12,01% sau 14 ngày theo dõi). Khoảng cách giữa các lần thu hoạch của cây rau má nuôi cấy mô là 25-28 ngày cho năng suất cao nhất (tổng năng suất đạt 2,10 kg/m2). Từ các kết quả thu được, nghiên cứu đã góp phần xây dựng quy trình trồng cây rau má có nguồn gốc nuôi cấy mô để sản xuất rau má theo hướng hữu cơ, giúp tăng giá trị kinh tế của loại cây này

    1,602

    full texts

    4,351

    metadata records
    Updated in last 30 days.
    Hue University Journal of Science (HU JOS)
    Access Repository Dashboard
    Do you manage Open Research Online? Become a CORE Member to access insider analytics, issue reports and manage access to outputs from your repository in the CORE Repository Dashboard! 👇