Hue University Journal of Science (HU JOS)
Not a member yet
    4351 research outputs found

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG DU LỊCH – ĐẠI HỌC HUẾ

    Get PDF
    Nowadays, the continuous impact of the Covid-19 epidemic has had a substantial influence on school enrollment in the tourism industry, with the number of pupils enrolled decreasing dramatically. As a result, this research contributes to identifying the elements influencing students' institution selection, ultimately enhancing enrollment quality, and addressing the demands of today's students. More particularly, the study defined students' university selection in a group of tourism majors, notably the School of Hospitality and Tourism - Hue University. The study uses quantitative research methodologies to identify factors influencing students' school choice, evaluating questionnaires gathered from 150 students at Hue University's School of Hospitality and Tourism. According to the findings, the following elements influence students' university selection: (1) study circumstances; (2) school reputation and employment possibilities; (3) media; (4) tuition fees; and (5) other subjective considerations. Based on the research results, the article also suggests methods to enhance the School of Hospitality and Tourism - Hue University's potential to recruit students in the near future.Hiện nay, đại dịch Covid 19 đã và đang diễn ra đã có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tuyển sinh của các trường thuộc nhóm ngành du lịch khi số lượng sinh viên đăng ký học đã giảm xuống một cách rõ nét. Vì vậy, nghiên cứu này góp phần xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn trường đại học của sinh viên, từ đó có thể nâng cao chất lượng tuyển sinh cũng như đáp ứng được nhu cầu của sinh viên hiện nay khi lựa chọn trường học. Nghiên cứu cũng đã làm rõ việc lựa chọn trường đại học của sinh viên trong một nhóm ngành Du lịch, cụ thể là Trường Du lịch, Đại học Huế. Nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn trường đại học của sinh viên thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách phân tích bảng câu hỏi được thu thập từ 150 sinh viên tại trường Du lịch, Đại học Huế. Kết quả cho thấy các yếu tố ảnh hưởng việc lựa chọn trường đại học của sinh viên là: (1) Điều kiện học tập; (2) Danh tiếng của trường đại học và cơ hội việc làm; (3) Truyền thông; (4) Mức học phí và (5) Các yếu tổ chủ quan khác. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài báo cũng đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao khả năng thu hút sinh viên đến với trường Du lịch, Đại học Huế trong thời gian tới

    PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

    No full text
    Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) do hành vi gây ô nhiễm môi trường (ÔNMT) của doanh nghiệp. Đặc biệt, gần đây là Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2020, Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật BVMT... Những văn bản quy phạm nói trên bước đầu đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để truy cứu trách nhiệm BTTH do hành vi làm ÔNMT của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các quy định về BTTH do hành vi làm ÔNMT của doanh nghiệp hiện vẫn còn dừng lại ở mức quy định chung, mang tính nguyên tắc, gây khó khăn cho việc giải quyết các yêu cầu BTTH. Do đó, qua bài viết này tác giả sẽ phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật chỉ ra những điểm hạn chế của pháp luật, từ đó đưa các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm BTTH do hành vi gây ÔNMT của doanh nghiệp

    KHÁI LUẬN VỀ LÝ HỌC TỐNG NHO

    Get PDF
    Song Neo-Confucianism (Neo - Confucianism, The Cheng - Zhu school, Zhu Xi Study, Xing - Li Study) is the name of a movement of Chinese New Confucianism during the Song Dynasty (960-1279). This period marked the strong rise of Confucianism in the face of waves of Wei - Jin Xuanxue and Sui - Tang Buddhism, which were deeply rooted in the source of Chinese culture. Through the thorough combination of these streams of thought, Neo - Confucianism has created a strict system of philosophical categories to interpret human issues, thereby creating vitality for Confucianism in new context.Lý học Tống Nho (Lý học; Trình - Chu học phái; Chu Tử học; Tính - Lý học) là tên gọi một học phái của Nho giáo Trung Quốc thời Tống (960 – 1279). Giai đoạn này đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ của Nho giáo trong bối cảnh Huyền học Ngụy Tấn, Phật học Tùy Đường đang bám rễ vào mạch nguồn văn hóa Trung Quốc. Với việc dung thông các luồng tư tưởng đương thời, Lý học đã xây dựng một hệ thống phạm trù vô cùng chặt chẽ để luận giải vấn đề nhân sinh, qua đó góp phần tạo nên sức sống mới cho Nho giáo

    NHỮNG HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

    No full text
    Abstract: The article analyzes and evaluates the current status of Vietnamese legal regulations on general transaction conditions in property insurance contracts; on the basis of pointing out the limitations of the current law, thereby proposing some perfect solutions.Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam về điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm tài sản; trên cơ sở chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành từ đó kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện

    THE VIETNAMESE COMMUNITY IN POLAND: AN INVESTIGATION OF SOCIAL CAPITAL

    Get PDF
    Unlike previous migration studies that extensively concerned the adaptation issue, this study focuses on the social bases, investigating the configuration of the social capital of the Vietnamese community in Poland. It mainly concerns two main components of social capital: social networks and social trust. The data for empirical analyses in this study are employed from a research project examining the integration of the Vietnamese into the political sphere in Polish society. The project applies a mixed-research method design to collect quantitative data through an original social survey with 347 respondents and qualitative data from 15 semi-structured interviews. The findings reveal the social capital of the Vietnamese in Poland with a striking characteristic of a high level of bonding ties, primarily relying on close relations such as family or ethnic organizations to seek support and placing a very high level of confidence in family members. Nevertheless, this study also uncovers the accumulation of bridging social capital through developing out-group contacts and participating in cross-ethnic associations among the Vietnamese. The results of this study have significant implications for understanding the attachment tendency of the Vietnamese in Polish society

    MỘT SỐ KẾT QUẢ KHẢO SÁT LOÀI CÂY SƯA (DALBERGIA TONKINENSIS PRAIN) VÀ TÌNH HÌNH GÂY TRỒNG Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

    No full text
    Thừa Thiên Huế là một trong các địa phương có loài cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain.) phân bố tự nhiên nhưng vùng phân bố rất hẹp, kích thước quần thể nhỏ và toàn bộ các cây mẹ có khả năng cho hạt giống đã bị chặt hạ. Ngoài giống địa phương, ở Thừa Thiên Huế còn du nhập nhiều giống Sưa có xuất xứ khác nhau để gây trồng mà phổ biến nhất là hai xuất xứ Bắc bộ và Bố Trạch (Quảng Bình). Có sự khác khá rõ nét giữa các xuất xứ Sưa được gây trồng tại Thừa Thiên Huế về hình thái cơ quan sinh dưỡng, tình hình ra hoa kết quả và tốc độ sinh trưởng. Cây Sưa hiện đã được gây trồng theo hình thức tự phát khá rộng rãi trên nhiều điều kiện lập địa, quy mô, phương thức trồng và quản lý khác nhau, trong đó hình thức trồng phân tán trong vườn hộ gia đình là chủ yếu. Cây Sưa trong điều kiện gây trồng và chăm sóc bình thường có tốc độ sinh trưởng đường kính và chiều cao từ trung bình đến nhanh, nhất là ở cấp tuổi đầu. Khả sinh trưởng có liên quan đến các yếu tố như: xuất xứ nguồn giống, lập địa trồng và chế độ chăm sóc. Từ khóa: Sưa, Huê mộc, Thừa Thiên Huế, Nam Đông, Bố Trạch, Bắc bộ

    ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG DINH DƯỠNG, ĐỘ MẶN LÊN SỰ SINH TRƯỞNG CỦA ISOCHRYSIS GALBANA PARKER VÀ THÀNH PHẦN, HÀM LƯỢNG AXIT BÉO CỦA NÓ

    No full text
    Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng, độ mặn lên sự sinh trưởng của Isochrysis galbana Parker 1949 và phân tích, xác định thành phần, hàm lượng các axít béo của tảo cho thấy, trong ba môi trường nhân nuôi: môi trường F2, môi trường Walner và môi trường TT3 thì môi trường F2 tảo I. galbana phát triển tốt nhất. Ở 3 độ mặn nghiên cứu (25‰, 30‰ và 35‰) thì tảo phát triển tốt nhất ở độ mặn 30‰, tuy nhiên nếu nuôi tảo ở quy mô sản xuất đại trà thì theo chúng tôi, nên tiến hành nuôi ở độ mặn 25‰. Về thành phần và hàm lượng axit béo, hàm lượng lipit tổng số chiếm 6.71% trọng lượng tươi và có 10 axit béo đã được xác định – chiếm 75,06% tổng hàm lượng axit béo, trong đó axít béo bão hòa chiếm 30,75% còn axít béo chưa bão hòa – 44,31%

    THÀNH PHẦN LOÀI LƯỠNG CƯ, BÒ SÁT Ở VÙNG RỪNG CÀ ĐAM, TỈNH QUẢNG NGÃI

    No full text
    Kết quả nghiên cứu tại vùng rừng Cà Đam, tỉnh Quảng Ngãi đã xác định được danh lục gồm 74 loài lưỡng cư và bò sát (chiếm 13,58% so với toàn quốc) thuộc 55 giống, 18 họ, 3 bộ, gồm 24 loài lưỡng cư thuộc 18 giống, 7 họ, 1 bộ và 50 loài bò sát thuộc 37 giống, 11 họ, 2 bộ. Theo danh lục đã ghi nhận có 12 loài trong Nghị định 32, 15 loài trong Sách Đỏ Việt Nam, 12 loài trong Danh lục Đỏ Thế giới, 11 loài trong phụ lục của Công ước CITES. Thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở vùng rừng Cà Đam giống nhiều nhất so với khu hệ lưỡng cư, bò sát ở vùng núi Ngọc Linh, gần kế tiếp với KBTTN Sơn Trà, gần ít hơn với VQG Bạch Mã, gần ít nhất so với Núi Bà Đen. Ba loài mới cho khoa học ở Việt Nam đã công bố gần đây cũng được ghi nhận trong vùng nghiên cứu: Cyrtodactylus pseudoquadrivirgatus Rosler, Nguyen, Ngo & Ziegler, 2008; Acanthosaura nataliae Orlov, Nguyen & Nguyen, 2006; Cuora cyclornata Blanck, McCord & Le, 2006

    NGHIÊN CỨU GIUN ĐẤT VÀ CÁC NHÓM MESOFAUNA KHÁC Ở HUYỆN NAM ĐÔNG, THỪA THIÊN HUẾ

    No full text
    Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các nhóm ĐVKXS cỡ trung bình ở đất tại huyện Nam Đông, Thừa Thiên Huế. Kết quả đã xác định được 30 loài và phân loài giun đất, thuộc 3 giống, 3 họ; trong đó có 22 loài và phân loài lần đầu gặp ở huyện Nam Đông. Các loài tập trung chủ yếu trong giống Pheretima họ Megascolecidae (chiếm 93,35%); các  giống Drawida và Pontoscolex, mỗi giống chỉ có 1 loài (chiếm 3,33%). Đối với nhóm Mesofauna khác, đã xác định được 33 nhóm động vật không xương sống cỡ trung bình ở đất. Trong đó, lớp Côn trùng (Insecta) xác định được 02 giống, 10 họ và 7 bộ; lớp Chân môi (Chilopoda) xác định được 2 giống, 03 họ và 03 bộ; lớp Hình nhện (Arachnida) xác định được 02 loài, 04 họ và 03 bộ; lớp Chân kép (Diplopoda) xác định được 02 giống, 02 họ và 02 bộ; lớp Chân bụng (Gastropoda) có 01 bộ và 01 họ; riêng lớp Giáp xác(Crustacea) chỉ có bộ chân đều (Isopoda) và lớp Đỉa (Hirudinea) có 01 bộ và 01 họ. Trong các sinh cảnh ở Nam Đông, rừng nguyên sinh có thành phần, mật độ cá thể và sinh khối của các nhóm Mesofauna hơn hẳn các sinh cảnh khác (162 con/m2, sinh khối 194 g/m2) và mật độ cá thể thấp nhất ở sinh cảnh đất trồng cây ngắn ngày (61,3 con/m2)

    Enhancing harvesting efficiency of Tetraselmis sp. biomass from aquaculture wastewater via electrocoagulation technology

    Get PDF
    Harnessing nutrients in wastewater to cultivate microalgal biomass offers significant industrial and environmental benefits. However, the tiny size of marine microalgae Tetraselmis sp. makes traditional filtration methods ineffective, leading to high harvesting costs and energy consumption. This study deals with electrocoagulation and flocculation in recovering Tetraselmis sp. biomass from aquaculture wastewater, both individually and in combination, regarding their effectiveness. The results show that with an algal density of 1.16 ± 0.28 × 106 cells/mL in shrimp farming wastewater (salinity 25.0 ± 1.8‰, pH 8.3), combining flocculation (2.5 mg chitosan/L, pH adjusted to 8.2) with electrochemical treatment (TiO2 and RuO2-IrO2-TiO2 electrodes, 12 V, 3.5 A) achieved a recovery efficiency of 92% after 21 min. This method also minimized cell damage, yielding biomass with 8.5% protein, 2.4% lipid, and 23.9% carbohydrate. However, when applied individually, electrochemical treatment attained a recovery efficiency of only 37%, and flocculation reached an efficiency of 22%. These findings highlight the significant potential of electrocoagulation for harvesting Tetraselmis sp. biomass from aquaculture wastewater

    1,602

    full texts

    4,351

    metadata records
    Updated in last 30 days.
    Hue University Journal of Science (HU JOS)
    Access Repository Dashboard
    Do you manage Open Research Online? Become a CORE Member to access insider analytics, issue reports and manage access to outputs from your repository in the CORE Repository Dashboard! 👇