Dalat University Journal of Science / Tạp chí khoa học Đại học Đà Lạt
Not a member yet
558 research outputs found
Sort by
ĐỊNH VỊ TRUYỆN TRẠNG TRONG DÒNG TỰ SỰ DÂN GIAN VIỆT NAM
This article studies Trang’s stories of Vietnamese folklore. Through the difference of the Trang’s stories, we want to consider the genre of Trang’s stories in comparison with the categories of fairy tales, allegories, and jokes. Especially, in this article, we outline the development of Trang’s stories of Vietnamese folklore. Thereby, this study contributes to the research on Trang’s stories, in particular, and the type of narrative in folk literature in general.Bài báo này nghiên cứu về truyện Trạng dân gian Việt Nam. Thông qua sự khác biệt của truyện Trạng, chúng tôi muốn khẳng định tư cách thể loại của truyện Trạng so với các thể loại cổ tích, ngụ ngôn, và truyện cười. Đặc biệt, trong bài viết này, chúng tôi phác thảo con đường vận động hình thành truyện Trạng dân gian Việt Nam. Qua đó, góp phần vào việc nghiên cứu truyện Trạng nói riêng và loại hình tự sự trong văn học dân gian nói chung
TỔNG QUAN VỀ CÂY TRÔM VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN LOÀI NÀY Ở MỘT SỐ VÙNG KHÔ HẠN TẠI VIỆT NAM
Sterculia foetida L. is well adapted to many soils and is valuable in the food, cosmetic, medicine, pesticides, bio-oil, beverage, and furniture industries. More knowledge is needed about its value and uses, including resin tapping and storage, propagative methods and cultural uses. The literature on Sterculia foetida L. was summarized to provide guidance and to bring together key recommendations needed to successfully rehabilitate degraded lands and forests. Based on this review, we build on recent work to provide critical advice and state explicit objectives related to planting and developing of this species in Vietnam.Cây Trôm cho thấy khả năng thích ứng tốt với nhiều loại đất đai và mang lại nhiều giá trị khác nhau như thực phẩm, mỹ phẩm, y học, thuốc bảo vệ thực vật, dầu sinh học, nước giải khát, và đồ nội thất cho cuộc sống con người. Vì vậy, để đánh giá toàn diện cần có nhiều thông tin về giá trị và cách sử dụng, phương pháp khai thác và bảo quản nhựa, nhân giống và gây trồng. Các đánh giá được báo cáo tóm tắt trong nghiên cứu này và đưa ra những khuyến cáo cần thiết để phục hồi thành công đất đai và rừng bị suy thoái. Trên cơ sở đó, chúng tôi tổng hợp thông tin từ những nghiên cứu gần đây để cung cấp những chỉ dẫn hữu ích nhằm xác định vùng trồng thích nghi và phát triển loài cây này tại Việt Nam
ƯỚC TÍNH LƯỢNG PHÁT THẢI KHÍ METHANE TỪ NƯỚC THẢI SINH HOẠT TẠI HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH THEO HƯỚNG DẪN CỦA IPCC
Domestic wastewater has a high organic content and is thus one cause of greenhouse gas emissions. This study focuses on the estimation and prediction of methane emissions from wastewater in Lethuy district from 2017 to 2020 using the guidance of the IPCC. The results show that methane emissions have increased from 2017 to 2020 along with the population growth of Lethuy district. In 2020, the methane emissions of the low, medium, and high scenarios were, respectively, 226,280 tons/year, 386,804 tons/year, and 532,132 tons/year. The review of emission scenarios shows that if 80% of Lethuy households using septic tanks change to aerobic tanks, the methane emissions will drop by 71%.Nước thải sinh hoạt có hàm lượng hữu cơ cao nên sẽ phát thải một lượng đáng kể khí CH4. Theo IPCC (2006), hàm lượng chất hữu cơ dễ phân hủy trong nước thải càng cao thì mức độ phát sinh khí CH4 càng lớn. Nghiên cứu này tập trung vào ước tính lượng phát thải khí Methane từ nước thải sinh hoạt tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2017-2020 theo hướng dẫn của IPCC. Kết quả cho thấy, trong giai đoạn 2017-2020, tải lượng Methane phát thải tăng theo sự gia tăng dân số của huyện Lệ Thủy. Đến năm 2020, lượng Methane phát thải theo kịch bản thấp, trung bình, và cao lần lượt là 226,280 tấn/năm, 386,804 tấn/năm, và 532,132 tấn/năm. Mức độ phát thải khí CH4 ở kịch bản phát thải thấp (80% hộ gia đình sử dụng hố xí tự hoại chuyển sang sử dụng bể xử lý công nghệ hiếu khí) sẽ giảm 71% so với kịch bản phát thải cao
CÁC HỢP CHẤT PHYTOSTEROL, TRITERPEN, VÀ ALCOL MẠCH DÀI PHÂN LẬP TỪ LÁ TRÀ ĐÀ LẠT (Camellia dalatensis Luong, Tran & Hakoda)
By various chromatographic methods, five compounds including spinasterol, stigmasterol, oleanolic acid, docosane, and 1-tricosanol were isolated from the ethanol extract of the leaves of Camellia dalatensis Luong, Tran, & Hakoda. Their structures were elucidated by extensive spectroscopic methods including 1D-NMR, 2D-NMR, ESI-MS, and IR. This is the first report of these compounds from this species.Từ dịch chiết n-hexan và dichloromethan của lá Trà Mi Đà Lạt (Camellia dalatensis Luong, Tran, & Hakoda), bằng các phương pháp sắc ký kết hợp với các phương pháp phổ hiện đại (IR, 1H-NMR, 13C-NMR, DEPT, HSQC, HMBC, và ESI-MS) đã phân lập và nhận dạng được cấu trúc năm hợp chất là spinasterol, stigmasterol, acid oleanolic, docosan, và 1-tricosanol. Đây là lần đầu tiên các hợp chất này được phân lập từ loài C. dalatensis
KẾT CẤU CỦA THỂ LOẠI VÈ
“Vè” is widely acknowledged as a genre of Vietnamese folklore, introduced in many levels of the education system, but it is quite rare to research and learn about it. This paper presents the structure of “Vè” in two dimensions: The structure dependent on plot, consisting of three parts (introduction, description - i.e., telling the story, and ending); and The structure dependent on the characters’ personalities, dividing the people in a folktale into two types. At the same time, the author of this paper also compares the structure of “Vè” to that of some other types of narrative folklore (such as poetry, “Trạng” stories, fables, etc.). Today, there is limited research about “Vè”, so the problem that this paper addresses will be quite useful, and it is important to learn more about this genre.Vè được nhiều người thừa nhận là một thể loại thuộc văn học dân gian Việt Nam, được đưa vào giảng dạy trong các bậc học của hệ thống giáo dục, nhưng việc nghiên cứu, tìm hiểu về nó lại khá hiếm hoi. Bài viết này trình bày kết cấu của vè qua hai bình diện: Kết cấu theo lối tổ chức nội dung sự việc, gồm ba phần (phần mở đầu, phần miêu tả, kể lại câu chuyện, và phần kết thúc); và Kết cấu theo tính cách nhân vật, chia con người trong một tác phẩm làm hai tuyến. Đồng thời, bài viết cũng so sánh giữa kết cấu của vè với kết cấu của một số thể loại thuộc nhóm trần thuật của văn học dân gian khác (như truyện thơ, truyện trạng, truyện ngụ ngôn...). Trong điều kiện các nghiên cứu về vè hạn chế như hiện nay, vấn đề mà bài viết đặt ra sẽ ít nhiều có ích và là gợi ý quan trọng trong việc tìm hiểu về thể loại này
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG GIỚI TRONG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
This paper evaluates the impact of board gender diversity on the performance of 170 non-financial corporations listed on the Vietnamese stock market over the period 2010-2015. Research findings show that gender diversity, as measured by the proportion and number of female directors on the board, has a positive influence on firm performance. Moreover, we found robust evidence that the boards of directors with three or more female members may exert a stronger positive effect on firm performance than boards with two or fewer female members.Bài nghiên cứu này xem xét tác động của sự đa dạng giới tính trong Hội đồng quản trị (HĐQT) đến thành quả hoạt động của 170 doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010-2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự đa dạng giới tính được đo lường thông qua tỉ lệ thành viên nữ và số lượng nữ giới trong Hội đồng quản trị có ảnh hưởng tích cực đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, kết quả phân tích thực nghiệm còn cho thấy rằng Hội đồng quản trị có từ ba thành viên nữ trở lên sẽ mang lại ảnh hưởng tích cực hơn đối với thành quả hoạt động của doanh nghiệp so với khi Hội đồng quản trị chỉ có từ hai thành viên trở xuống
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHA LOÃNG ĐỒNG VỊ ĐỂ XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG Ce, Sm, VÀ Yb TRONG MẪU ĐỊA CHẤT BẰNG ICP-MS
In this study, we used the ID-ICP-MS technique to determine the concentration of Ce (LREE), Sm (MREE), and Yb (HREE) in three geological, certified reference materials: BHVO-2, BCR-2, and NIST 2711a. Calibration experiments using the ID technique, such as concentration calibration and relative isotopic abundance calibration for spike solutions, were conducted experimentally. In addition, mass spectral interferences and mass fractionation in ICP-MS were also investigated, corrected and discussed. For the first time in Vietnam, ID-ICP-MS has been successfully applied to determine three rare earth elements Ce, Sm, and Yb in basaltic geological samples (BHVO-2 and BCR-2) with high accuracy and reproducibility (<5%). For NIST SRM 2711a with soil matrix, the results of the accuracy and reproducibility were approximately 10%, except for the result obtained for Ce, with a dilution factor of 3000, which was 15.4% lower than the published value.Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng kỹ thuật ID-ICP-MS để xác định hàm lượng của Ce (LREE), Sm (MREE), và Yb (HREE)trong ba mẫu chuẩn địa chất: BHVO-2, BCR-2, và NIST 2711a. Các thí nghiệm hiệu chuẩn trong kỹ thuật ID như hiệu chuẩn hàm lượng và độ phổ biến đồng vị tương đối của dung dịch spike đã được tiến hành bằng thực nghiệm. Bên cạnh đó, nhiễu phổ khối, phân đoạn khối trong ICP-MS cũng được khảo sát, hiệu chỉnh và bình luận. Lần đầu tiên tại Việt Nam kỹ thuật ID-ICP-MS được áp dụng thành công để xác định ba nguyên tố đất hiếm Ce, Sm, và Yb trong mẫu địa chất có nền là đá basalt (BHVO-2 và BCR-2) với độ chính xác và độ lặp lại rất cao (< 5%). Đối với mẫu NIST SRM 2711a có nền là đất, kết quả phân tích có độ lặp lại và độ chính xác xấp xỉ 10%, ngoại trừ kết quả phân tích Ce với hệ số pha loãng DF ~ 3000, là thấp hơn giá trị thông tin của nhà sản xuất là 15.4%.
PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA SA HUỲNH (1909 - 2019)
In 1909, a short report by Vinet (1909) announced the "Discovery of a depot containing about 200 earthen mortuary containers which was buried not deep in the sand dune in the coastal area of Sa Huynh". This was the first announcement, opening a series of excavations and archaeological research in later years in Ducpho district (Quangngai). In 1923, Labarre went to Sa Huynh to carry out the excavation, and the excavation results were reported in Parmentier\u27s work "The depot of Sa Huynh jar burials in Quangngai, An Nam" in the journal of the EFEO (volume 24) published in Hanoi. The artifacts obtained from this excavation have been kept at the Museum of Vietnamese History to the present day. After this excavation, many other studies were published, and it is worthy of note that in 1936 the term Sa Huynh culture was proposed by Colani (1936). After 1975, along with the sites belonging to Sa Huynh culture in Quangngai, Vietnamese and foreign archaeologists have recognized and studied many Pre Sa Huynh, Sa Huynh, and Sa Huynh-like cultural sites in various localities in the Central Highlands and Southern Vietnam. The article describes the outstanding achievements of the archaeologists regarding the Sa Huynh culture since its discovery. New insights and knowledge about the nature, characteristics, chronology, origins, owners and cultural relations are also further commented on in this study. Some issues that need further research to conserve andpromote the value of the heritage are also mentioned.Năm 1909, một thông báo ngắn do Vinet (1909) công bố về “Phát hiện một kho chum gốm có khoảng 200 chiếc nằm cách mặt đất không sâu trong một cồn cát vùng ven biển Sa Huỳnh”. Đây là công bố đầu tiên, mở đầu cho hàng loạt nghiên cứu và khai quật khảo cổ học vào những năm sau đó trên địa bàn huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi). Đến năm 1923, Labarre tới Sa Huỳnh khai quật, kết quả này đã được Parmentier (1923) công bố trong tác phẩm “Kho mộ chum Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi, xứ An Nam” trong Tập san của Trường Viễn đông Bác cổ (tập 24), xuất bản tại Hà Nội, hiện vật trong đợt khai quật được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cho đến tận ngày nay. Sau đợt khai quật này, nhiều nghiên cứu khác được công bố, đáng chú ý là thuật ngữ Văn hóa Sa Huỳnh đã được Colani (1936) đề xuất. Sau năm 1975, bên cạnh một số di tích Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi, các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước đã phát hiện và nghiên cứu nhiều di tích tiền Sa Huỳnh, Sa Huỳnh và kiểu/giống Sa Huỳnh ở nhiều địa phương khác nhau thuộc miền Trung, Tây Nguyên, và Nam Bộ Việt Nam. Bài viết giới thiệu những thành tựu nổi bật của các nhà khảo cổ về văn hóa Sa Huỳnh từ khi phát hiện đến nay. Những nhận thức mới về đặc trưng, tính chất, niên đại, nguồn gốc, chủ nhân và mối quan hệ văn hóa cũng được luận bình thêm trong nghiên cứu; Một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của di sản cũng được đề cập
ĐỀN THỜ VÀ THẦN MẶT TRỜI TRONG VĂN HÓA ÓC EO Ở NAM BỘ
Belief in the Surya of India was adopted into Oc Eo culture in Southern Vietnam from the 2nd century BC to the 7th century AD and existed until the end of Oc Eo culture from 7th century AD to 12th century AD. The first stage was a temple built in brick or stone with a circlar shape in the center and a golden Sun wheel with eight rays. The next stage was a temple built of bricks with a sandstone statue of the Sun god. In this study, the author updates the current knowledge about the temple and the statue of the Surya in Oc Eo culture in southern Vietnam. The article discusses the introduction, chronology, and developmental process of the symbol of the Surya in Oc Eo culture. Additional materials for the study of Oc Eo culture are found in Phu Nam in Southern Vietnam.Tín ngưỡng thần Mặt Trời (Surya) của Ấn Độ đã được du nhập vào văn hóa Óc Eo ở miền Nam Việt Nam từ thế kỷ II trước Công nguyên (BC - Before Christ) đến thế kỷ VII sau Công nguyên và tồn tại cho đến cuối nền văn hóa Óc Eo từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII. Giai đoạn đầu tiên là ngôi đền ở ngoài trời được xây bằng gạch, hay bằng đá, ở trung tâm có hình vòng tròn, dưới vòng tròn có bánh xe Mặt Trời vàng có tám tia. Giai đoạn sau là ngôi đền được xây dựng bằng gạch, phía trên có tượng thần Mặt Trời bằng sa thạch. Trong nghiên cứu này, tác giả hệ thống và cập nhật các tư liệu hiện biết về đền và tượng thần Mặt Trời trong văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ. Thông qua nghiên cứu, bài viết sẽ thảo luận về quá trình du nhập, niên đại, hay diễn trình phát triển từ biểu tượng sang thần Mặt Trời trong văn hóa Óc Eo; Góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu về văn hóa Óc Eo - nhà nước Phù Nam ở Nam Bộ Việt Nam
BIỂU HIỆN TỔN THƯƠNG TÂM LÝ CỦA TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH KHÔNG TOÀN VẸN QUA XÚC CẢM, TÌNH CẢM CỦA TRẺ VỚI GIA ĐÌNH VÀ CUỘC SỐNG XÃ HỘI
The article addresses the expression of psychological trauma of children living in the non-integrity family through emotions and feelings of children regarding family and social life. The results show that there is a difference between the psychological and emotional trauma of three groups of children: “no psychological trauma”, “boundary state” and “psychological trauma in the non-integrity family”. In particular, children with psychological trauma in the non-integrity families have more negative emotions regarding family and social life than the other two groups. The statistics also show that the emotional expression of children regarding family and social life differs by education level (Sig. = 0.005).Bài viết đề cập đến biểu hiện tổn thương tâm lý (TTTL) của trẻ em trong gia đình không toàn vẹn (GĐKTV) qua xúc cảm và tình cảm của trẻ với gia đình và cuộc sống xã hội. Biểu hiện TTTL qua xúc cảm và tình cảm của ba nhóm trẻ “không có TTTL”, “trẻ ở mức ranh giới” và “trẻ TTTL trong GĐKTV” có sự chênh lệch. Trẻ TTTL trong GĐKTV có xúc cảm, tình cảm tiêu cực với gia đình và cuộc sống xã hội nhiều hơn so với hai nhóm còn lại. Số liệu còn cho thấy biểu hiện về xúc cảm và tình cảm của trẻ với gia đình và cuộc sống xã hội có sự khác biệt về cấp học (Sig. = 0.005)