Dalat University Journal of Science / Tạp chí khoa học Đại học Đà Lạt
Not a member yet
558 research outputs found
Sort by
HƯỚNG DẪN CÁC CHIẾN LƯỢC ĐỌC CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CẢI THIỆN KẾT QUẢ LÀM BÀI ĐỌC CỦA HỌC SINH TRÊN LỚP: NGHIÊN CỨU TẠI MỘT TRƯỜNG PHỔ THÔNG TRUNG HỌC Ở VIỆT NAM
Reading can be seen as an essential skill that language learners need to be good at, for it is one of the means of transferring many pieces of valuable knowledge in many fields of the world to many people and nations. One of the common barriers for many Vietnamese students studying English as a Foreign Language to acquiring reading skills is reading anxiety. For years, various researches have been conducted to test the effectiveness of students\u27 using cognitive reading strategies and of teachers’ reading strategy instruction to improve students’ performance in class. The present study aims to find out the effects of cognitive reading strategy training on Vietnamese EFL students’ reading performance in an upper secondary school in Vinh Long province, Vietnam. Furthermore, this study aims to find out students’ perceptions on the effectiveness of the training session in their use of cognitive reading strategies. The two groups, including 32 students in the experimental group and 37 students in the control group, participated in the study. The study utilized a mixed-method approach in which both qualitative and quantitative data from the questionnaire and interview were collected. The results from the data indicated that via cognitive reading strategy instruction, EFL students in the educational setting achieved a significant improvement in reading comprehension and they also had positive perceptions on the necessity of cognitive reading strategy training.Đọc là một kĩ năng quan trọng mà người học cần phải đạt được. Vì nếu đọc giỏi, người học có thể lĩnh hội được nhiều tri thức về nhiều lĩnh vực khác nhau của các dân tộc và quốc gia trên thế giới. Lo lắng khi đọc là một trong những vấn đề thường gặp trong quá trình học tiếng Anh của nhiều học sinh ngôn ngữ, điều đó đã ngăn cản việc tiếp thu ngôn ngữ nước ngoài của họ. Nhiều năm qua, một số bài nghiên cứu được tiến hành đã chỉ ra hiệu quả của việc sử dụng các chiến lược đọc nhận thức và hướng dẫn các chiến lược đọc cho sự cải thiện về kết quả làm bài đọc của học sinh trên lớp. Nghiên cứu này nhằm làm rõ về ảnh hưởng của việc rèn luyện sử dụng các chiến lược đọc nhận thức lên khả năng làm bài của học sinh ngôn ngữ ở một trường Cấp ba của tỉnh Vĩnh Long, Việt Nam. Thêm vào đó, mục đích của bài nghiên cứu còn nhằm xem nhận thức của học sinh về sự hiệu quả từ việc rèn luyện sử dụng các chiến lược đọc nhận thức. Hai nhóm, gồm 32 học sinh ở nhóm thực nghiệm và 37 học sinh ở nhóm đối chứng, đã tham gia vào cuộc khảo sát. Bài nghiên cứu sử dụng cả hai phương pháp định tính và định lượng để thu thập số liệu. Kết quả từ số liệu cho thấy có sự cải thiện tổng quát trong việc đọc hiểu của học sinh và có được nhận thức tích cực về việc rèn luyện cách sử dụng các chiến lược đọc nhận thức
PHÂN LỚP VĂN BẢN DỰA TRÊN SUPPORT VECTOR MACHINE
The development of the Internet has increased the need for daily online information storage. Finding the correct information that we are interested in takes a lot of time, so the use of techniques for organizing and processing text data are needed. These techniques are called text classification or text categorization. There are many methods of text classification, but for this paper we study and apply the Support Vector Machine (SVM) method and compare its effect with the Naïve Bayes probability method. In addition, before implementing text classification, we performed preprocessing steps on the training set by extracting keywords with dimensional reduction techniques to reduce the time needed in the classification process.Sự phát triển của Internet làm cho thông tin lưu trữ trực tuyến hàng ngày gia tăng nhanh chóng. Do vậy, để tìm đúng thông tin mà chúng ta cần quan tâm thì mất khá nhiều thời gian nên cần phải dùng những kỹ thuật tổ chức và xử lý dữ liệu về văn bản. Kỹ thuật này được gọi là phân lớp văn bản hay nói cách khác là phân loại văn bản. Đã có rất nhiều phương pháp nghiên cứu về phân loại văn bản nhưng trong bài viết này chúng tôi tìm hiểu và áp dụng phương pháp Support Vector Machine và so sánh hiệu quả của nó với phương pháp phân loại theo xác suất Naïve Bayes. Ngoài ra, trước khi thực hiện phân lớp chúng tôi thực hiện các bước tiền xử lý bằng cách trích xuất các từ khóa đặc trưng với kỹ thuật giảm chiều tập huấn luyện nhằm làm giảm thời gian trong quá trình phân lớp
NUÔI TRỒNG NẤM BÀO NGƯ (Pleurotus spp.) BẰNG CƠ CHẤT LÊN MEN
This study was carried out on the cultivation of five species of Pleurotus using fermentation substrate. Paddy (Oryza sativa) was used for spawn production. Five species of Pleurotus (identified and selected in the isolation process from mushroom farms in Lamdong province) with prepared compost were examined for time of spawn running, infection rate and biological efficiency. The experiment was set up as a completely randomized design with three replicates. Pleurotus hybrid (P. hybrid) and Pleurotus sajor-caju (P. sajor-caju) had good growth potential on compost. It took about 21 days for the mycelium to spread completely through the substrate (5kg per bag). However, P. abalonus, P. citrinopileatus, and P. djamor did not grow well on fermentation substrate. In this study, although the inoculation was not conducted under sterile conditions, fungal infections were not present (0%) and the biological efficiency exceeded 62% (P. hybrid attained 62.68 ± 9.13% and P. sajor-caju 62.82 ± 7.56%).Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng nuôi trồng năm loài nấm Pleurotus trên cơ chất lên men. Hạt thóc (Oryza sativa) được sử dụng để làm giống sản xuất. Năm loài Pleurotus (được định danh và tuyển chọn trong quá trình phân lập từ các trại nấm trong phạm vi tỉnh Lâm Đồng) được cấy vào compost, quá trình nuôi trồng được theo dõi và đánh giá qua các thông số: Thời gian mọc kín cơ chất, tỷ lệ nhiễm bệnh, và hiệu suất sinh học. Các thí nghiệm được thực hiện hoàn toàn ngẫu nhiên và được lặp lại ba lần. Kết quả cho thấy các loài P. hybrid và P. sajor-caju có tiềm năng sinh trưởng và phát triển tốt trên cơ chất lên men. Sợi nấm mọc kín hoàn toàn cơ chất (túi nilon chứa 5kg) trong khoảng 21 ngày. Tuy nhiên, cũng theo kết quả thu được, ba loài nấm P. abalonus, P. citrinopileatus, và P. djamor, không phù hợp để nuôi trồng trên cơ chất lên men. Trong nghiên cứu này, mặc dù quá trình cấy giống không được tiến hành trong điều kiện vô trùng, nhưng không ghi nhận hiện tượng nhiễm khuẩn, nhiễm nấm mốc (tý lệ nhiễm là 0%) và hiệu suất sinh học đạt trên 62% (P. hybrid đạt 62.68 ± 9.13% và P. sajor-caju đạt 62.82 ± 7.56%)
KỸ NGHỆ SƠ KỲ ĐÁ CŨ AN KHÊ Ở VIỆT NAM VỚI CÁI GỌI LÀ CON ĐƯỜNG MOVIUS
From 2014 to 2019, four of 23 Lower Paleolithic sites were excavated by a joint Vietnamese - Russian team of archaeologists in Ankhe town, Gialai province. The An Khe industry is characterized by a collection of stone tools made of local river and stream quartz, quartzite pebbles which are large, hard, and fine grained. Typologically, the representative tools are a complex of bifacial tools/handaxes, picks/triangular-sectioned picks, and choppers/chopping tools. The An Khe industry is dated by the K-Ar isotope method resulting in dates of 806,000 ± 22,000BP and 782,000 ± 20,000BP. The An Khe industry has similar characteristics in terms of material, technique, type, and date to the Baisei (China) industry. The archaeological discoveries in Vietnam and China show that bifaces appear from the Early Paleolithic. It would be a serious mistake to argue that those who manufactured handaxes represented a dynamic and advanced area, while the others who produced choppers/chopping tools represented a conservative and backward one.Từ năm 2014 đến 2019, các nhà khảo cổ học Việt - Nga đã khai quật bốn trong 23 địa điểm sơ kỳ Đá cũ ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Kỹ nghệ An Khê được đặc trưng bởi tổ hợp công cụ cuội quartz, quartzite, kích thước lớn, ghè đẽo thô sơ. Về loại hình học, phức hợp công cụ gồm ghè hai mặt/rìu tay, mũi nhọn/ mũi nhọn tam diện, và chopper/chopping. Kỹ nghệ An Khê có niên đại, tính bằng phương pháp Argon-kali, là 806,000 ± 22,000BP và 782,000 ± 20,000BP. Kỹ nghệ An Khê tương đồng với kỹ nghệ sơ kỳ Đá cũ Bách Sắc (Trung Quốc) cả về chất liệu, kỹ thuật và hình dáng công cụ. Các phát hiện khảo cổ học ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, các công cụ ghè hai mặt cùng xuất hiện từ sơ kỳ Đá cũ. Sẽ là sai lầm khi cho rằng, những người chế tao rìu tay là đại diện cho khu vực năng động, tiên tiến, còn những người chế tác chopper/choping lại là người bảo thủ và lạc hậu
TÌM HIỂU HIỆN TƯỢNG DI CƯ QUỐC TẾ Ở NGƯỜI CƠ HO HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
In the context of integration and globalization, international migration has become one of the major problems of this era. There has not been a period in history where the issue of migration has occurred on such a large scale and been so consequential. There are many causes for the migration process, including the law of supply and demand for labor, the difference in living standards, income, working conditions, welfare, social services, cultural enjoyment, etc. In this article, we will first focus on understanding the origin and types of overseas migration of the Co Ho of Lacduong district, Lamdong province. Then we will describe their overseas migration status and lastly, analyze the role of migration in family and community life.Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, di cư quốc tế đã trở thành một trong những vấn đề lớn của thời đại ngày nay. Chưa có thời kỳ nào trong lịch sử nhân loại vấn đề di cư lại diễn ra với quy mô lớn, tính chất, và có nhiều tác động như hiện nay. Có nhiều nguyên nhân thúc đẩy quá trình di cư, bao gồm quy luật cung - cầu về sức lao động, sự chênh lệch về mức sống, thu nhập, điều kiện làm việc, an sinh, dịch vụ xã hội, hưởng thụ văn hóa... Trong bài viết này, trước tiên chúng tôi tập trung tìm hiểu nguồn gốc, các loại hình của quá trình di cư ra nước ngoài của người Cơ Ho ở huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng; Thứ hai là mô tả thực trạng di cư ra nước ngoài của họ; và Thứ ba là phân tích vai trò của di cư ra nước ngoài trong đời sống gia đình và cộng đồng
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THÀNH CỔ LOA (2007 - 2014): TƯ LIỆU VÀ THẢO LUẬN
The results from the excavation at Co Loa citadel (Donganh district, Hanoi) in 2007 - 2014 provide many new data on the dates of its building stages, construction techniques, and other architectural features. Co Loa citadel, built by King An Duong, inherited a previous one - the citadel/ramparts of a defensive village from a chiefdom of the late Dong Son period. The citadel built by King An Dương was many times larger than the previous one. Therefore, the workload must have been of a level indicative of a social system with a centralized politic entity functioning as a primitive state. The research into the building techniques, scale, and architecture of the citadel demonstrates the Vietnamese style, which was very different from the Han style. After the period of King An Duong, the middle and outer ramparts of Co Loa citadel were renovated several times, including once under the Le period. This article describes research materials obtained at Co Loa citadel from 2007 to 2014. A discussion about techniques and stages of building the ramparts, the characteristics and chronology of the citadel, and, especially, the relationship between the history of the citadel and the process of state formation in the King An Duong era will be presented.Kết quả khai quật tại thành Cổ Loa (huyện Đông Anh, Hà Nội) năm 2007 - 2014 cung cấp nhiều tư liệu mới liên quan đến các giai đoạn xây dựng, kỹ thuật và các kiến trúc phụ trợ khác. Theo kết quả nghiên cứu, thành cổ Cổ Loa do vua An Dương Vương xây dựng đã kế thừa ngôi thành trước đó - thành/thành lũy của một ngôi làng phòng thủ tương tự như một hệ thống xã hội như tù trưởng ở giai đoạn muộn của văn hóa Đông Sơn. Tòa thành do An Dương Vương xây dựng lớn hơn nhiều lần so với tòa thành có từ trước, do đó khối lượng công việc phải làm tương đương với một hệ thống xã hội với thực thể chính trị tập trung hoạt động như một nhà nước. Nghiên cứu về kỹ thuật xây dựng, quy mô và kiến trúc của tòa thành thể hiện phong cách Việt Nam, rất khác biệt so với phong cách của nhà Hán. Sau thời kỳ vua An Dương Vương, thành Cổ Loa đã được tu sửa nhiều lần ở Thành Trung và Thành Ngoại, mà một trong những lần đó thuộc nhà Lê. Bài viết này giới thiệu tư liệu nghiên cứu thành Cổ Loa trong giai đoạn 2007 - 2014. Thông qua tư liệu sẽ trình bày một số nhận thức, thảo luận về kỹ thuật và các giai đoạn xây/đắp thành lũy; Đặc trưng và niên đại; Đặc biệt là lịch sử thành có mối quan hệ như thế nào với quá trình dựng nước thời An Dương Vương.
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN DU CỦA NGUYỄN THẾ QUANG
In this article, we introduce some basic language characteristics in Nguyễn Du by Nguyen The Quang: Narrative language, dialogue language, and monologue language. We discuss the ideology and theme of the work as well as contribute to affirming the value of the work in the development of the modern Vietnamese novel, especially historical fiction.Trong phạm vi bài báo này, chúng tôi tập trung giới thiệu một số đặc điểm cơ bản về phương diện ngôn ngữ trong cuốn tiểu thuyết Nguyễn Du của Nguyễn Thế Quang như: Ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ đối thoại, và ngôn ngữ độc thoại. Qua đó làm nổi bật lên tư tưởng và chủ đề của tác phẩm cũng như góp phần khẳng định giá trị của tác phẩm trong tiến trình vận động của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam, nhất là với loại tiểu thuyết lịch sử
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TRÁNH NÉ QUẢNG CÁO TRÊN FACEBOOK CỦA GIỚI TRẺ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
This research aims to discover and confirm the factors that influence the youths’ avoidance of advertising on Facebook. The data were analyzed from 335 young clients in Hochiminh City. The research model and scales were constructed from the theoretical basis of the advertising avoidance by Cho and Cheon (2004); Kelly, Kerr, and Drennan (2010). In this study, the author developed the scales of avoidance behavior from the dimension based on the privacy and the relationship between privacy concern and the avoidance of social networking site by Grubbs and Milne (2010). Quantitative research methods using SPSS were used for analysis in addition to qualitative research at the preliminary stage. The test results show that privacy concerns, impediments to awareness, information overload, and negative experiences are factors that strongly impact advertising avoidance. This is one of the first studies for the avoidance of advertising in Vietnam. Although it has only been empirically tested on Facebook, it has opened new doors for authors who want to learn about this aspect from various views.Nghiên cứu này nhằm khám phá và khẳng định các yếu tố tác động đến sự tránh né quảng cáo trong môi trường mạng xã hội Facebook của giới trẻ. Dữ liệu được phân tích từ 335 khách hàng là giới trẻ tại khu vực TP. Hồ Chí Minh. Mô hình nghiên cứu và các thang đo được xây dựng từ cơ sở lý thuyết về tránh né quảng cáo của Cho và Cheon (2004); Kelly, Kerr, và Drennan (2010). Trong đó, tác giả đã phát triển thang đo hành vi tránh né theo khía cạnh mới dựa trên cơ sở sự riêng tư và mối quan hệ giữa sự riêng tư và sự tránh né trên mạng xã hội của Grubbs và Milne (2010). Phương pháp nghiên cứu định lượng bằng SPSS được sử dụng để phân tích bên cạnh nghiên cứu định tính ở giai đoạn sơ bộ. Kết quả kiểm định cho thấy lo ngại quyền riêng tư, cản trở mục tiêu nhận thức và quá tải thông tin và trải nghiệm tiêu cực là những thang đo tác động mạnh đến sự tránh né quảng cáo. Nghiên cứu này là một khám phá tiên phong cho lĩnh vực tránh né quảng cáo tại Việt Nam. Tuy chỉ mới được kiểm định thực nghiệm ở mạng xã hội Facebook nhưng nó mở ra hướng đi mới cho các học giả muốn tìm hiểu về khía cạnh này ở những góc độ khác
CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH ĐỘ TRỄ KIỂM TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
The purpose of this research is to identify the determinants of audit report lag of the Vietnamese listed firms. Using a dataset of 176 firms listed on the Hochiminh Stock Exchange from 2013 to 2016, the ordinary least square pooled data model regression results show that the audit report lag of the Vietnamese firms is determined by four factors: The quality of the auditors, the profitability of the firms, the amount of inventory and account receivable, and the total amount of accrual of the listed firms. In particular, the firms’ profitability negatively affects the firms’ audit report lag, while the amount of inventory and account receivable positively affects the firms’ audit report lag. Contrary to previous literature, the Vietnamese listed firms which are audited by high-quality auditors usually have longer audit report lag, while the firms with large amount of total accruals generally have shorter audit report lag. A robust test is performed, where the regression equation is re-estimated using panel data estimation techniques with random effect model, and the results confirm the above conclusions.Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các nhân tố tác động đến độ trễ kiểm toán của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Dựa trên số liệu của 176 công ty niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2013-2016, kết quả phân tích hồi quy với dữ liệu nhóm cho thấy độ trễ kiểm toán của các công ty niêm yết tại Việt Nam được quyết định bởi bốn nhân tố: chất lượng công ty kiểm toán, mức độ sinh lời của doanh nghiệp, lượng hàng trong kho và các khoản phải thu, và lượng kế toán dồn tích của doanh nghiệp. Cụ thể, mức độ sinh lời của công ty có tác động nghịch biến lên độ trễ của báo cáo tài chính kiểm toán. Khối lượng hàng hóa trong kho và các khoản phải thu ngắn hạn của doanh nghiệp có tác động đồng biến lên độ trễ kiểm toán của doanh nghiệp. Trái với kết quả nghiên cứu ở các nước khác, tại Việt Nam, các doanh nghiệp được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán chất lượng cao thường có độ trễ báo cáo dài hơn; và các công ty có tổng lượng kế toán dồn tích lớn lại có độ trễ kiểm toán thấp hơn các công ty khác. Kiểm định tăng cường bằng mô hình hồi quy dữ liệu bảng với hiệu ứng ngẫu nhiên cũng xác nhận lại kết quả này
ĐA TÁC VỤ TIẾN HÓA: KỸ THUẬT TỐI ƯU HÓA MỚI
In the last decades, evolutionary algorithms (EAs) have been successfully applied to solve various optimization problems in science and technology. These issues are usually categorized into two groups: i) Single-objective optimization (SOO), where each point in the search space of the problem is mapped to a target value scalar; and ii) Multi-objective optimization (MOO), where each point in the search space of the problem is mapped to a target vector. In this paper, we will introduce a completely new kind of third-party evolutionary multitasking, which allows simultaneous optimization of different optimization problems on a single population and is called multifactorial optimization (MFO).Trong vài thập kỷ vừa qua, các thuật toán tiến hóa (Evolutionary Algorithms - EA) đã được áp dụng thành công để giải các bài toán tối ưu khác nhau trong khoa học và kỹ thuật. Các vấn đề này thường được phân loại vào hai nhóm: i) Tối ưu hóa đơn mục tiêu (single-objective optimization - SOO), trong đó mỗi điểm trong không gian tìm kiếm của bài toán được ánh xạ thành một giá trị mục tiêu vô hướng; và ii) Tối ưu hóa đa mục tiêu (multi-objective optimization-MOO), trong đó mỗi một điểm trong không gian tìm kiếm của bài toán được ánh xạ thành một vec-tơ (các giá trị) mục tiêu. Trong bài báo này, chúng tôi sẽ giới thiệu một loại thứ ba hoàn toàn mới đó là đa tác vụ tiến hóa (evolutionary multitasking), cho phép giải đồng thời nhiều bài toán tối ưu khác nhau trên một quần thể duy nhất và được gọi là tối ưu hóa đa nhân tố (multifactorial optimization - MFO)