Dalat University Journal of Science / Tạp chí khoa học Đại học Đà Lạt
Not a member yet
    558 research outputs found

    TỪ TÍNH CÁCH ĐẾN PHONG CÁCH NGƯỜI ĐÀ LẠT: TIẾP CẬN LÝ THUYẾT NHÂN HỌC VĂN HÓA VÀ KHUNG PHÂN TÍCH

    Get PDF
    Research on national and regional identity, characteristics, and lifestyle has been receiving increasing attention from scholars in the context of modernization and global integration. From the perspective of American psychological anthropology, this paper presents research trends from cultural and psychological anthropology to suggest an understanding about national characteristics and to build a theoretical framework on the style of Dalat’s people.Nghiên cứu về bản sắc, tính cách, và phong cách văn hóa dân tộc và các vùng miền lâu nay được quan tâm ở Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Tiếp cận trên lý thuyết nhân học tâm lý của nhân học Mỹ, bài báo trình bày các xu hướng nghiên cứu nhân học văn hóa và tâm lý văn hóa từ sự kết hợp văn hóa và tâm lý để đưa ra cách hiểu về tính cách dân tộc và xây dựng khung lý thuyết về phong cách người Đà Lạt hiện nay

    NỖ LỰC THỂ CHẾ HÓA QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở TÂY NGUYÊN TỪ THỜI KỲ THUỘC ĐỊA ĐẾN HẬU THUỘC ĐỊA

    Get PDF
    The Central Highlands were, until the early twentieth century, a sparsely populated and poorly developed area with limited contact with the outside world, inhabited by a multitude of diverse ethnic groups (Nguyen, 2019, tr. 5). In this "wilderness", various actors from outside interfered in, or even invaded, this strategically important area - first the Cham people and Champa feudal dynasties, then the empire of Vietnam, the French colonial power, the Viet Minh (and their successors), and finally the South Vietnamese State and the United States of America. In this work, in addition to some common theories on legitimate domination, the author tries to apply several national perspectives to explain each player’s attempts in legitimizing and stabilizing their control over the Central Highlands from the French colonial period until Vietnam was entirely independent and united in 1975.Cho đến đầu thế kỷ XX, Tây Nguyên vẫn được xem là một khu vực kém phát triển về kinh tế xã hội; Ở đó, các dân tộc thiểu số sinh sống tản mát và có rất ít sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Trên vùng đất “hẻo lánh” nhưng có vị trí địa chính trị đặc biệt quan trọng này, nhiều thế lực chính trị từ bên ngoài đã từng bước can thiệp và thậm chí xâm chiếm: Trước tiên là người Chăm và chính quyền phong kiến Champa, sau đó đến các triều đại phong kiến Việt Nam, tiếp đến là thực dân Pháp, và sau đó là chính quyền Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ. Bên cạnh việc áp dụng một số lý thuyết điển hình về quyền lực pháp lý, tác giả bài viết cũng dựa trên các quan điểm chính trị có nguồn gốc dân tộc nhằm làm rõ những nỗ lực của từng thế lực chính trị nêu trên trong việc thể chế hóa và ổn định quyền kiểm soát của họ ở Tây Nguyên từ thời kỳ Pháp thuộc đến khi nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập và thống nhất vào năm 1975

    SINH KẾ HỘ GIA ĐÌNH NGƯỜI H’MÔNG DI CƯ TỰ DO TẠI XÃ RÔ MEN, HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

    Get PDF
    This paper analyzes the funds used to ensure the livelihoods and clarifies the status of livelihood activities of the H’Mong in Romen commune. The research results show clearly that the livelihood resources of H’Mong households in Romen commune have been improved, especially natural capital and physical capital. Besides the main livelihood of crop cultivation, other livelihood activities such as trade and raising livestock are gradually forming and starting to grow. However, the financial and human capital of H’Mong households is still inadequate. From the research results, the article recommends some solutions for sustainable livelihood development for the H’Mong people in the future.Bài viết tập trung phân tích các nguồn vốn dùng để đảm bảo sinh kế của người H’Mông; Làm rõ thực trạng các hoạt động sinh kế của người H’Mông tại xã Rô Men, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ, so với trước khi di cư, nguồn lực sinh kế các hộ gia đình người H’Mông tại Rô Men đã được cải thiện, đặc biệt là vốn tự nhiên và vốn vật chất. Bên cạnh sinh kế chủ đạo là trồng trọt thì các hoạt động sinh kế khác như buôn bán, chăn nuôi đang dần hình thành và bắt đầu phát triển. Tuy nhiên, vốn tài chính và vốn con người của các hộ gia đình H’Mông còn nhiều thiếu hụt. Từ kết quả nghiên cứu, bài viết khuyến nghị một số giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người H’Mông trong thời gian tới

    TỐI ƯU HÓA ĐIỀU KIỆN CHIẾT XUẤT HỢP CHẤT PHENOL TỪ LÁ TRÀ ĐÀ LẠT CAMELLIA DALATENSIS LUONG, TRAN & HAKODA

    Get PDF
    The extraction conditions of polyphenols from Camellia dalatensis leaves were optimized by experimental design with five variables using Design-Expert V11.1.0.1 software. Using the methodology of response surface optimization, the optimal polyphenol extraction conditions were found to be an ethanol concentration of 49.29%, temperature at 60°C, a sonication time of 40min, a material size of 0.5mm, and a solvent/material ratio of 5.47.Các điều kiện chiết xuất polyphenol từ lá Trà mi Đà Lạt (C. dalatensis) đã được tối ưu hóa bằng phương pháp quy hoạch thực nghiệm, sử dụng phần mềm Design-Expert.V11.1.0.1. Qua phương pháp tối ưu hóa bằng đáp ứng bề mặt, các điều kiện chiết xuất polyphenol tối ưu đã được xác định là: Dung môi chiết cồn 49.29%, nhiệt độ chiết 60oC, thời gian siêu âm 40 phút, kích thước nguyên liệu 0.5mm, và tỷ lệ dung môi/nguyên liệu 5.47

    VỐN THƯƠNG HIỆU TRÊN NỀN TẢNG KHÁCH HÀNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG BÁN LẺ VIỆT NAM

    Get PDF
    Developing customer-based brand equity (CBBE) for retail banks in Vietnam is still questionable, and the subject has not been properly investigated due to the fact that Vietnam is a young developing country. To extend a study of CBBE to Vietnam, this research conducts a survey to interview 157 respondents who are customers of one or more banks. Based on Exploratory Factor Analysis and a Structural Equation Model (SEM), findings confirm that there are significant relationships between satisfaction, quality, and uniqueness, meaning that an increase in perceived quality causes a rise in brand satisfaction. Similarly, an increase in brand uniqueness increases brand satisfaction. Brand satisfaction significantly enhances brand loyalty, while perceived quality and brand uniqueness have indirect effects on brand loyalty. As a result, this paper suggests that perceived quality and brand uniqueness must be formed before brand satisfaction in order to enhance brand loyalty. Furthermore, the direct effects of perceived quality and brand uniqueness on brand loyalty are lower than their indirect influences on brand loyalty via brand satisfaction.Việc phát triển vốn thương hiệu trên nền tảng khách hàng (Customer-based brand equity - CBBE) với các ngân hàng bán lẻ ở Việt Nam vẫn chưa rõ ràng và chủ đề này chưa được nghiên cứu đầy đủ vì Việt Nam là một quốc gia đang phát triển. Để thực hiện nghiên cứu về CBBE ở Việt Nam, bài nghiên cứu này thực hiện khảo sát 157 đối tượng là khách hàng của một hoặc nhiều ngân hàng. Dựa trên phương pháp phân tích cấu trúc tuyến tính và kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá, các phát hiện cho thấy có mối quan hệ giữa sự hài lòng, chất lượng và tính độc đáo của thương hiệu, nghĩa là chất lượng cảm nhận tăng sẽ dẫn đến sự hài lòng về thương hiệu tăng. Tương tự, tính độc đáo của thương hiệu tăng cũng dẫn đến tăng sự hài lòng. Sự hài lòng về thương hiệu làm tăng sự trung thành với thương hiệu. Nghiên cứu này cũng cho thấy chất lượng cảm nhận và sự độc đáo của thương hiệu phải hình thành trước sự hài lòng để làm tăng sự trung thành với thương hiệu. Hơn nữa, tác động trực tiếp của chất lượng cảm nhận và sự độc đáo của thương hiệu đối với sự trung thành của thương hiệu thấp hơn tác động gián tiếp thông qua sự hài lòng về thương hiệu

    MỘT CÁCH TIẾP CẬN KẾT HỢP MẠNG NƠ-RON HỒI QUY VÀ TẬP LUẬT CHO PHÁT HIỆN XÂM NHẬP MẠNG

    Get PDF
    Network intrusion detection is one of the most important issues of network security and is a research interest of many researchers. In this paper, we present a model based on the combination of recurrent neural networks and rule sets for the network intrusion detection problem. The main idea of the model is to combine the strengths of each classification model. The rule set is capable of detecting known attacks, while the recurrent neural network has the advantage of detecting new attacks. A comparison of the detection efficiency of our model with the previous detection models on the same data set, KDD CUP 99, shows that the proposed model is effective for detecting network intrusions at rates higher than 99%.Phát hiện xâm nhập mạng là một trong những vấn đề quan trọng nhất của an ninh mạng và được rất nhiều nhóm trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trong bài báo này chúng tôi trình bày một mô hình dựa vào việc kết hợp mạng nơ-ron truy hồi (recurrent neural network) và tập luật (rules) để phát hiện xâm nhập mạng. Ý tưởng chính của mô hình là việc kết hợp những điểm mạnh trong từng mô hình phân loại đơn lẻ. Tập luật có khả năng phát hiện tốt những cuộc tấn công đã biết, trong khi đó mạng nơ-ron truy hồi lại có ưu thế trong việc phát hiện những cuộc tấn công mới. Từ việc so sánh hiệu quả phát hiện giữa mô hình của chúng tôi với các mô hình phát hiện trước đây trên cùng bộ dữ liệu chuẩn KDD CUP 99 cho thấy mô hình đề xuất có hiệu quả cho việc phát hiện xâm nhập mạng tỷ lệ phát hiện xâm nhập cao trên 99%

    NHỮNG NGHIÊN CỨU CỔ NHÂN HỌC QUAN TRỌNG CỦA VIỆT NAM (1906 - 2018)

    Get PDF
    This article summarizes all important research achievements concerning ancient human remains in Vietnam for over 100 years.In the Early Palaeolithic, more than half a million years ago, Homo erectus existed - this is the beginning of Vietnamese prehistory. Human evolution in Vietnam has taken place continuously from Homo erectus to Homo sapiens to Homo sapiens sapiens. The above data also enable us to realize the early and continuous sapienization in Vietnam. Early Homo erectus remains were found in Tham Khuyen and Tham Hai caves from more than half a million years ago. Late Homo sapiens remains were found in Lang Trang cave (80,000BP), in Hang Hum and Tham Om caves (60,000BP), and Ma Uoi cave (49,000BP). Homo sapiens sapiens remains were found at the Nham Duong, Thung Lang, and Keo Leng sites (40,000BP). The Son Vi inhabitants lived from 30,000 to 11,000BP and from the process of mixture became modern people. The paper presents the systemization and updated research on ancient human remains. From the data, we will better understand the process of formation and evolution of the human communities in the territory of Vietnam.Bài viết này giới thiệu toàn bộ những thành tựu nghiên cứu quan trọng về di cốt người cổ ở Việt Nam trong hơn 100 năm qua. Qua tư liệu có thể thấy, từ sơ kỳ Đá cũ cách ngày nay hơn nửa triệu năm đã có con người đứng thẳng Homo erectus cư trú - đây là mốc khởi đầu cho lịch sử Việt Nam. Quá trình ra đời và phát triển của người cổ ở Việt Nam diễn ra liên tục từ Homo erectus - Homo sapiens - Homo sapiens sapiens. Tư liệu trên cũng cho phép chúng ta nhận thức về quá trình Sapiens hóa ở Việt nam là sớm và liên tục. Hơn nửa triệu năm trước là Homo erectus (hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai), Homo sapiens ở Làng Tráng (80,000BP), Hang Hùm, Thẩm Ồm (60,000BP), hang Ma Ươi (49,000BP), Homo sapiens sapiens ở Nhẫm Dương, Thung Lang, Kéo Lèng (40,000BP), người Sơn Vi (30,000 - 11,000BP), rồi đến quá trình pha trộn và hòa huyết để trở thành các tộc người như ngày nay. Kết quả của bài viết đã hệ thống và cập nhật nhất về nghiên cứu di cốt người cổ. Thông qua tư tiệu sẽ giúp chúng ta có những nhận thức đầy đủ hơn về quá trình hình thành và phát triển của các cộng đồng tộc người trên lãnh thổ Việt Nam

    ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN TUYẾN TRÙNG HẠI KHOAI TÂY (Solanum tuberosum) TẠI ĐÀ LẠT

    Get PDF
    Plant-parasitic nematodes on potato were identified by morphology of juveniles and adults. Extraction of vermiform nematodes in soil and roots was made by modified Baermann technique and root gall index was dertermined following Bridge and Page (1980) chart. Results show that there were six genus, five families and one order of parasitic-plant nematodes in soil. The ratio of Helicotylenchus was the highest (93.33%), followed by Meloidogyne (83.33%), Pratylenchus (50%), Criconemella (33.33%), Ditylenchus (30%), and Globodera at only 20%. Density of plant parasitic nematodes ranged from 500 individuals to 3,000 individuals per 50 cm3 of soil, 200 to 2,204 individuals per 5 grams of roots. Root gall index ranged from 1,754 to 5,262.Điều tra xác định thành phần tuyến trùng ký sinh thực vật bằng mô tả hình thái tuyến trùng tuổi hai và tuyến trùng trưởng thành. Xác định mật số tuyến trùng trong đất và trong rễ khoai tây bằng phương pháp Baermann cải biên, mức độ gây hại của tuyến trùng bằng phương pháp của Bridge và Page (1980). Qua quá trình điều tra đã xác định được sáu giống thuộc năm họ và một bộ tuyến trùng thực vật ký sinh gây hại trên khoai tây. Trong đó giống Helicotylenchus có tần suất xuất hiện cao nhất với 93.33%, Meloidogyne có tần suất xuất hiện 83.33%, Pratylenchus có tần suất xuất hiện 50%, và Criconemella có tần suất xuất hiện 33.33%, Ditylenchus có tần suất xuất hiện 30%, Globodera có tần suất xuất hiện 20% trong tổng số 30 vườn được điều tra. Mật số tuyến trùng ký sinh gây hại trong đất phổ biến ở khoảng từ 500 cá thể đến 3,000 cá thể trong 50cm3 đất, trong rễ từ 200 đến 2,204 cá thể và mức độ gây hại là 1,754 đến mức 5,262

    ẢNH HƯỞNG CỦA CẢM NHẬN RỦI RO ĐẾN THÁI ĐỘ, Ý ĐỊNH VÀ HÀNH VI MUA THỊT LỢN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

    Get PDF
    The main aim of this study was to examine the effects of perceived risk on attitudes, intentions and consumers’ behavior regarding pork purchases in Hochiminh City based on the Theory of Reasoned Action in situations of hypothetical food safety risk. Data are from a survey of 240 respondents from Hochiminh City, and a structural equation model approach is used for data analysis. Results indicate that attitudes have a positive effect on intentions, and intentions have a positive effect on behavior. Risk perception has a negative effect on intention and behavior. The study results suggest that when consumers have positive attitudes and perceive lower risks, they have more incentives to purchase.Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xem xét ảnh hưởng của cảm nhận rủi ro đến thái độ, ý định và hành vi tiêu dùng thịt lợn tại TP. Hồ Chí Minh dựa trên khung lý thuyết hành động hợp lý trong tình huống giả định có rủi ro thực phẩm xảy ra. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính với một mẫu nghiên cứu thuận tiện gồm 240 người tiêu dùng cho thấy thái độ ảnh hưởng tích cực đến ý định và ý định ảnh hưởng tích cực đến hành vi; Cảm nhận rủi ro ảnh hưởng tiêu cực đến ý định và ảnh hưởng tiêu cựu đến hành vi. Kết quả nghiên cứu hàm ý rằng trong tình huống xảy ra rủi ro an toàn thực phẩm, việc gia tăng thái độ tích cực và cắt giảm cảm nhận rủi ro đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng ý định và hành vi mua thịt lợn của người tiêu dùng

    HỌC HỎI KHÁM PHÁ VÀ KẾT QUẢ LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU TRONG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

    Get PDF
    This paper aims to examine the effects of exploratory learning and risk taking on individual employee performance. The research question was empirically tested in the higher education setting using 181 survey questionnaires from academics of a top public university in Vietnam. The findings confirm that exploratory learning has a positive impact on employee performance. In addition, risk taking, one of the organizational learning capability dimensions, has a moderating effect on this relationship. Specifically, the greater the risk taking, the stronger the relationship between exploratory learning and employee performance. This study discusses some implications for management in the university setting generally, and in Vietnam particularly, in enhancing their academics’ performance through exploratory learning, thereby helping them to keep up with global changes and improve their competitiveness.Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát ảnh hưởng của học hỏi khám phá và mức độ chấp nhận rủi ro đến kết quả làm việc của nhân viên. Câu hỏi nghiên cứu được kiểm định trong môi trường giáo dục đại học, sử dụng 181 bảng điều tra khảo sát của giảng viên tại một trường đại học công lập lớn và có uy tín ở Việt Nam. Kết quả cho thấy học hỏi khám phá có ảnh hưởng tích cực đến kết quả làm việc của nhân viên. Ngoài ra, mức độ chấp nhận rủi ro, một trong những thành phần chính của năng lực học hỏi tổ chức đóng vai trò điều tiết đối với mối quan hệ này. Cụ thể là, mức độ chấp nhận rủi ro càng cao thì ảnh hưởng của học hỏi khám phá đến kết quả làm việc của nhân viên càng lớn. Nghiên cứu đưa ra một số hàm ý cho các nhà quản lý giáo dục đại học nói chung và ở Việt Nam nói riêng trong việc nâng cao kết quả làm việc của giảng viên thông qua học hỏi khám phá, từ đó giúp các trường đại học theo kịp với những thay đổi trên toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

    345

    full texts

    558

    metadata records
    Updated in last 30 days.
    Dalat University Journal of Science / Tạp chí khoa học Đại học Đà Lạt
    Access Repository Dashboard
    Do you manage Open Research Online? Become a CORE Member to access insider analytics, issue reports and manage access to outputs from your repository in the CORE Repository Dashboard! 👇