Dalat University Journal of Science / Tạp chí khoa học Đại học Đà Lạt
Not a member yet
    558 research outputs found

    TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ LÊN ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

    Get PDF
    This study examines the impact of board structure on financial leverage decisions, as measured by the ratio of total debt to total assets, of nonfinancial firms listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange. Based on a dataset of 1,592 observations collected from 199 firms for the period from 2012 to 2019, the analysis shows a correlation between board characteristics and a firm’s financial leverage. Specifically, the higher the number of annual board meetings or the larger the number of female members on the board of directors, the lower the rate of financial leverage. On the other hand, the size of the board and the presence of CEOs on the board do not have a significant influence on financial leverage decisions. A robust test using the system of generalized method of moments (GMM) to control for endogeneity generally confirms the results.Nghiên cứu này kiểm chứng sự tác động của cấu trúc hội đồng quản trị tới quyết định đòn bẩy tài chính, cụ thể là tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản, của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong vòng tám năm từ năm 2012 đến 2019. Dựa trên bộ dữ liệu gồm 1,592 quan sát thu thập từ 199 doanh nghiệp, kết quả phân tích cho thấy có mối tương quan giữa đặc điểm hội đồng quản trị và đòn bẩy tài chính. Cụ thể, số lượng cuộc họp hội đồng quản trị hàng năm càng nhiều hay số lượng thành viên nữ trong hội đồng quản trị càng lớn thì tỷ lệ đòn bẩy tài chính càng thấp. Trong khi đó, quy mô hội đồng quản trị và vai trò kiêm nhiệm của giám đốc điều hành không có ảnh hưởng đáng kể tới các quyết định tài chính. Các phương pháp kiểm định tăng cường, mô hình động và phương pháp ước lượng system-GMM được sử dụng để ước lượng hệ số hồi quy, tăng tính chính xác và khẳng định kết quả thu được từ mô hình nghiên cứu

    TẠI SAO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM GIỮ TIỀN MẶT?

    Get PDF
    This research aims at exploring the current state and the reasons for holding cash of Vietnamese firms. Using a dataset of 199 companies listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange in the period from 2011 to 2018, statistical analyses indicate that the median level of cash holding by net assets of Vietnamese firms is about 5.9%, which is lower than firms in many countries in the region. High levels of cash holding only appear among small firms. In addition, the cash holding ratios of firms in all four size quantiles have shrunk since 2016, especially for firms in the smallest size quantile. Regression results show that Vietnamese firms tend to hoard cash when business conditions improve, when they have low growth opportunities, or when business risks increase. On the other hand, Vietnamese firms tend to reduce holding cash when other internal sources of cash substitutes are in abundance or when external fund accessibility improves. These characteristics support the trade-off theory of cash holding, meaning that Vietnamese firms hold cash mainly for transactional and precautionary purposes. Additional analyses show that the rate of adjustment of cash holding toward the target level is about 30% a year. Taken together, the results confirm the hypothesis that Vietnamese firms hold cash for transactional and precautionary purposes, and they constantly reconsider the benefits and costs of adjusting cash holding ratios to the target levels. The research results have two main implications. Firstly, the fact that firms with low growth opportunities have higher cash holding ratios indicates that these firms’ board of directors may have been inefficient in monitoring and disciplining the behavior of firms’ executives toward shareholder interests. Secondly, the fact that Vietnamese firms have low and dwindling cash holdings in recent years and use their cash stock mainly for transactional and precautionary purposes may be a sign of internal resource deficiency. Given that internal resources are vital to investments in research and development, which in turn contribute to firms’ future growth and competitiveness, the current low level cash holding is a bad sign for the future growth as well as the long-term competitiveness of Vietnamese firms.Nghiên cứu này hướng đến khám phá thực trạng và lý do nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp Việt Nam. Dựa trên tập dữ liệu gồm 199 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2011 đến 2018, kết quả phân tích thống kê cho thấy mức nắm giữ tiền mặt phổ biến của doanh nghiệp Việt Nam là khoảng 5.9%. Tỉ lệ nắm giữ tiền mặt cao chỉ xuất hiện ở các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Ngoài ra, tỉ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp ở tất cả bốn nhóm phân vị theo quy mô đều có xu hướng giảm kể từ năm 2016, mà mạnh nhất là ở nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ. Phân tích hồi quy cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam thường tăng tích trữ tiền mặt khi điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp thuận lợi hay rủi ro kinh doanh gia tăng và giảm tích trữ tiền mặt khi có các nguồn vốn nội bộ khác hay khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng trở nên dễ dàng hơn. Các đặc trưng này ủng hộ lý thuyết cân bằng lợi ích và chi phí (Trade-off theory) trong nắm giữ tiền mặt. Các kiểm định tăng cho thấy tốc độ điều chỉnh tỉ lệ tiền mặt nắm giữ là khoảng 30% mỗi năm; Qua đó, cũng ủng hộ kết luận các doanh nghiệp Việt Nam nắm giữ tiền mặt nhằm mục đích thanh toán và dự phòng rủi ro và có tính toán cân bằng giữa lợi ích và chi phí khi quyết định lượng tiền mặt nắm giữ tối ưu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra hai hàm ý chính sách đối với nhà nghiên cứu và nhà đầu tư. Thứ nhất, kết quả phân tích cho thấy ban điều hành của nhóm doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng thấp và ít cơ hội đầu tư trong tương lai đã có những quyết định giữ tiền mặt phi kinh tế và có thể ban quản trị doanh nghiệp đã không làm tròn chức năng giám sát và điều chỉnh hành vi của ban điều hành theo lợi ích của cổ đông. Thứ hai, việc các doanh nghiệp Việt Nam có tỉ lệ nắm giữ tiền mặt khá thấp và chủ yếu phục vụ mục đính giao dịch cũng có thể là một dấu hiệu cho thấy năng lực đầu tư nội bộ là thấp. Điều này sẽ hạn chế khả năng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng và cạnh tranh lâu dài của doanh nghiệp

    ĐỒNG NAI THỜI SƠ SỬ: NƠI GẶP GỠ CỦA NHIỀU LUỒNG VĂN HÓA

    Get PDF
    Regarding protohistoric and early historic archeology in southern Vietnam, perhaps it is not too exaggerated to consider the Southeast Region as a starting place for the convergence and spread of cultural flows. Traces of the activities of the ancient people here stretched from the Stone Age - Metal Age - Historical Age and are distributed on many different terrains. The factors of “Clement weather - Favorable terrain - Concord among the people” in the Southeast Region have long been cited by multiple researchers to explain the concentration and diversity of archaeological relics here. This study places the Southeast Region - Dongnai in the context of the area in early history (5th century BC to 1st-2nd century AD) to focus on several issues: the context of early history of Vietnam and mainland Southeast Asia,early historicresidential communities in Dongnai, andthe value of archaeological heritage in early history and sustainable development in Dongnai.Nói đến khảo cổ học sơ sử ở miền Nam Việt Nam có lẽ không quá khi nhận định rằng vùng đất Đông Nam Bộ là địa bàn khởi đầu và xuất phát cho sự hội tụ và lan tỏa các luồng văn hóa. Các dấu vết hoạt động của người cổ nơi đây trải dài suốt từ thời đại Đồ đá - Kim khí - Lịch sử và phân bố trên nhiều dạng địa hình khác nhau. Yếu tố “Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa” của vùng đất Đông Nam Bộ từ lâu đã được nhiều người nghiên cứu để lý giải cho mật độ tập trung và tính chất đa dạng của các di tích khảo cổ học ở đây. Nghiên cứu này đặt vùng đất Đông Nam Bộ - Đồng Nai trong nền cảnh khu vực thời sơ sử (thế kỷ V TCN đến thế kỷ I-II SCN) nhằm tập trung vào một số vấn đề: Bối cảnh thời sơ sử Việt Nam và Đông Nam Á lục địa; Các cộng đồng cư dân thời Sơ sử trên đất Đồng Nai; và Giá trị của di sản khảo cổ thời Sơ sử và phát triển bền vững ở Đồng Nai

    ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH XỬ LÝ NHIỆT ĐẾN CÁC PHÁT XẠ UPCONVERSION VÀ NIR CỦA ERBIUM TRONG VẬT LIỆU GỐM THỦY TINH TELLURITE TRONG SUỐT

    Get PDF
    In this paper, the upconversion (UC) and NIR emissions of Er3+-doped in TeO2–Al2O3–BaF2 (TAB) tellurite transparent glass-ceramics containing BaF2 nanocrystals through the heat treatment process with changing of temperature and duration were investigated.. From the results of X-ray diffraction (XRD) was confirmed that BaF2 nanocrystals have been formed in the TAB glass-ceramics under heat treatment. Through the calculated results from the XRD peaks and transmission electron microscopy (TEM), the crystal size of BaF2 nanocrystals is identified by about 25nm. Compared with the glass samples before heat treatment, UC and NIR emission intensities of Er3+-doped in TAB tellurite transparent glass-ceramics under excitation of 980nm laser diode was significantly increased.Trong bài báo này, ảnh hưởng của quá trình xử lý nhiệt đến cường độ phát xạ chuyển đổi bước sóng từ vùng hồng ngoại sang vùng ánh sáng nhìn thấy (UC: Upconversion) và cường độ phát xạ cận hồng ngoại (NIR) của đơn tạp Er3+ trong vật liệu gốm thủy tinh trong suốt TeO2-Al2O3-BaF2 (TAB) chứa tinh thể nano BaF2 đã được nghiên cứu. Tinh thể nano BaF2được hình thành và xác nhận bởi kết quả phân tích nhiễu xạ XRD. Cấu trúc của tinh thể nano BaF2 được xác định bởi ảnh TEM, chứng minh rằng tinh thể nano BaF2 có kích thước khoảng 25 nm. So sánh với mẫu thủy tinh trước khi xử lý nhiệt, cường độ phát xạ UC và cường độ phát xạ NIR của Er3+ được tăng cường đáng kể sau quá trình xử lý nhiệt

    ĐẶC ĐIỂM THÍCH NGHI CỦA CƠ QUAN SINH DƯỠNG CỦA MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT VEN SÔNG PHỔ BIẾN Ở HẠ LƯU SÔNG HÀ THANH, PHƯỜNG NHƠN BÌNH, THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

    Get PDF
    The plant species which live in the lower Ha Thanh river, Binhdinh province, have some morphological and anatomicaladaptations to the riparianenvironment. The research was carried out on 4 plant species, including trees and grasses in Magnoliopsida, namely Hibiscus tiliaceus L., Excoecaria agallocha L., Ludwigia octovalvis (Jacq.) Raven and Polygonum hydropiper L. The methods used consist of morphological comparison, microsurgery, double staining, measurement and microscopic photography of roots, stems and leaves. The results show suberized stem walls sloughing off easily, lenticels of secondary bark containing nodules or vertical crevices and the development of spongy tissue (33% to 39% of leaf thickness). These features help the plants increase gas exchange. There are small numbers of xylem vessels in the roots (10.33 ± 0.67 vessels/mm2) and stems (22.83 ± 0.75 vessels/mm2) with widths up to 179.17 ± 21.81µm in the roots and 75 ± 9.13µm in the stems. These features allow these species to adjust to the aqueous environment. The supporting tissues in the roots, stems and leaves are very well developed, including xylem and phloem fibers, sclereids and calcium oxalate crystals that help the plants stand firm in extreme conditions, including strong wind and storms.Các loài thực vật sống tại khu vực hạ lưu sông Hà Thanh, tỉnh Bình Định có những đặc điểm hình thái và giải phẫu thích nghi với môi trường sống ven sông. Nghiên cứu được thực hiện trên bốn loài thực vật thuộc lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) gồm hai loài thân gỗ là Tra (Hibiscus tiliaceus L.) và Giá (Excoecaria agallocha L.) và hai loài thân thảo là rau Mương đứng (Ludwigia octovalvis (Jacq.) Raven) và Nghể răm (Polygonum hydropiper L.) nhằm tìm hiểu đặc điểm hình thái và giải phẫu thích nghi bằng việc sử dụng phương pháp hình thái so sánh, vi phẫu, nhuộm kép, đo mẫu trên kính hiển vi, và chụp ảnh hiển vi rễ, thân, và lá cây. Kết quả cho thấy, các loài thực vật được nghiên cứu có tầng bần rất dễ bong tróc, vỏ thứ cấp thân có hệ thống lỗ vỏ dạng nốt sần hay những đường nứt dọc, và mô xốp phát triển (chiếm 33%-39% độ dày phiến lá) giúp tăng khả năng trao đổi khí cho cây. Rễ và thân có số lượng mạch gỗ ít (thấp nhất là 10.33 ± 0.67 mạch/mm2 ở rễ và 22.83 ± 0.75 mạch/mm2 ở thân) và đường kính lòng mạch rộng (lớn nhất là 179.17 ± 21.81µm ở rễ và 75 ± 9.13µm ở thân) phù hợp với môi trường sống được cung cấp đầy đủ nước ngọt. Các yếu tố cơ học trong rễ, thân, và lá cây rất phát triển: Sợi gỗ, sợi libe, và các tinh thể oxalat canxi giúp cây đứng vững trong điều kiện gió và bão

    XỬ LÝ Ý KIẾN PHẢN HỒI CỦA NGƯỜI HỌC DỰA TRÊN PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI VĂN BẢN

    Get PDF
    Ensuring quality training has been receiving a lot of attention from university training establishments. Learners play an important role in quality assurance in training and education. To understand the meaning of student feedback on training activities at Nha Trang University (NTU) and to improve the university’s training, we propose to handle student feedback through automatic feedback classification and labeling. The classification and prediction of labels are based on the Support Vector Machine (SVM) and Naive Bayes Classifier (NBC) methods. Experiments with the SVM and NBC methods show positive results, 92.13% and 90.10%, respectively, for the data set of student reviews at Nha Trang University.Đảm bảo chất lượng đào tạo đang nhận được nhiều sự quan tâm của các cơ sở đào tạo đại học. Người học đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo. Với mục tiêu hiểu được các phản hồi của người học về các hoạt động đào tạo tại trường Đại học Nha Trang (ĐHNT) nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường, chúng tôi đề xuất xử lý các ý kiến phản hồi của người học thông qua việc tự động phân loại và gán nhãn các ý kiến phản hồi của người học. Việc phân loại và dự đoán các nhãn được thực hiện dựa trên phương pháp Support Vector Machine (SVM) và Naive Bayes Classifier (NBC). Thực nghiệm cho kết quả khả quan trên tập dữ liệu ý kiến của người học trường ĐHNT với phương pháp SVM và NBC tương ứng là 92.13% và 90.10%

    CÁC VĂN HÓA BIỂN TIỀN SỬ VIỆT NAM - GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA NỔI BẬT

    Get PDF
    Vietnamese prehistoric marine culture is the culture of ancient communities who had no written languages, social classes, or states. The inhabitants lived in coastal environments, exploited marine resources, had relations with broad surrounding areas, and created a bold marine culture (Nguyen, 1997, pp. 16-28). Earth\u27s history has gone through at least 20 glacial and interglacial cycles in which the sea advanced and receded, not to mention the small fluctuations between stages, or those due to tectonic activity that made sea-level changes vary in each region. Fluctuations in past water levels in the East Sea determined not only the space for survival, but also the process of forming prehistoric Vietnamese marine cultures. This article discusses the following issues: The history of exploiting seas and islands, the process of developing ancient Vietnamese oceanic cultures, cultural-historical values, and the position of maritime culture in the broader context.Văn hoá biển tiền sử Việt Nam là văn hoá của các cộng đồng cư dân cổ xưa ở giai đoạn chưa có chữ viết, chưa có giai cấp, chưa có nhà nước, sống trong môi trường biển, khai thác các nguồn lợi biển, và có quan hệ rộng rãi với xung quanh, tạo dựng nền văn hoá mang đậm màu sắc biển (Nguyễn, 1997, tr. 16-28). Lịch sử Trái đất đã trải qua ít nhất 20 chu kỳ băng hà - gian băng và là ngần ấy thời kỳ biển tiến và biển lùi; Đó là chưa kể đến những dao động nhỏ giữa các giai đoạn hoặc do tân kiến tạo làm cho biên độ dao động mức nước biển ở từng khu vực cũng khác nhau. Dao động mực nước ở Biển Đông trong quá khứ không chỉ quyết định về không gian sinh tồn, mà còn có quá trình hình thành các nền văn hóa biển tiền sử Việt Nam. Bài viết này sẽ trình bày và luận bàn chính về các vấn đề: Lịch sử chiếm cư vùng biển và hải đảo; Quá trình hình thành các nền văn hóa biển tiền sử Việt Nam; và Giá trị lịch sử văn hóa và vị trí của văn hóa biển trong bối cảnh rộng hơn

    HỆ THỐNG PHÁT HIỆN TẤN CÔNG BOTNET SỬ DỤNG WEB PROXY VÀ CONVOLUTIONAL NEURAL NETWORK

    Get PDF
    Botnets are increasingly becoming the most dangerous threats in the field of network security, and many different approaches to detecting attacks from botnets have been studied. Whatever approach is used, the evolution of the botnet\u27s nature and the set of defined rules for detecting botnets can affect the performance of botnet detection systems. In this paper, we propose a general family of architectures that uses a convolutional neural network group to transform the raw characteristics provided by network flow recording and analysis tools into higher-level features, then conducts a (binary) class to assess whether a flow corresponds to a botnet attack. We experimented on the CTU-13 dataset using different configurations of the convolutional neural network to evaluate the potential of deep learning on the botnet detection problem. In particular, we propose a botnet detection system that uses a web proxy. This technique can be helpful in implementing a low-cost, but highly effective botnet detection system.Botnet đang ngày càng trở thành những mối đe dọa nguy hiểm nhất trong lĩnh vực an ninh mạng, nhiều hướng tiếp cận khác nhau để phát hiện tấn công bằng botnet đã được nghiên cứu. Tuy nhiên, dù bất kì hướng tiếp cận nào được sử dụng, sự tiến hóa về bản chất của botnet cùng tập các quy luật được định nghĩa sẵn để phát hiện ra botnet có thể ảnh hưởng đến hiệu suất của hệ thống phát hiện botnet. Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất một họ kiến trúc tổng quát sử dụng thuộc nhóm Convolutional Neural Network để biến đổi từ đặc trưng thô do các công cụ ghi nhận và phân tích network flow cung cấp thành đặc trưng cấp cao hơn, từ đó tiến hành phân lớp (nhị phân) để đánh giá một flow tương ứng với tình trạng bị botnet tấn công hay không. Chúng tôi thử nghiệm trên tập CTU-13 với các cấu hình khác nhau của convolutional neural network để đánh giá tiềm năng dùng deep learning với convolutional neural network vào bài toán phát hiện botnet. Đặc biệt là đề xuất hệ thống phát hiện Botnet sử dụng Web proxy. Đây là một kỹ thuật giúp triển khai hệ thống phát hiện botnet với chi phí thấp mang lại hiệu quả cao

    TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG VỐN FDI LÊN ĐẦU TƯ TƯ NHÂN Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ CỦA VIỆT NAM

    Get PDF
    The Southeast region of Vietnam is the most dynamic economic area of the country and contributes the most to state budget revenue. Every year, this area attracts a high volume of foreign direct investment (FDI) inflows with the establishment of more industrial zones, export processing zones, and high technology parks. Do FDI inflows into this area crowd out/in private investment? This study uses the general method of moments (GMM) Arellano-Bond estimator to empirically investigate the effect of FDI inflows on private investment in the Southeast region from 2005 to 2018. The FE-IV estimator is employed to check the robustness of the estimates. The results show that FDI inflows crowd in private investment in this area. In addition, inflation increases private investment but infrastructure decreases it. The findings in this study provide some crucial policy implications for local governments in the Southeast region to attract more FDI inflows and stimulate more private investment.Khu vực Đông Nam Bộ của Việt Nam là khu vực kinh tế năng động nhất và đóng góp phần lớn ngân sách thu được của nhà nước. Mỗi năm, khu vực này thu hút một lượng lớn dòng vốn đầu tư FDI với sự hình thành nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, và các công viên công nghệ cao. Liệu dòng vốn FDI đổ vào khu vực này chèn lấn/thúc đẩy đầu tư tư nhân? Bài viết này sử dụng phương pháp ước lượng GMM Arellano-Bond để đánh giá thực nghiệm tác động của dòng vốn FDI lên đầu tư tư nhân ở khu vực Đông Nam Bộ từ 2005 đến 2018. Phương pháp ước lượng FE-IV được sử dụng để kiểm tra tính bền của các ước lượng. Các kết quả cho thấy dòng vốn FDI thúc đẩy đầu tư tư nhân ở khu vực này. Ngoài ra, lạm phát làm tăng đầu tư tư nhân nhưng cơ sở hạ tầng làm giảm nó. Các phát hiện trong nghiên cứu này cung cấp một vài hàm ý chính sách quan trọng cho các chính quyền địa phương trong khu vực Đông Nam Bộ thu hút nhiều dòng vốn FDI hơn và thúc đẩy nhiều hơn đầu tư tư nhân

    ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGƯỜI ĐÀ LẠT

    Get PDF
    Based on the fieldwork data and some relevant studies, the article analyzes the impact of nature on forming the lifestyle of Dalat people. The study shows that some specific natural ecological environment factors of Lang Biang Highland including the climate, terrain, and landscape have played a role in shaping the "gentle, elegant, and hospitable" feature in cultural patterns, conducts, and behaviors of Dalat people. Therefore, in discussions on how to preserve and promote the lifestyle of Dalat people, it should be brought into consideration the conservation and restoration of the landscapes and the ecological environment of this plateau town.Dựa trên nguồn tư liệu điền dã kết hợp với những nghiên cứu liên quan, bài viết phân tích những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến sự hình thành phong cách của người Đà Lạt. Kết quả cho thấy, những yếu tố môi trường sinh thái tự nhiên đặc thù của vùng cao nguyên Lang Biang như khí hậu, địa hình, và cảnh quan đã góp phần hình thành đặc điểm “hiền hòa, thanh lịch, mến khách” trong khuôn mẫu văn hóa, hành vi, và ứng xử của người Đà Lạt. Vì vậy, khi bàn đến những giải pháp để giữ gìn và phát huy phong cách người Đà Lạt, cần thiết quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo cảnh quan, môi trường sinh thái của đô thị cao nguyên này

    345

    full texts

    558

    metadata records
    Updated in last 30 days.
    Dalat University Journal of Science / Tạp chí khoa học Đại học Đà Lạt
    Access Repository Dashboard
    Do you manage Open Research Online? Become a CORE Member to access insider analytics, issue reports and manage access to outputs from your repository in the CORE Repository Dashboard! 👇