131,778 research outputs found
Nicolas Bazan Interview
This interview of Nicolas Bazan was conducted by Chandler Smith on August 25, 2025. Interview transcribed by Sam Howat.https://digitalscholar.lsuhsc.edu/oral_hist/1019/thumbnail.jp
The Olea europaea L. var. sylvestris (Mill.) Lehr. forests in the Mediterranean area
This paper examines the forest communities dominated by Olea europaea L. var. sylvestris (Mill.) Lehr. that have been described up until now in the Mediterranean Region (including other isolated extrazonal areas in the northwestern Iberian Peninsula and in Northern Turkey) as more or less evolved aspects of woods, microwoods and high maquis that principally tend to make up climacic and edapho-climacic “series heads”. These forma- tions maintain a significant large-scale distributive potential within the infra- and thermomediterranean bioclimate belts (with a few penetrations into the mesomediterranean) with a dry-subhumid (and sometimes humid) ombrotype; however, they are currently quite rare and fragmented in the wake of large-scale deforestation and the impoverishment of old-growth communities dominated by a species known to live for millennia. The study was conducted through the analysis of phytosociological data taken from the scientific literature and other unpublished data regarding North-Africa (Morocco, Algeria), the Iberian Peninsula, the Balearic Islands as well as other islands from the Tyrrhenian area (Sardinia, Corsica, Sicily and its minor islands), the Italian Peninsula, the Balkan Peninsula, the Aegean region, Turkey and the southern Anatolian coast. A comparison between the different communities has shown a high floristic and physiognomic-structural homogeneity that justifies their categorization in the Quercetea ilicis class. The biogeographic and ecologic vicariance shown by the same formations within the large Mediterranean distribution range makes it pos- sible to subdivide them into the following orders and alliances: 1) Pistacio-Rhamnetalia alaterni [A) all. Tetraclini articulatae-Pistacion atlanticae (suball. Pistacienion atlanticae); B) all. Asparago albi-Rhamnion oleoidis; C) all. Oleo sylvestris-Ceratonion siliquae]; 2) Quercetalia calliprini [D) all. Ceratonio-Pistacion lentisci]; 3) Quercetalia ilicis [E) all. Querco rotundifoliae-Oleion sylvestris; F) all. Fraxino orni-Quercion ilicis; G) all. Erico arboreae-Quercion ilicis; H) all. Arbuto unedonis-Laurion nobilis (suball. Arbuto-Laurenion nobilis)]. Regarding the syntaxonomical aspect: (i) two new associations are described [Hippocrepido emeroidis-Oleetum sylvestris and Junipero foetidissimae-Oleetum sylvestris]; (ii) two new associations [Phillyreo latifoliae-Oleetum sylvestris Barbero, Quézel & Rivas-Martínez ex Gianguzzi & Bazan ass. nova and Calicotomo intermediae-Oleetum sylvestris Quézel, Barbero, Benabid, Loisel & Rivas-Martínez 1988 ex Gianguzzi & Bazan ass. nova] and a new subassocia- tion [Aro neglecti-Oleetum sylvestris Rivas-Martínez & Cantò 2002 corr. Rivas-Martínez & Cantò fraxinetosum angustifoliae Pérez Latorre, Galán de Mera, Deil & Cabezudo ex Gianguzzi & Bazan subass. nova] are leptotypified; (iii) a nomen novum of the association is redefined [Rhamno laderoi-Oleastretum sylvestris (Cantò, Ladero, Perez-Chiscano & Rivas-Martínez 2011) Gianguzzi & Bazan nom. nov.]
On the construction of some Buchsbaum varieties and the Hilbert scheme of elliptic scrolls in P^5
We study the degeneracy loci of general bundle morphisms defined by m sections of the cotangent bundle twisted by 2. We consider in particular the case of P^5 with m=2,3. We give an explicit description of the Hilbert scheme of elliptic normal scrolls in P^5, by defining a natural rational map from the Grassmannian G (2, 14) , which results to be dominant with general fibre of degree four
Vida de la venerable infanta doña Sancha Alfonso, comendadora de la Orden Militar de Santiago, hija del rey de León, D. Alfonso el IX
Copia Digital. España : Ministerio de Cultura y Deporte. Subdirección General de Coordinación Bibliotecaria, 2022- L2Antep.La h. de lám. es retrato de doña Sancha Alfonso
MeSH term explosion and author rank improve expert recommendations
Information overload is an often-cited phenomenon that reduces the productivity, efficiency and efficacy of scientists. One challenge for scientists is to find appropriate collaborators in their research. The literature describes various solutions to the problem of expertise location, but most current approaches do not appear to be very suitable for expert recommendations in biomedical research. In this study, we present the development and initial evaluation of a vector space model-based algorithm to calculate researcher similarity using four inputs: 1) MeSH terms of publications; 2) MeSH terms and author rank; 3) exploded MeSH terms; and 4) exploded MeSH terms and author rank. We developed and evaluated the algorithm using a data set of 17,525 authors and their 22,542 papers. On average, our algorithms correctly predicted 2.5 of the top 5/10 coauthors of individual scientists. Exploded MeSH and author rank outperformed all other algorithms in accuracy, followed closely by MeSH and author rank. Our results show that the accuracy of MeSH term-based matching can be enhanced with other metadata such as author rank
Performance analysis of a 2-D time-wavelength OCDMA wavelength-aware receiver with beat noise
The effect of beat noise on two-dimensional time-wavelength optical code-division multiple-access systems utilising wavelength-aware receivers is examined. A derivation of a general formula for the bit error probability taking into consideration multiple access interference (MAI) and other noise sources is given. In addition, a comparison between the system performance of such a receiver and the traditional configuration is presented. Studies to date that have focused only on the MAI limited case showed that the wavelength-aware configuration yields a better performance when compared to the traditional receiver. When beat noise is considered, the numerical results reveal that the performance of wavelength-aware receiver is very sensitive to beat noise and is not superior over the traditional receiver
Going Beyond Counting First Authors in Author Co-citation Analysis
The present study examines one of the fundamental aspects of author co-citation analysis (ACA) - the way co-citation
counts are defined. Co-citation counting provides the data on which all subsequent statistical analyses and mappings
are based, and we compare ACA results based on two different types of co-citation counting - the traditional type that
only counts the first one among a cited work's authors on the one hand and a non-traditional type that takes into
account the first 5 authors of a cited work on the other hand. Results indicate that the picture produced through this non-traditional author co-citation counting contains more coherent author groups and is therefore considerably clearer. However, this picture represents fewer specialties in the research field being studied than that produced through the traditional first-author co-citation counting when the same number of top-ranked authors is selected and analyzed. Reasons for these effects are discussed
DAROCA HISTORIA, ARQUITECTURA Y RESTAURACIÓN La conservación del patrimonio monumental (1939-2012)
Esta publicación recoge la investigación realizada en el ámbito de varios proyectos de investigación de I+D+i de excelencia financiados por el Ministerio de Economía y Competitividad y el Fondo Europeo de Desarrollo Regional (FEDER) de la Comisión Europea. El objetivo fundamental ha sido analizar las restauraciones realizadas en la localidad de Daroca entre 1939 y 2012, con el fin de arrojar nuevos datos sobre la labor realizada por los diferentes organismos que se han ocupado de la tutela del Patrimonio en la localidad zaragozana. Las principales fuentes documentales utilizadas han sido los proyectos de restauración conservados en diferentes archivos nacionales, autonómicos, provinciales y locales, las noticias de prensa de la época y las fotografías conservadas en diferentes archivos, así como entrevistas a los arquitectos que han intervenido en Daroca durante este período
Nghiên cứu bê tông nhựa mặt đường sử dụng sợi bazan phân tán trong điều kiện Việt Nam
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
-----------------------------------------------
PHÙNG BÁ NHÂN
NGHIÊN CỨU BÊ TÔNG NHỰA MẶT ĐƢỜNG SỬ DỤNG
SỢI BAZAN PHÂN TÁN TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
Ngành : Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
Mã số : 9580205
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
HÀ NỘI – 2024Công trình được hoàn thành tại:
Trƣờng Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Lý Hải Bằng
Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
2. TS. Nguyễn Minh Khoa
Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
Phản biện 1: GS.TSKH. Nguyễn Xuân Trục
Phản biện 2: GS.TS. Bùi Xuân Cậy
Phản biện 3: PGS.TS. Trần Thị Kim Đăng
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường
họp tại Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
vào hồi 8h 30 ngày 28 tháng 3 năm 2024
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thƣ viện Quốc Gia Việt Nam
- Thƣ viện Trƣờng Đại học Công nghệ GTVT1
MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
Mặt đường bê tông nhựa (BTN) được sử dụng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam.
Tại các dự án, các vị trí thông thường thì BTN chặt sử dụng nhựa thông thường không
có phụ gia nhìn chung đáp ứng yêu cầu khai thác. Tuy nhiên, trong những điều kiện
khắc nghiệt của môi trường ở Việt Nam hiện nay, trên các tuyến đường ô tô cấp cao có
quy mô giao thông lớn thì hỗn hợp BTN không dùng phụ gia dễ xuất hiện các hư hỏng,
tuổi thọ khai thác chưa đạt được như mong muốn như thiết kế.
Nhằm nâng cao chất lượng mặt đường BTN, đã có nhiều giải pháp ở Việt Nam và trên
thế giới được áp dụng như: Thay đổi thành phần cấp phối hỗn hợp, cải thiện chất lượng
nhựa đường, cải thiện chất lượng hỗn hợp BTN bằng cách sử dụng thêm phụ gia,.... Sử
dụng sợi gia cường là một trong những giải pháp để tăng cường một số đặc tính cơ lý
của hỗn hợp BTN. Các loại sợi thường được sử dụng như: amiăng, carbon, aramid, sợi
cellulose, polyester, polypropylene, sợi thép, sợi thủy tinh, sợi bazan…
Sợi bazan là vật liệu có nguồn gốc từ tự nhiên. Sợi bazan có tính chất vượt trội so với
sợi thủy tinh về độ cứng, khả năng chịu kéo rất cao, bền với hóa chất, nhiệt độ, thân
thiện với môi trường. Sợi bazan được sử dụng làm vật liệu chống cháy trong ngành
hàng không vũ trụ, ô tô, đồng thời, cũng được sử dụng làm vật liệu tổng hợp để sản
xuất nhiều sản phẩm phổ biến khác. Về mặt giá thành, sợi bazan có giá tương đối hợp
lý so với các loại sợi khác đang được sử dụng phổ biến trên thế giới như sợi thủy tinh,
sợi cellulose, sợi carbon… Ở Việt Nam đã có một số tác giả nghiên cứu sử dụng sợi
thủy tinh, sợi Forta FI, sợi cellulose… cho BTN, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về
việc sử dụng sợi bazan cho hỗn hợp BTN. Chính những căn cứ trên, lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu bê tông nhựa mặt đường sử dụng sợi bazan phân tán trong điều kiện Việt
Nam”, trong đó tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của sợi bazan đến các tính chất cơ lý
của hỗn hợp bê tông nhựa là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
II. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ chế liên kết và phân bố sợi bazan trong BTN, qua đó xác định hàm
lượng nhựa tối ưu cho hỗn hợp BTN sử dụng sợi bazan;
Thiết kế hỗn hợp BTN sử dụng sợi bazan với các hàm lượng khác nhau, so sánh
với bê tông nhựa đối chứng cùng thành phần thông qua các chỉ tiêu cơ lý của
BTN;
Ứng dụng các thuật toán học máy (ML) để hỗ trợ thiết kế và dự báo một số tính
chất cơ lý của BTN sử dụng sợi bazan;
Đề xuất KCAĐM của BTN sử dụng sợi bazan cho một số tuyến đường ô tô tại
Việt Nam, kiểm toán với các phương pháp, tiêu chuẩn hiện hành, xác định sơ bộ
chi phí và hướng chế tạo BTN sử dụng sợi bazan ngoài trạm trộn.
III. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Hỗn hợp bê tông nhựa với cỡ hạt lớn nhất danh định 12,5mm sử dụng sợi bazan
các hàm lượng sợi khác nhau làm lớp mặt cho KCAĐM.2
Phân tích tổng quan tình hình sử dụng sợi gia cường và sợi bazan sử dụng cho hỗn
hợp BTN ở Việt Nam và trên thế giới;
Nghiên cứu thí nghiệm trong phòng, xác định các chỉ tiêu kỹ thuật của hỗn BTN
sử dụng sợi bazan với các hàm lượng sợi khác nhau và hỗn hợp BTN đối chứng;
Phạm vi nghiên cứu chỉ dừng ở nghiên cứu với: BTN 12,5 mm, nhựa đường
60/70; sợi bazan có nguồn gốc tự nhiên của Trung Quốc có đường kính 12 µm,
chiều dài 12mm.
IV. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
– Phân tích, làm rõ cơ sở khoa học việc sử dụng cốt sợi bazan phân tán trong hỗn
hợp BTN, và phân tích được cơ chế liên kết giữa sợi bazan và nhựa đường;
– Phân tích thành phần và cấu trúc của hỗn hợp BTN sử dụng cốt sợi bazan phân
tán, qua đó nêu bật được ưu nhược điểm thông qua các chỉ tiêu cơ lý và đưa ra
phạm vi áp dụng của loại vật liệu mới này trong điều kiện Việt Nam;
– Phân tích và đề xuất được KCAĐM của hỗn hợp BTN sử dụng sợi bazan thỏa mãn
tất cả các đặc tính khai thác theo tiêu chuẩn hiện hành của Việt Nam.
– Ứng dụng mô hình học máy xây dựng được công cụ dự báo nhanh một số đặc tính
cơ lý của BTN sử dụng sợi bazan phân tán;
– Xác định được các chỉ tiêu kỹ thuật của BTN sử dụng sợi bazan khi thiết kế
KCMĐ theo tiêu chuẩn TCCS38:2022 và phương pháp cơ học – thực nghiệm (ME);
– Đề xuất một số KCAĐ mềm cấp cao cho BTN sử dụng cốt sợi bazan phân tán
trong điều kiện Việt Nam.
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ SỢI GIA CƢỜNG VÀ SỢI BAZAN SỬ DỤNG
CHO HỖN HỢP BÊ TÔNG NHỰA
1.1. Bê tông nhựa có phụ gia dạng sợi làm lớp mặt đƣờng ô tô
Sử dụng sợi gia cường là một trong những giải pháp để tăng cường một số đặc tính cơ
lý của hỗn hợp BTN. Các loại sợi thường được sử dụng như: amiăng, carbon, aramid,
sợi cellulose, polyester, polypropylene, sợi thép, sợi thủy tinh… Phương pháp này đã
được nghiên cứu từ những năm 50 của thế kỷ trước và đã được sử dụng ở nhiều nước
như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc …. Về cơ bản, sợi được thêm vào hỗn
hợp BTN có hai vai trò chính: (i) Hạn chế khả năng chảy của nhựa đường trong hỗn
hợp BTN (như hỗn hợp SMA, BTN cấp phối hở); (ii) Tăng khả năng chịu kéo khi uốn,
tăng tuổi thọ mỏi dưới tác dụng của tải trọng trùng phục cũng như cải thiện đặc tính lún
vệt bánh xe.
1.2. Sợi bazan dùng cho bê tông nhựa
1.2.1. Tổng quan về sợi bazan
Sợi bazan là vật liệu có nguồn gốc từ tự nhiên. Sợi bazan có tính chất vượt trội so với
sợi thủy tinh về độ cứng, khả năng chịu kéo rất cao, bền với hóa chất, nhiệt độ, thân
thiện với môi trường. Sợi bazan được sử dụng làm vật liệu chống cháy trong ngành
hàng không vũ trụ, ô tô, đồng thời, cũng được sử dụng làm vật liệu tổng hợp để sản3
Hình 1.2. Quy trình sản xuất sợi bazan.
xuất nhiều sản phẩm phổ biến khác. Về mặt giá thành, sợi bazan có giá tương đối hợp
lý so với các loại sợi khác đang được sử dụng phổ biến trên thế giới như sợi thủy tinh,
sợi cellulose, sợi carbon…
Được hình thành từ đá bazan núi lửa do đó sợi
bazan có nhiều đặc tính có lợi. Bên cạnh có mô
đun đàn hồi cao và chịu nhiệt độ cao, sợi bazan
còn có tính cách âm và chống rung rất cao. Với
nhiều đặc tính vượt trội thì việc nghiên cứu về
ứng dụng sợi bazan được phát triển mạnh mẽ và
là hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học
quan tâm
1.2.2. Tính chất của sợi bazan và các ứng dụng
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi so sánh tính
chất của các sợi thương phẩm phổ biến, sợi bazan
có tính chất vượt trội so với sợi thủy tinh về độ cứng, khả năng chịu kéo rất cao, bền
với hóa chất, nhiệt độ, thân thiện với môi trường. Một số nghiên cứu đã có những đánh
giá ảnh hưởng của chiều dài sợi và chất xơ sợi bazan trên tính chất cơ học của vật liệu
composite chế tạo trên nền nhựa polyester. Kết quả các đặc tính của các vật liệu tổng
hợp cho thấy chiều dài sợi là có ảnh hưởng đáng kể trên các tính chất cơ học của vật
liệu composite và cũng như hàm lượng xơ
1.2.3. Các nghiên cứu thiết kế thành phần bê tông nhựa sử dụng sợi bazan
Các đặc tính vật lý quan trọng cần xem xét khi phân tích sợi bazan là chiều dài, cường
độ chịu kéo, mô đun đàn hồi, độ giãn dài khi đứt và nhiệt độ nóng chảy. Những đặc
tính này có tác động trực tiếp đến hiệu suất chất kết dính và hỗn hợp BTN. Sự phân
phối đồng nhất của sợi giống như một loại gia cường không định hướng có tác động đáng
kể đến khả năng nâng cao chất lượng của hỗn hợp BTN. Hiện nay, các nhà nghiên cứu
trên thế giới đã sử dụng ba phương pháp để thêm sợi bazan vào hỗn hợp BTN, đó là: trộn
ướt, trộn khô và kết hợp cả trộn ướt và trộn khô.
Phương pháp trộn ướt: sử dụng máy trộn cắt tốc độ cao và sợi được trộn với chất
kết dính trước khi trộn với cốt liệu.
Phương pháp trộn khô: sợi được trộn cùng cốt liệu trước, sau đó trộn với chất kết
dính. Phương pháp trộn khô ưu việt và thông dụng hơn phương pháp trộn ướt vì
không yêu cầu máy trộn cắt tốc độ cao. Hơn nữa, nhược điểm của sự kết tụ sợi
trong phương pháp trộn khô là ít hơn so với phương pháp trộn ướt.
Phương pháp kết hợp trộn khô và trộn ướt: cốt liệu và chất kết dính được trộn với
nhau trước, sau đó sợi được thêm vào.
1.3. Các nghiên cứu về bê tông nhựa sử dụng sợi bazan
Các nghiên cứu thế giới cho thấy sợi bazan phân bố ngẫu nhiên trong không gian ba
chiều của hỗn hợp BTN, sợi bazan giúp phân tán ứng suất và tránh ứng suất quá mức.
Kết quả cho thấy sợi bazan đóng một vai trò "cầu nối" giúp cải thiện khả năng kháng
nứt của hỗn hợp BTN, đồng thời làm chậm sự phát triển của các vết nứt.4
Ngoài ra, các chỉ tiêu cơ lý cơ bản của BTN khi sử dụng sợi bazan đã được đánh giá
như các thông số Marshall, lún vệt bánh xe và độ ổn định động, sức kháng ẩm, mô đun
đàn hồi. Tuy nhiên vẫn còn nhiều các chỉ tiêu quan trọng của BTN chưa được nghiên
cứu.
Hiện nay, tại Việt Nam chưa có công bố nào về BTN sử dụng sợi bazan.
1.4. Nghiên cứu sử dụng học máy dự báo các đặc trƣng bê tông nhựa
Trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ 4.0, cùng với tính
đơn giản, tự động, hiệu quả và ứng dụng cao, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào việc sử
dụng học máy (Machine learning - ML) dựa trên các kết quả thử nghiệm. Kỹ thuật này
đang trở nên phổ biến và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là ngành xây dựng
và giao thông vận tải.
1.5. Đánh giá các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
Dựa vào các kết quả tổng hợp về các loại sợi gia cường và sợi bazan sử dụng cho hỗn
hợp BTN ở Việt Nam và trên thế giới, có thể thấy rằng sử dụng sợi nói chung và sợi
bazan nói riêng, giúp tăng cường một số đặc tính cơ lý của hỗn hợp BTN, đặc biệt là
khả năng kháng LVBX và cải thiện DS.
1.6. Xác định các vấn đề nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu nghiên cứu hình thái, phân bố sợi, cấu trúc BTN sử dụng sợi bazan
với các hàm lượng sợi bazan.
Đề xuất quy trình chế tạo BTN sử dụng sợi bazan và nhựa đường 60/70 gốc dầu
mỏ, xác định nhiệt độ trộn và đầm nén hỗn hợp BTN.
Nghiên cứu thực nghiệm các chỉ tiêu cơ lý của BTN sử dụng sợi bazan nhằm phục
vụ cho thiết kế KCAĐ mềm theo TCCS 38:2022/TCĐBVN và phương pháp cơ
học thực nghiệm. Qua đó đánh giá khả năng ứng dụng của vật liệu BTN sử dụng
sợi bazan trong xây dựng mặt đường BTN.
Ứng dụng các thuật toán ML để xây dựng các công cụ dự báo nhanh và chính xác
một số đặc tính cơ lý của BTN sử dụng sợi bazan. Điều này hữu ích cho các kỹ sư
vật liệu, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí trong các nghiên cứu về sau.
1.7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, thực nghiệm, xác
suất thống kê, mô hình hóa, và học máy.
CHƢƠNG 2. NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ, CHẾ TẠO HỖN HỢP BÊ TÔNG
NHỰA SỬ DỤNG SỢI BAZAN VỚI TỶ LỆ HỢP LÝ
Chương 2 của luận án tập trung vào nghiên cứu và phân tích về sợi bazan trong hỗn
hợp BTN. Mục tiêu của chương này là xây dựng cơ sở lý thuyết và thực tiễn để hiểu rõ5
Hình 2.2. Đƣờng cong cấp phối thiết kế hỗn hợp
BTN sau khi phối trộn.
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
0,075 0,75 7,5
Cận trên
Cận dưới
Thiết kế
Hàm lượng lọt sàng (%)
Cỡ sàng (mm)
hơn về nguyên lý sợi bazan cải thiện tính chất của BTN, qua đó xây dựng chương trình
thực nghiệm và xác định hàm lượng nhựa tối ưu cho hỗn hợp BTN sử dụng sợi bazan.
2.1. Xây dựng chƣơng trình thực nghiệm hỗn hợp bê tông nhựa sử dụng sợi bazan
– Phương pháp thiết kế: Marshall;
– Loại BTN: BTNC 12,5;
– Cốt liệu: Lấy tại mỏ đá Sunway,
Quốc Oai, Hà Nội;
– Bột khoáng lấy từ mỏ đá Kiện
Khê, Hà Nam;
– Chất kết dính: Nhựa đường 60/70
do Công ty TNHH Nhựa đường
Petrolimex - Việt Nam cung cấp;
– Sợi: Sợi bazan được sử dụng trong
nghiên cứu có nguồn gốc từ Trung Quốc, có màu nâu vàng, chiều dài sợi 12 mm;
– Hàm lượng sợi được thêm vào hỗn hợp BTN trong quá trình trộn khô với hàm
lượng thay đổi từ 0%; 0,1%; 0,2%; 0,3%; 0,4% và 0,5% theo khối lượng hỗn hợp;
– Lựa chọn phương pháp trộn: trộn khô. Thời gian trộn sợi bazan và nhựa đường
được chọn là 2 phút, dựa trên đa số kết quả thực nghiệm ở các nghiên trước đó sử
dụng thời gian trộn trong khoảng 90 giây đến 2 phút;
2.2. Phân tích liên kết và phân bố sợi bazan trong hỗn hợp bê tông nhựa
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu hình thái vật chất bằng kính hiển vi điện tử quét
SEM
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu hình thái vật chất bằng kính hiển vi điện
tử quét SEM để chụp ảnh, phân tích hình thái sợi bazan, sợi bazan đã trộn trong BTN;
2.2.2. Kết quả thí nghiệm phân tích hình thái SEM của các vật liệu
2.2.2.1. Liên kết và sự phân bố giữa sợi bazan và nhựa đường
Hình 2.6. Liên kết giữa sợi bazan và chất kết dính.
Hình 2.6. cho thấy không chỉ bề mặt sợi được phủ nhựa đường, sự kết dính giữa rễ các
sợi bazan vào nhựa đường cũng rất tốt. Kết quả của hình ảnh SEM có thể được giải
thích dựa trên ba lý thuyết, đó là lý thuyết về thẩm thấu bề mặt, lý thuyết về lớp chuyển6
tiếp và lý thuyết về liên kết hóa học. Với các lý thuyết này, việc bổ sung sợi bazan vào
trong BTN, hiệu ứng giao thoa của các pha trong hỗn hợp nhựa đường về cơ bản đã
thay đổi, giúp nâng cao hiệu suất vĩ mô của BTN.
2.2.2.2. Ảnh hưởng của hàm lượng sợi bazan trong hỗn hợp BTN
a) Hỗn hợp không có sợi bazan b) Hỗn hợp 0,1% sợi bazan c) Hỗn hợp 0,2% sợi bazan
d) Hỗn hợp 0,3% sợi bazan e) Hỗn hợp 0,4% sợi bazan f) Hỗn hợp 0,5% sợi bazan
Hình 2.7. Phân bố của sợi bazan với các hàm lƣợng khác nhau
a) Hỗn hợp 0,3% sợi bazan b) Hỗn hợp 0,4% sợi bazan c) Hỗn hợp 0,5% sợi bazan
Hình 2.8. Liên kết giữa các sợi bazan với nhau trong hỗn hợp BTN
Từ Hình 2.7 b, c có thể thấy, khi hàm lượng sợi bazan thấp (0,1%; 0,2%), trong hỗn
hợp sợi được phân bố đều, tuy nhiên do hàm lượng sợi bazan ít, vì vậy chưa đủ để hình
thành kết cấu mạng lưới không gian, liên kết giữa sợi với sợi kém. Khi hàm lượng sợi
bazan đạt giá trị 0,3% và 0,4%, sợi bazan được phân bố đều trong hỗn hợp (Hình 2.7 d,
e), sợi đan chéo dọc ngang, hình thành kết cấu mạng không gian (Hình 2.7 a, b). Mạng
không gian được tạo ra giữa các sợi vừa có tác dụng phân tán tải trọng, vừa có khả7
năng khắc phục hiện tượng trượt trơn giữa các hạt, liên kết hỗn hợp thành một khối
thống nhất, đồng thời làm chậm, và giảm tốc độ phát triển của vết nứt. Khi hàm lượng
sợi lớn, đạt giá trị 0,5% (Hình 2.7 f, Hình 2.8 c), sợi sẽ phân bố không đều dẫn đến hiện
tượng kết bó, tác dụng của sợi sẽ không được phát huy tối đa.
2.3. Ứng dụng học máy trong hỗ trợ thiết kế thành phần BTN sử dụng sợi bazan
2.3.1. Ứng dụng học máy trong dự báo tính chất cơ lý của vật liệu
Nội dung phần này trình bày ứng dụng các thuật toán học máy (ML) để xây dựng mô hình
dự báo MS và MF của BTN sử dụng sợi bazan. Để xây dựng tương quan giữa các thông số
thí nghiệm với các chỉ tiêu dự báo, nghiên cứu này xây dựng hai bộ dữ liệu cho tham số MS
và MF. Các dữ liệu được sử dụng cho quá trình đào tạo xác thực và kiểm chứng được thu
thập từ các nghiên cứu đã công bố trên thế giới
2.3.2. Một số thuật toán và các kỹ thuật được sử dụng
Mô hình độ dốc tăng cường cấp cao Extreme Gradient Boosting;
Thuật toán tối ưu hóa Sailfish Optimizer;
Thuật toán tối ưu hóa Aquila Optimizer;
Kỹ thuật xác thực chéo;
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực dự báo của mô hình: hệ số xác định (R2), căn của
sai số toàn phương trung bình (RMSE), sai số tuyệt đối trung bình (MAE), và sai
số phần trăm tuyệt đối trung bình (MAPE).
2.3.3. Quy trình xây dựng công cụ hỗ trợ thiết kế thành phần bê tông nhựa sử dụng
sợi bazan
Luận án nghiên cứu đưa ra công cụ hỗ trợ dự báo một số chỉ tiêu cơ lý của BTN sử
dụng sợi bazan, bao gồm MS và MF. Quy trình được thực hiện thông qua các bước
chính gồm:
Chuẩn bị cơ sở dữ liệu cho bài toán dự báo;
Xây dựng mô hình dự báo và tối ưu hoá siêu tham số của mô hình;
Đánh giá mô hình được tối ưu hoá và xác định mô hình tốt nhất;
Xây dựng công cụ hỗ trợ thiết kế thành phần BTN.
Chi tiết về các bước này được trình bày ở các bước tiếp theo.
2.3.4. Xây dựng cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu MS gồm 99 mẫu thí nghiệm, cơ sở dữ liệu MF gồm 59 mẫu thí nghiệm.
Hai cơ sở dữ liệu có 10 thông số đầu vào, bao gồm: độ bền kéo sợi (X1), hàm lượng sợi
(X2), chiều dài sợi (X3), đường kính sợi (X4), độ kim lún (X5), điểm hóa mềm (X6),
hàm lượng chất kết dính (X7), cốt liệu 2,36 mm (X8), cốt liệu 4,75 mm (X9) và cốt liệu
9,5 mm (X10). Cần lưu ý rằng, ở đây, các đầu vào như X8, X9 và X10 biểu thị lượng cốt
liệu (% trọng lượng) lọt qua các kích thước sàng khác nhau lần lượt là 2,36, 4,75, và
9,5 mm.8
2.3.5. Điều chỉnh siêu tham số của mô hình XGB
Hai thuật toán AO và SFO được sử dụng để điều chỉnh siêu tham số của mô hình XGB.
Trong thuật toán AO và SFO, các tham số quan trọng cần hiệu chỉnh là kích thước dân
số (np) và số lần lặp để tìm kiếm tối ưu.
2.3.6. Kết quả xây dựng mô hình dự báo XGB cho MS và MF
Hình 2.10. Phân tích hồi quy trong dự đoán MS dữ liệu đào tạo và kiểm chứng
Hình 2.11. Phân tích hồi quy trong dự đoán MF dữ liệu đào tạo và kiểm chứng
Hình 2.10 cho thấy mối quan hệ giữa các giá trị MS thử nghiệm và các giá trị
được tạo ra từ mô hình XGB_SFO_40. Mô hình XGB_SFO_40 có hiệu suất R =
0,998, RMSE = 0,189 kN, MAE = 0,036 kN và MAPE = 0,005 cho dữ liệu đào
tạo. Đối với dữ liệu kiểm chứng, các giá trị này lần lượt là R = 0,976, RMSE =
0,451 kN, MAE = 0,367 kN và MAPE = 0,033. Có thể thấy khả năng dự đoán của
mô hình XGB_SFO_40 đối với bài toán dự đoán MS của BTN sợi bazan là tốt.
Hình 2.11 hiển thị mối quan hệ giữa giá trị MF thực tế và giá trị MF dự đoán được
đưa ra dưới dạng biểu đồ hồi quy. Mô hình XGB_SFO_30 đưa ra sai số R =
0,927, RMSE = 0,185 mm, MAE = 0,144 mm và MAPE = 0,043 cho dữ liệu đào
tạo. Đối với dữ liệu kiểm chứng, các giá trị này lần lượt là R = 0,909, RMSE =
0,1572 mm, MAE = 0,125 mm và MAPE = 0,036. Với kết quả dự đoán như trên9
Hình 2.14. Biểu đồ tổng hợp độ ổn định Marshall (MS) của hỗn hợp BTN.
của mô hình cho thấy, mô hình XGB_SFO_30 cho dự đoán MF của BTN sử dụng
sợi bazan có khả năng dự đoán mạnh.
2.3.7. Xây dựng công cụ hỗ trợ thiết kế thành phần bê tông nhựa
Phần này trình bày quá trình tối ưu hóa thiết kế thành phần BTN, mô hình
XGB_SFO_40 được sử dụng để tìm ra các giá trị của các biến đầu vào (X1-X10) sao
cho giá trị MS của hỗn hợp BTN sử dụng sợi bazan đạt giá trị cao nhất. Những xu thế
được tìm ra ở 40 mẫu BTN sử dụng AIML là những chỉ dẫn tốt để tiến hành thực
nghiệm trong luận án. Đáng chú ý, mô hình AIML được đề xuất không hề sử dụng dữ
liệu thực nghiệm của NCS mà hoàn toàn được sử dụng dựa trên các công bố về BTN sử
dụng sợi bazan thu thập được (Hình 2.12).
Hình 2.12. 40 mẫu BTN đƣợc đề xuất bởi mô hình XGB_SFO_40
2.4. Xác định hàm lƣợng nhựa tối ƣu cho hỗn hợp bê tông nhựa sử dụng sợi bazan
2.4.1. Phân tích độ ổn định Marshall (MS)
MS đạt giá trị cao
nhất ở tất cả các
hàm lượng nhựa
đường khi sử dụng
sợi bazan với hàm
lượng 0,4%. Khi
không sử dụng sợi
bazan thì MS đạt
giá trị thấp nhất khi
sử dụng hàm lượng
nhựa đường là
3,5%; 4,0%; 5,0%
và 5,5%. Khi sử
dụng sợi bazan với10
hàm lượng 0,5% thì MS đạt giá trị thấp nhất với hàm lượng nhựa đường sử dụng là
4,5%.
2.4.2. Phân tích độ dẻo Marshall (MF)
Hình 2.16 là biểu đồ tổng hợp
MF của hỗn hợp BTN theo hàm
lượng nhựa đường và hàm
lượng bazan. Tham khảo yêu
cầu kỹ thuật theo QĐ 858 và
TCVN 13567:2022, MF của
hỗn hợp BTN nằm trong
khoảng 1,5 đến 4,0 mm. Như
vậy, ngoại trừ hỗn hợp BTN
không sử dụng sợi bazan với
hàm lượng nhựa đường 5,5%,
thì tất cả các hỗn hợp BTN còn
lại đều thỏa mãn yêu cầu kỹ
thuật về MF.
2.4.3. Xác định hàm lượng chất kết dính tối ưu của hỗn hợp BTN với các hàm lượng
sợi bazan khác nhau
Các kết quả chi tiết thiết kế lựa chọn hàm lượng nhựa đường với các hàm lượng sợi:
0,0%; 0,1%; 0,2%; 0,3%; 0,4% và 0,5% được thể hiện ở
Bảng 2.15. Hàm lƣợng nhựa tối ƣu tƣơng ứng với từng hàm lƣợng sợi.
Hàm lƣợng/
Ký hiệu
BTN_
Bazan 0.0
BTN_
Bazan 0,1
BTN_ Bazan
0,2
BTN_ Bazan
0,3
BTN_ Bazan
0,4
BTN_
Bazan 0,5
Hàm lượng sợi
bazan (%) 0,0 0,1 0,2 0,3 0,4 0,5
Hàm lượng
nhựa tối ưu (%) 4,6 4,7 4,9 5,1 5,3 5,4
2.5. Kết luận chƣơng 2
Phương pháp trộn khô được lựa chọn để đưa sợi bazan vào hỗn hợp BTN, và đã
xác định được đường cong cấp phối thiết kế hỗn hợp BTN sau khi phối trộn;
Dựa theo phân tích hình ảnh SEM, hàm lượng sợi bazan là 0,3% và 0,4% giúp sợi
phân bố đều trong hỗn hợp BTN hơn so với các hàm lượng sợi còn lại;
Xây dựng được công cụ mô phỏng số cho hai chỉ tiêu MS và MF, qua đó sử dụng
công cụ ML để mô phỏng tối ưu hóa thiết kế BTN sử dụng sợi bazan và tìm được
các khoảng giá trị về hàm lượng cốt liệu, nhựa, sợi bazan cần được quan tâm khi
tiến hành nghiên cứu thực nghiệm;
BTN sử dụng sợi bazan với hàm lượng 0,4% sẽ được sử dụng để tiến hành các thí
nghiệm chỉ tiêu cơ lý ở các chương tiếp theo của LATS. Ngoài ra, các mẫu BTN
với các hàm lượng sợi khác (0; 0,1%; 0,2%; 0,3%; 0,5%) cũng sẽ được sử dụng
để đánh giá và so sánh các chỉ tiêu cơ lý.
Hình 2.16. Biểu đồ tổng hợp độ dẻo Marshall của hỗn hợp BTN.11
Hình 3.4 Biểu đồ chiều sâu LVBX của các loại BTN
sử dụng hàm lƣợng sợi bazan khác nhau.
CHƢƠNG 3. NGHIÊN CỨU THÍ NGHIỆM XÁC ĐỊNH CÁC CHỈ TIÊU CƠ
HỌC CỦA HỖN HỢP BÊ TÔNG NHỰA SỬ DỤNG SỢI BAZAN
Chương 3 tiến hành lựa
"Closing the R&D Gap, Evaluating the Sources of R&D Spending"
Both spending and tax policies have been implemented in the United States with the goal of stimulating private sector research and development (R&D). Karier questions whether current R&D policy, especially the research and experimentation tax credit, can contribute to closing the gap between nondefense expenditures on R&D in the United States and such expenditures in other countries, such as Japan and Germany. He also explores possible changes to our current R&D policy to make it more effective.
- …
