Digital Library Library University of Social Sciences and Humanities, Viet Nam National University HCM City
Not a member yet
6430 research outputs found
Sort by
Những giá trị của hướng tiếp cận Reggio Emilia trong giáo dục mầm non và một số đề xuất
Vì mầm non là một giai đoạn rất quan trọng trong sự phát triển toàn diện của trẻ, giáo dục mầm non tiên tiến đang trở thành một chủ đề nổi bật trong nghiên cứu giáo dục hiện đại. Reggio Emilia là một cách tiếp cận tiến bộ đối với giáo dục mầm non ban đầu được phát triển ở Ý, với triết lý coi trọng sự phát triển tự nhiên của trẻ thông qua một môi trường học tập đa dạng và kích thích. Bài viết này phân tích các giá trị của phương pháp tiếp cận Reggio Emilia trong lĩnh vực giáo dục mầm non, chỉ ra những lợi ích mà phương pháp Reggio Emilia mang lại cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Trước yêu cầu đổi mới giáo dục mới theo phương châm "lấy người học làm trung tâm", phương pháp tiếp cận của Reggio Emilia rất phù hợp và cần được áp dụng trong giáo dục mầm non ở nước ta hiện nay nhằm mang lại môi trường học tập năng động, giúp trẻ phát huy tối đa khả năng sáng tạo, kỹ năng hợp tác, chủ động, tự tin.As preschool is a very important stage in children's comprehensive development, advanced preschool education is becoming a prominent topic in modern educational research. Reggio Emilia is a progressive approach to preschool education originally developed in Italy, with a philosophy that values the natural development of children through a diverse and stimulating learning environment. This article analyzes the values of the Reggio Emilia approach in the field of preschool education, pointing out the benefits the Reggio Emilia approach brings to the comprehensive development of children. Faced with the requirements for new educational innovation under the motto “learner-centered”, the Reggio Emilia approach is highly appropriate and should be applied in preschool education in our country today to bring about an active learning environment, helping children maximize creativity, cooperation skills, initiative, and confidence
Vai trò của Mỹ trong các cuộc đàm phán giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc những năm 1945-1946
Sau khi chiến tranh chống Nhật kết thúc, tại Trung Quốc đã diễn ra cuộc đấu tranh nhằm xác lập quyền lực giữa hai lực lượng chính là Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản. Trải qua nội chiến và chiến tranh chống Nhật, những tổn thất mà Trung Quốc phải gánh chịu rất lớn nên không ai muốn xung đột lại diễn ra. Những cuộc đàm phán hòa bình đã được tiến hành cùng với sự có mặt của đại diện Chính phủ Mỹ trong vai trò trung gian hòa giải. Tuy nhiên, sự đối lập về lợi ích và xu hướng chính trị của hai bên đã khiến cho các cuộc đàm phán gặp khó khăn. Mặc dù Hiệp định đình chiến đã được ký, song chỉ kéo dài thêm thời gian hòa hoãn chứ không ngăn được nội chiến xảy ra. Dù vậy, với vai trò trung gian hòa giải, các đại diện Mỹ đã có những đóng góp tích cực trong các cuộc đàm phán hòa bình những năm 1945 - 1946 tại Trung Quố
Ứng dụng podcast trong phát triển học liệu số đối với mô hình dạy học kết hợp cho sinh viên sư phạm ngữ văn
Mô hình Blended Learning đã nổi lên như một xu hướng then chốt trong giáo dục đại học ở Việt Nam, phù hợp với những tiến bộ toàn cầu. Các trường đại học sư phạm, với tính chất độc đáo của các chương trình sư phạm, rất phù hợp để triển khai Học tập Kết hợp, thúc đẩy đổi mới và nâng cao các chương trình sư phạm. Sáng kiến này nhằm mục đích chuẩn bị một lực lượng lao động có khả năng đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục Phổ thông Văn học năm 2018. Bài viết tìm hiểu thực trạng và nhu cầu phát triển nguồn học liệu số theo mô hình Blended Learning cho sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn. Nó đề xuất các giải pháp tích hợp Podcast vào việc phát triển tài nguyên học tập kỹ thuật số. Bằng cách đánh giá tính hiệu quả của ứng dụng Podcast trong bối cảnh này, bài viết ủng hộ các phương pháp tiếp cận đổi mới để các nhà giáo dục tận dụng và nâng cao Podcast trong giáo dục Văn học, phục vụ cho cả các trường trung học và các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam.The Blended Learning model has emerged as a pivotal trend in higher education in Vietnam, aligning with global advancements. Pedagogical universities, with the unique nature of their pedagogy programs, are well-suited to implement Blended Learning, driving innovation and enhancing pedagogical programs. This initiative aims to prepare a workforce capable of meeting the requirements of the 2018 Literature General Education Curriculum. This paper explores the current situation and demand for developing digital learning resources within the Blended Learning model for students of Philology Teacher Education. It proposes solutions for integrating Podcasts into the development of digital learning resources. By assessing the effectiveness of Podcast applications in this context, the paper advocates for innovative approaches for educators to leverage and advance Podcasts in Literature education, catering to both secondary schools and higher education institutions in Vietnam
Nhận diện văn hóa du lịch của du khách Hà Nội
Bài viết nhận diện và phân tích một số đặc trưng văn hóa du lịch của du khách Hà Nội dựa theo cách tiếp cận của Jafar Jafari và lý luận cùa Pierre Bourdieu. Theo đó, văn hóa du lịch là một quá trình diễn ra trước, trong và sau chuyến đi; đặc trưng du lịch của du khách cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nghề nghiệp hay trình độ học vấn. Du khách Hà Nội cũng có những sự chuẩn bị khi đi du lịch, họ cũng tham khảo các kênh thông tin, xây dựng kế hoạch cho chuyến đi, họ cũng tiếp xúc với người dân sở tại và khi trở về họ cũng chia sẻ những kỷ niệm với người thân, bạn bè... Đặc biệt, kết quả chỉ ra rằng trong chuyến đi, họ nhớ về đời sống thường nhật một cách vừa phải; còn sau chuyến đi, họ lại nhớ rất nhiều. Từ đó, ý định đi du lịch thôi thúc họ và họ lại chuẩn bị cho một hành trình mới với những hoạt động xây dựng kế hoạch mới
Vận dụng lí thuyết hệ thống và ứng dụng mô hình “Vòng xoắn ba” (Triple Helix) để xây dựng khung năng lực kết nối của cơ sở giáo dục Việt Nam
"Vòng xoắn ba" là mô hình phối hợp giữa trường đại học - doanh nghiệp - nhà nước, giúp đưa các cơ sở giáo dục đại học đến gần hơn với mục tiêu phát triển và đóng góp cho nền kinh tế. Vai trò này đòi hỏi cơ sở giáo dục phải có năng lực tích hợp bao gồm một tập hợp các năng lực thành phần. Tuy nhiên, trên thực tế, mô hình xoắn ba chưa được áp dụng phổ biến trong các cơ sở giáo dục tại Việt Nam. Ở góc độ nghiên cứu, vấn đề kết nối nhà nước với doanh nghiệp chưa nhận được nhiều sự quan tâm. Bài viết này nhằm đề xuất khung năng lực kết nối cho các cơ sở giáo dục, bao gồm các thành phần: năng lực phối hợp với doanh nghiệp, năng lực phối hợp với nhà nước và năng lực kết nối (làm cầu nối) chính phủ và doanh nghiệp. Sau khi tổng kết tài liệu, bài viết áp dụng lý thuyết hệ thống và mô hình Triple Helix để thiết kế khung năng lực kết nối cho các cơ sở giáo dục, góp phần chỉ ra những bất cập cần được giải quyết trong hệ thống năng lực để đạt được mục tiêu giáo dục và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.The “triple helix” is a model of university-enterprise-state coordination, helping to bring higher education institutions closer to their development goals and contributions to the economy. This role requires the educational institution to have an integrating competency including a set of component competencies. However, in reality, the triple helix model has not been commonly applied in educational institutions in Vietnam. From a research perspective, the issue of connecting the state with businesses has not received much attention. This article aims to propose a connecting competency framework for educational institutions, including the following components: competency to coordinate with businesses, competency to coordinate with the state and competency to connect (as a bridge) government and business. Following the literature review, the paper applies system theory and the Triple Helix model to design a connecting competency framework for educational institutions, which contributes to pointing out shortcomings that need to be addressed in the competency system to achieve educational goals and contribute to the country's economic and social development in the context of industrialization, modernization, digital transformation and a socialist-oriented market economy
Dạy học môn toán theo định hướng giáo dục STEM dựa trên quy trình kĩ thuật: Một nghiên cứu thực nghiệm
Giảng dạy theo hướng giáo dục STEM cung cấp cho học sinh những kỹ năng cần thiết trong thế kỷ 21 như: kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phản biện, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giao tiếp,... Giáo dục STEM đã và đang nhận được sự quan tâm và nghiên cứu ngày càng tăng của nhiều nhà khoa học với những kết quả tích cực bước đầu khi áp dụng vào thực tế. Nghiên cứu trình bày một quy trình kỹ thuật để thực hiện giáo dục STEM và áp dụng quy trình này trong giảng dạy thực nghiệm về chủ đề "Thiết kế vòng đu quay" cho học sinh lớp 9 tại Trường THCS Sao Nam, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Phương pháp định tính đã được sử dụng để phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy các em đã có hiểu biết về công nghệ và các nguyên tắc kỹ thuật cơ bản, cũng như khả năng áp dụng kiến thức toán học và khoa học vào chủ đề STEM - thiết kế bánh xe đu quay.Teaching in the direction of STEM education provides students with essential skills in the 21st century such as: problem solving skills, critical thinking, collaboration skills, communication skills, etc. STEM education has been receiving growing attention and research from numerous scientists with initial positive results when applied in practice. The study presents a technical process to implement STEM education and applies this process in experimental teaching on the topic “Designing a ferris wheel” for 9th grade students at Sao Nam Middle School, Hai Chau district, Da Nang City. Qualitative methods were used to analyze the data. The results of the study show that the students had an understanding of technology and basic engineering principles, as well as the ability to apply math and science knowledge to the STEM topic - ferris wheel design
Bảo tồn và phát huy các giá trị của lễ hội truyền thống làng Giang Xá trong bối cảnh hiện nay
Làng Giang Xá thuộc huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội là một địa bàn rất quan trọng của tín ngưỡng thờ vua Lý Nam Đế - một nhân vật lịch sử có công lớn đối với đất nước. Làng có hệ thống di tích, truyền thuyết, câu đối, sắc phong, lễ tiết... gắn bó chặt chẽ với nhau và đều xoay quanh nhân vật được thờ tự này, tạo cho Giang Xá một diện mạo văn hóa dân gian rất phong phú, độc đáo, hấp dẫn và mang nhiều giá trị. Với vị trí ở cửa ngõ thủ đô và xu hướng phát triển du lịch văn hóa, sinh thái của huyện Hoài Đức, các di tích và lễ hội làng Giang Xá còn có tiềm năng du lịch. Bởi vậy, nghiên cứu lễ hội truyền thông làng Giang Xá để đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị của nó, xây dựng thành lễ hội cấp thành phố và phục vụ du lịch là một việc làm cần thiết. Bằng phương pháp điền dã Dân tộc học, kết hợp với phân tích tư liệu thứ cấp, bài viết chỉ ra các giá trị của lễ hội truyền thống làng Giang Xá, đồng thời, nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị đó trong bối cảnh hiện nay
Cơ sở lí thuyết cho việc biên soạn từ điển đối dịch Hà Nhì - Việt, Việt - Hà Nhì ở Việt Nam
This article aims to explore the theoretical foundations for compiling translation dictionaries between Vietnamese and ethnic minority languages to determine the requirements and solutions for compiling a Hà Nhỉ - Vietnamese and Vietnamese - Hà Nhì translation dictionaries in Vietnam. While translation dictionaries between Vietnamese and ethnic minority languages have some progress, there still remain unresolved issues that need to be researched. These dictionaries have distinctive characteristics, particularly in terms of macro and microstructure.Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu cơ sở lý thuyết cho việc biên soạn từ điển dịch thuật giữa tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số, từ đó xác định yêu cầu và giải pháp cho việc biên soạn từ điển dịch thuật Hà Nhì - Việt và Việt - Hà Nhì tại Việt Nam. Mặc dù từ điển dịch thuật giữa tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số đã có những tiến bộ nhất định, nhưng vẫn còn những vấn đề chưa được giải quyết cần được nghiên cứu. Các từ điển này có những đặc điểm riêng, đặc biệt là về mặt cấu trúc vĩ mô và vi mô
Du ký khảo cứu và du ký miêu tả : khảo sát Nam Kỳ tuần báo và Phụ nữ tân văn : luận văn Thạc sĩ : 8.22.01.21
Khuynh hướng bộc lộ bản thân của học viên quốc tế trong giờ học tiếng Nhật
“Tự bộc lộ” là một thuật ngữ tâm lý, được Jourard (1971) đề xuất, đã được nhiều nghiên cứu tâm lý chứng minh là quan trọng đối với tâm lý con người và các mối quan hệ giữa các cá nhân. Trong những năm gần đây, trong giáo dục ngoại ngữ, cụ thể là giáo dục tiếng Nhật, người học viết và nói về bản thân bằng tiếng Nhật, hay nói cách khác, họ tham gia vào việc tự bộc lộ. Điều này không chỉ hữu ích cho việc học tiếng Nhật mà còn giúp phát triển khả năng giao tiếp cá nhân. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào việc nghiên cứu mức độ tự bộc lộ cá nhân dựa trên các yếu tố như quốc tịch, nội dung tiết lộ và chủ đề. Ngoài ra, tác giả muốn nghiên cứu ảnh hưởng của việc tự bộc lộ thông qua các tương tác trong bài học tiếng Nhật đến kết quả học tập tiếng Nhật, với mục tiêu cuối cùng là đề xuất các chiến lược khuyến khích sinh viên thể hiện bản thân. Nghiên cứu được thực hiện tại các lớp học tiếng Nhật của Khoa tiếng Nhật, Trường đào tạo nghề phúc lợi Asahikawa với các sinh viên quốc tế đến từ các quốc gia sau: Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Mông Cổ, Indonesia và các quốc gia khác.“Self-disclosure” is a psychological term, proposed by Jourard (1971), which has been shown by many psychological studies to be important for human psychology and interpersonal relationships. In recent years, in foreign language education, specifically in Japanese education, learners write and talk about themselves by Japanese, or in other words, they engage in self-disclosure. This is not only useful for learning Japanese but also helps develop personal communication ability. In this study, we focus on studying the level of personal self-disclosure based on factors such as nationality, content of disclosure and subject. In addition, the authors want to research the influence of self-disclosure through interactions in Japanese lessons on Japanese learning outcomes, with the ultimate goal o f proposing strategies to encourage students to express themselves. The study was carried out in Japanese classes of the Japanese Department, Asahikawa Welfare Professional Training College with international students from the following countries: Vietnam, Thailand, China, Mongolia, Indonesia, and others