Digital Library Library University of Social Sciences and Humanities, Viet Nam National University HCM City
Not a member yet
6430 research outputs found
Sort by
Nền tảng “vô vi” và những biểu hiện “vô vi” trong hoạt động tôn giáo của Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi
Ngày 14/03 năm Bính Dần (íức ngấy 24/4/1926 dl), sau hơn hai tháng thống nhất các đàn cơ của đạo Cao Đài, Ngô Văn Chiêu từ tạ phàm Giáo tông tách khỏi nhóm phò loan/phò cơ và thành lập đàn cơ riêng. Sự kiện trên đánh dấu đạo Cao Dài hình thành hai nhánh phát triển là nhánh vô vi và nhánh phổ độ. Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi được hình thành trên nền tảng tư tương “vô vi” với những biểu hiện riêng biệt so với các Hội thánh khác trong đạo Cao Đài ở các khía cạnh về thờ tự, cách thức tu tập và tổ chức cộng đồng. Trong bài viết này, từ cách tiếp cận Tôn giáo học kết hợp phương pháp phỏng vấn sâu, bài viết sẽ làm rõ hai nội dung: (1) Nền tảng “vô vi ’’ trong đạo Cao Đài và (2) Những biểu hiện “vô vi” trong một số hoạt động tôn giáo của Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi.On March 14, the year of Binh Dan (April 24, 1926), after more than two months of unifying the sects of Caodaism, Ngo Van Chieu resigned and established his sect. The above event marked the formation of two branches of Cao Dai such as the Vo Vi branch and the Pho Do branch. The Cao Dai Chieu Minh Tam Thanh Vo sect was formed on the foundation of the “wu wei” ideology with distinct manifestations compared to other Caodaism sects in the aspects of worship, practices, and organization. In this article, from the approach of Religious Studies combined with the in-depth interview method, the article will clarify two contents: (1) The foundation of “wu wei” in Caodaism and (2) The manifestations of “wu wei” in some religious activities of the Cao Dai Chieu Minh Tam Thanh Vo Vi sect
Chính sách về ruộng đất chùa thời Lý, Trần
Ở thời kỳ Lý, Trần, một trong những yếu tổ quyết định vị thế quan trọng trong xã hội và thúc đẩy sự phát triển hưng vượng của Phật giáo chính là việc các cơ sở thờ tự thường sở hữu một số lượng ruộng đất lớn, có thể lên đến hàng ngàn mẫu, được gọi là ruộng chùa hay còn gọi là ruộng Tam bảo. Nguồn gốc của ruộng đất chùa thời Lý, Trần rất đa dạng: do hoàng gia, vương thất, quý tộc cho đến dân chúng ban cấp hoặc cúng dường, hay được trích từ ruộng đất công làng xã, hoặc được hình thành từ việc các tăng, ni khai phá, canh tác. Có thể thấy, những chính sách thời Lý, Trần về đất đai, trong đó có đất chùa, đã có những giá trị nhất định và được nhà nước Việt Nam hiện nay kế thừa, phát triển. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến một số vấn đề của ruộng đất chùa thời Lý, Trần, đồng thời, phác họa những giá trị tư tưởng về vấn đề đất chùa đã được kế thừa nhất định với pháp luật đất đai hiện nay
Thực trạng nhận thức và thực hành đánh giá học sinh của giáo viên tiểu học theo tiếp cận năng lực
Hiện nay, mặc dù các trường tiểu học đã nỗ lực triển khai hoạt động đánh giá năng lực theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhưng sự hiểu biết về cách tiếp cận này trong bối cảnh giáo dục Việt Nam vẫn còn hạn chế. Bài viết này được viết nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức trong cộng đồng giáo dục về thực tiễn đánh giá năng lực, đồng thời cung cấp những thông tin có giá trị cho giáo viên và cơ quan quản lý giáo dục. Kết quả cho thấy giáo viên có nhận thức tích cực và nhìn nhận được tính chi tiết, đa chiều của thông tin đánh giá năng lực, giúp họ có cái nhìn toàn diện về sự phát triển của học sinh. Tuy nhiên, vẫn còn một số giáo viên cần phải hoàn thiện hơn để đạt được trình độ thành thạo và tự tin khi áp dụng phương pháp này. Ngoài ra, nghiên cứu còn đánh giá tần suất giáo viên áp dụng các hình thức đánh giá và một số phương pháp chưa thực sự được triển khai thường xuyên. Điều này đòi hỏi Chính phủ phải hoạch định chính sách, hỗ trợ và tạo điều kiện để liên tục cải tiến trong lĩnh vực đánh giá năng lực giáo viên tiểu học cũng như sự thay đổi và nỗ lực từ phía nhà trường. và bản thân các thầy cô.Currently, although primary schools have made efforts to implement competency assessment activities according to the guidance of the Ministry of Education and Training, understanding of this approach in the Vietnamese educational context is still limited. This article was written to increase awareness and knowledge in the educational community about competency assessment practices, while also providing valuable information for teachers and educational management agencies. The results show that teachers have positive perceptions and recognize the detail and multi-dimensionality of competency assessment information, helping them have a comprehensive view of student development. However, there are still some teachers who need to improve to reach a level of proficiency and confidence in applying this method. In addition, the study also evaluated the frequency with which teachers apply forms of assessment and some methods are not really implemented on a regular basis. This requires the government to shape policies, provide support and create conditions for continuous improvement in the area of assessment of primary school teachers' competencies as well as change and efforts on the part of schools. and the teachers themselves
Sự ứng phó với ngập lụt của các nhóm dân cư Thành phố Hồ Chí Minh : luận án Tiến sĩ : 9.31.03.01
Ảnh hưởng của các nguồn vốn tới sinh kế của nguôi Thái tái định cư Thủy điện Bản Vẽ ờ xã Thanh Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
Người Thái tải định cư Thủy điện Bản Vẽ tại xã Thanh Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã sinh sống ở đây được khoảng 15 năm (2009-2024). Theo nhận xét cùa đa số người dân, cơ sở hạ tầng và cuộc sống hiện nay cùa họ đã tốt hơn nơi ở cũ, tuy nhiên, so với mặt bằng chung của tỉnh Nghệ An thì vẫn đang ở mức trung bình, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, sinh kế còn gặp nhiều khó khăn, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên: một số hộ gia đình vẫn chưa được cấp đủ đất để sản xuất, thời tiết khí hậu cực đoan ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng cây trồng... Bài viết sử dụng lý thuyết sinh kế bền vững của Vụ Phát triển quốc tế Anh (DFID) với 5 nguồn vốn (con người, tự nhiên, tài chính, xã hội, vật chất) nhằm đánh giá hoạt động sinh kế và cuộc sống hiện nay của người Thái tái định cư trên địa bàn xã Thanh Sơn.Thai ethnic people has resettled by the construction of Ban Ve Hydropower Plant in Thanh Son commune, Thanh Chuong district, NgheAn province for about 15 years (2009-2024). Most people commented that although their current infrastructure and life are better than in the old residence, compared to the general level ofNgheAn province, the lives o f resettled people are still at an average level, the rate o f poor households remains high, and peoples livelihoods keeps facing many difficulties. Many reasons lead to the above situation, i.e., some households have not been given enough land fo r production, extreme weather has affected crop productivity and output. The paper uses the sustainable livelihood theory o f the UK Department fo r International Development (DFID) with five sources o f capitals (human, natural, financial, social, physical) to evaluate current life and livelihood o f resettled Thai people in Thanh Son commune
Làm rõ một số thông tin về tiểu sử của Chiêu nghi Trần Thị Ngọc Anh qua tư liệu văn bia Lê Trung Hưng
Chiêu nghi Trần Thị Ngọc Anh - tức Bà Chúa Mụa (1580-1647) nguyên là Chánh Vương phù Đệ nhị cung tần của chúa Trịnh Tráng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ của một vị “nội tướng” trong phủ chúa, bà xuất gia lữ hành và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp Phật giáo Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XVII. Do có nhiều công lao bà đã được triều đình vinh phong là Thánh Quang Bồ Tát được xây dựng đền thờ ngay trên quê hương, quê nội và quê ngoại của bà được hưởng chế độ Tạo lệ. Tư liệu về cuộc đời tu tập cũng như công lao đóng góp của bà vốn không được đề cập nhiều trong sử liệu chinh thong nhưng lại được khắc ghi lại trên hệ thống văn bia thời Lê Trung hưng lại một số di tích có liên quan tới hành trình tu tập của bà. Bài viết lý giải một số thông tin quan trọng về tiểu sử của Chiêu nghi Trần Thị Ngọc Anh, nhằm bổ sung những “khoảng trống" hoặc chưa hoàn toàn chính xác về hành trạng của bà dựa trên các cứ liệu văn bia tại các di tích này.Lady of Bright Deportment Tran Till Ngoc Am - also known as Ba Chua Mua (1580- 1647) was the former Chief of the Second Palace of Lord Trinh Trang. After completing as the duties of an "internal minister" in the lord's palace, she became a nun and played a significant role in the revival of Vietnamese Buddhism in the first half of the I7lh century. Due to her many marits, she was honored by the royal court as the Holy Light Bodhisattva and a temple was constructed right in her hometown, her paternal and maternal hometowns enjoyed the Zaoli regime. Documents about her life as a nun as well as her achievements are not mentioned extensively in official historical records but are engraved on epitaphs of the Revival Lc dynasty period at several relics related to her journey as a nun. This article aims to provide essential insights into the biography of Lady of Bright Deportment Tran Till Ngoc Am in order to fill in the "gaps" or inaccurate information about her by researching epitaphs in these relics
Các tiêu chí đánh giá và định hướng phát triển năng lực số cho sinh viên sư phạm Việt Nam
Chuyển đổi số và năng lực số trong giáo dục đại học đang nhận được sự quan tâm lớn trong giai đoạn hiện nay. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, học sinh, sinh viên nói chung và sinh viên sư phạm nói riêng cần có đầy đủ kiến thức, kỹ năng và thái độ đối với chuyển đổi số để sẵn sàng cho sự nghiệp tương lai. Hiểu biết phù hợp về chuyển đổi số, phát triển năng lực số, xác định đúng các vấn đề chính của việc thực hiện và quy trình chuyển đổi số, hình thành năng lực số đầy đủ để nhanh chóng nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo là rất quan trọng đối với các cơ sở giáo dục đại học trong bối cảnh hiện nay. Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết liên quan đến thu thập và phân tích tài liệu để đưa ra nhận xét liên quan đến năng lực số của giáo viên dự bị để đưa ra khung năng lực số cho sinh viên sư phạm gắn với những thay đổi theo bối cảnh và hoàn cảnh đặc trưng của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để đánh giá hiện trạng năng lực số của sinh viên sư phạm và đề xuất các giải pháp sáng tạo hướng tới các chương trình đào tạo linh hoạt, cập nhật, đáp ứng nhu cầu xã hội.Digital transformation and digital competency at higher education have been receiving great attention in the current period. With the strong development of science and technology, it is necessary for students in general and pedagogical students in particular to have adequate knowledge, skills and attitudes towards digital transformation to be ready for their future careers. Appropriate understanding of digital transformation, digital competences development, correct identification of key issues of digital transformation implementation and procedure, adequate digital competencies formation to swiftly improve training quality and efficiency are significant to tertiary education institutions in the current context. The article employs theoretical research methods involving literature collection and analysis to make comments related to the digital competencies of pre-service teachers to devise a digital competency framework for pedagogical students in association with contextual changes and characteristic circumstances of Vietnam. The research results are the basis for assessing the current state of digital competencies of pedagogical students and proposing innovative solutions towards flexible and updated training programs that meet social needs
Xã hội học về tôn giáo nhìn từ E. Durkheim và M. Weber (qua một số tác phẩm)
Cả E. Durkheim và M. Weber đều không xa lạ với giới nghiên cứu Việt Nam, chỉ yếu điều này khá muộn so với nhiều nước trong khu vực vì chỉ đến gần đây một số ít tác phẩm của họ có điều kiện dịch sang tiếng Việt. Những nghiên cứu của họ cách đây một thế kỷ không hề lạc hậu, cho dù sự phát triển của ngành Tôn giáo học và Xã hội học về tôn giáo một thế kỷ qua đã có những bước tiến khổng lồ. Bài viết xin giới thiệu một số kết quả nghiên cứu chính của Durkheim và Weber qua một số tác phẩm chủ yếu, dĩ nhiên không có tham vọng khái quát lại toàn bộ những nghiên cứu của họ
Ý nghĩa xã hội trong hoạt động giáo dục mầm non của Ni giới tại Thành phố Hồ Chí Minh : luận văn Thạc sĩ : 8.31.03.02
Đóng góp của các học giả dòng họ Nguyễn Đức lục chi ( Hà Tĩnh) trong nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đức lục chi là một cự tộc ở Hà Tĩnh, một dòng họ tiêu biểu cho truyền thống gia phong xứ Nghệ. Kể từ khi phát tích ở Hà Tình, trải qua nhiều thế hệ, dòng họ Nguyễn Chi luôn có những đóng góp nổi bật, toàn diện cho quê hương và đất nước. Trong thế ki XX, có hai thế hệ liên tiếp của dòng họ này cùng “bén duyên “ với vùng Tây Nguyên. Nếu bác sĩ Nguyễn Kinh Chi và người em ruột của ông - GS. Nguyễn Đổng Chi, vào thập niên 1930, qua sản phẩm hợp tác đầu tiên giữa họ - Người Ba Na ở Kon Turn, đà tạo ra một công trình dân tộc học đầu tiên viết về Tây Nguyên bằng tiếng Việt, thì đúng 50 năm sau, con trai của ông - GS. Nguyễn Từ Chi, kế thừa truyền thong gia đình, cũng để lại một sổ công trình cứu xuất sắc về văn hóa Thượng... Cho đến nay, mặc dù vùng đất Tây Nguyên, sau nhiều biển động to lớn, đã trở nên rất khác so với thời điểm mà Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi và Nguyễn Từ Chi đặt chân đến, các trước tác cùa họ vẩn còn nguyên giá trị thời sự, thậm chí càng đọc lại, càng nhận ra các bài học mới. Trong bổi cành đó, bài viết này tập trung phân tích những đỏng góp độc dáo cùa các học giả dòng họ Nguyễn Đức lục chi đối với lĩnh vực nghiên cứu văn hóa tộc người ở Tây Nguyên