Digital Library Library University of Social Sciences and Humanities, Viet Nam National University HCM City
Not a member yet
6430 research outputs found
Sort by
Đặc điểm của từ phương vị 東 trong tiếng Hán trong sự so sánh với từ phương vị “đông” tiếng Việt
Không gian và thời gian là những yếu tố có mối quan hệ mật thiết với đời sống con người và đã được nghiên cứu từ lâu trong nhiều lĩnh vực, trong đó có ngôn ngữ học. Trong tiếng Hán và tiếng Việt, nhóm từ chỉ phương hướng, địa điểm rất đa dạng. Bên cạnh ý nghĩa gốc, nhóm từ này còn có nhiều nghĩa phái sinh, chứa đựng hàm ý văn hóa sâu sắc. Bài viết sử dụng nghiên cứu trường hợp kết hợp với các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu như thống kê, mô tả, phân tích để làm nổi bật đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của từ chỉ phương hướng 東 (phía đông) trong tiếng Hán so với từ chỉ phương hướng “đông” (phía đông) trong tiếng Việt. Mục đích là chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai từ này. Nghiên cứu hy vọng có thể đóng góp làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và nghiên cứu tiếng Hán ở Việt Nam.Space and time are factors that have a close relationship with human life and have long been researched in many fields, including linguistics. In Chinese and Vietnamese, the group of words indicating directions and locations is very diverse. Besides their original meanings, this group of words also has many derived meanings, containing profound cultural implications. This article uses case study together with research methods and techniques such as statistics, description, and analysis to highlight the structural and semantic characteristics of the directional word 東 (east) in Chinese in comparison with the directional term “đông” (east) in Vietnamese. The aim is to point out the similarities and differences between these two words. The study hopes to contribute as a reference material for the teaching and research of the Chinese language in Vietnam
Chùa Tương Sơn trong thơ văn yên hành của Sứ Thần Việt Nam và giao lưu văn hóa Việt Nam - Trung Quốc thời nhà Thanh (trường hợp Sứ thần Hoàng Trọng Chinh)
Từ lâu, nghiên cứu của giới học thuật về quan hệ bang giao Việt Nam - Trung Quổc thời cổ đại phần lân từ góc độ truyền thống “thể hệ triều công”, “trật tự Thiên hạ”, “trật tự thế giới của Trung Quổc” và “trật tự Hoa Di” (1), giữa Trung Quốc và các nước lân cận dể giải thích mô hình lý luận và chế độ lễ nghi. Tuy nhiên, trong góc độ nghiên cứu vĩ mô như vậy, còn tương đôì hiếm nghiên cứu điển hình về cách thức vận hành cụ thể trong môì quan hệ Việt Nam-Trung Quốc thời nhà Thanh
Sự biến đổi trong đời sống của người dân vùng Tây Nam bộ qua sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư : luận văn Thạc sĩ : 8.31.06.30
Nghiên cứu năng lực công nghệ thông tin - truyền thông của sinh viên trường Đại học Y Dược Cần Thơ : luận văn Thạc sĩ : 8.32.02.03
Quan điểm về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong cuốn sách một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được chủ nghĩa Mác - Lênin xác định là một giai đoạn tất yếu, là quy luật phổ biến đối với tất cả các nước lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc nhận thức và vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đúc rút nhiều bài học quý báu và đạt được những thành công hết sức quan trọng trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ờ Việt Nam
Tác động của nền tảng video ngắn đối với học tập và mối quan hệ tương tác xã hội của học sinh Trung học phổ thông
Các nền tảng video ngắn hiện đang rất phổ biến trên mạng xã hội nhờ nội dung ngắn gọn và dễ dàng tiếp cận với tất cả mọi người, kể cả học sinh trung học. Bài viết khám phá tác động của các nền tảng video ngắn đối với thói quen học tập và tương tác xã hội của học sinh trung học. Tổng cộng có 1133 học sinh từ các trường THPT khác nhau ở Hà Nội được lựa chọn thông qua kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện. Các phương pháp định lượng được sử dụng cho công cụ nghiên cứu và một thiết kế khảo sát mô tả đã được áp dụng cho nghiên cứu này. Các phát hiện cho thấy việc học sinh sử dụng các nền tảng video ngắn có tác động tiêu cực đến thói quen học tập và tương tác xã hội của họ. Do đó, các tác giả khuyên bạn nên giáo dục học sinh về cách thức và thời điểm sử dụng các nền tảng video ngắn để tối ưu hóa thói quen học tập hoặc tăng cường các mối quan hệ xã hội để đạt được sự cân bằng trong cuộc sốngShort-video platforms are currently highly popular on social networks thanks to the concise content and easy access to everyone, including high school students. The article explores the impact of short video platforms on the learning habits and social interactions of high school students. A total of 1133 students from different high schools in Hanoi were selected through convenience sampling techniques. Quantitative methods are used for the research instrument and a descriptive survey design was adopted for this study. The findings show that students' use of short-video platforms has a negative impact on their study habits and social interactions. Consequently, the authors would recommend educating students on how and when to use short video platforms to optimize study habits or enhance social relationships to achieve balance in lif
Sự hiện diện thấu cảm của tình nguyện viên sơ cứu tâm lý trong quá trình hồi phục của bệnh nhân COVID-19 : nghiên cứu định tính : luận văn Thạc sĩ : 8.31.04.02
Xây dựng thang đo hành vi công dân trong tổ chức của giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh
Hành vi công dân tổ chức được coi là hành vi thứ yếu, tự nguyện, liên quan đến công việc. Dựa trên các mô hình hành vi công dân tổ chức của Organ (1988) và Podsakoff (2000), nghiên cứu này phát triển và khẳng định thang đo hành vi công dân tổ chức trong môi trường giáo dục trung học cơ sở. Phương pháp nghiên cứu văn bản được sử dụng để phát triển thang đo mới phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Kết quả nghiên cứu xác định thang đo hành vi của giáo viên, bao gồm mức độ hành vi trong tổ chức của giáo viên đối với lợi ích của nhà trường (bao gồm hành vi đối với sự phát triển của trường học và hướng tới việc tự nguyện tuân thủ các nguyên tắc của nhóm/trường nghề nghiệp) và mức độ hành vi trong tổ chức của giáo viên. hướng tới lợi ích cá nhân (cá nhân hướng tới học sinh, phụ huynh, đồng nghiệp và tự lực). Kết quả nghiên cứu cho thấy cần xây dựng thang đo hành vi công dân trong các tổ chức giáo dục ở trường THCS với đặc điểm phù hợp với bối cảnh Việt Nam.Organizational citizenship behavior is considered as secondary, voluntary, work-related behaviors. Based on Organ (1988) and Podsakoff (2000) models of organizational citizenship behavior, this study develops and confirms the organizational citizenship behavior scale in the lower secondary education environment. The method of studying text documents was used to develop a new scale suitable for the Vietnamese context. The research results determine the scale of teacher's behavior, including the level of behavior in the teacher's organization towards school benefits (including behavior towards school development and towards voluntarily complying with the principles of professional groups/schools) and the level of behavior in teachers' organizations towards personal benefits (individuals oriented towards students, parents, colleagues, and self-help). The research results show that it is necessary to build a scale of civic behavior in educational organizations of secondary schools with appropriate characteristics in the Vietnamese context
Sự khác biệt giữa triết học phương Đông -phương Tây cổ, trung đại và gợi mở một số Vấn đề phương pháp luận trong giảng dạy triết học hiện nay
Trong quá trình vận động, phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung, lịch sử triết học nói riêng, triết học phương Đông và triết học phương Tây cổ, trung đại có nhiều nội dung phong phú, sâu sắc, có những đóng góp to lớn và thiết thực. Song, sự khác biệt giữa hai nền triết học là căn bản và rõ ràng. Bài viết tập trung khái quát, luận giải một số khía cạnh chủ yếu của sự khác biệt giữa triết học phương Đông với phương Tây cổ, trung đại; trên cơ sở đó rút ra một số vấn đề phương pháp luận vận dụng trong nghiên cứu, giảng dạy triết học hiện nay
Thực trạng nhân lực góp phần tăng trưởng xanh trong nông nghiệp ở huyện Lộc Hà, Tỉnh Hà Tĩnh
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của các địa phương trong cả nước. Để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh trong nông nghiệp trở thành một yêu cầu cấp bách. Tuy nhiên, hiện nay nông nghiệp ở nước ta vẫn còn phụ thuộc vào kinh nghiệm, nhân lực có chuyên môn cao trong lĩnh vực nông nghiệp rất hạn chế so với yêu cầu. Tình trạng này cũng diễn ra ở huyện Lộc Hà (tỉnh Hà Tĩnh). Bài báo sử dụng phương pháp phân tích số liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập được qua quá trình nghiên cứu, phân tích những thuận lợi, khó khăn của người nông dân trong sản xuất, chỉ ra những mong muốn nhận được sự hỗ trợ từ các cấp chính quyền nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quà sản xuất, góp phần phát triển bền vững cho địa phương.Agriculture is an important economic sector of localities throughout the country. To ensure sustainable development goals, transformation into green growth model in agriculture has become an urgent requirement. However, current agriculture in our country still depends mainly on experience and highly specialized human resources in the agricultural field are very limited compared to requirements. This situation also occurs in Loc Ha district (Ha Tinh province). This article used the method of analyzing secondary and primary data collected through the research process to examine advantages and difficulties of farmers in production, hence to point out farmers’ demand on support from all-levels authorities in order to improve production efficiency while contributing to sustainable development of this locality