Digital Library Library University of Social Sciences and Humanities, Viet Nam National University HCM City
Not a member yet
    6430 research outputs found

    Phát triển năng lực viết đề xuất dự án cộng đồng cho sinh viên ngành Công tác xã hội tại Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thông qua mô hình học tập phục vụ cộng đồng

    No full text
    để trở thành nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực thúc đẩy sự thay đổi và phát triển cho cộng đồng, sinh viên cần có những kiến thức chuyên môn nhất định. bên cạnh đó, việc tiếp xúc thực tế cũng là yếu tố quan trọng hình thành các kỹ năng nghề nghiệp trong tương lai. với mô hình học tập phục vụ cộng đồng, các sinh viên chuyên ngành công tác xã hội tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp.hcm đã có cơ hội ứng dụng những lý thuyết chuyên ngành đã học vào thực tế. do đó, họ có thể phát triển kỹ năng cơ bản của người điều phối, đó là viết đề xuất cho một dự án phát triển cộng đồng nhằm giải quyết những thách thức mà cộng đồng phải đối mặt. ngược lại, cộng đồng còn nhận được sự hỗ trợ chuyên môn từ các sinh viên ngành công tác xã hội để có được những giải pháp hữu ích cho những vấn đề đang tồn tại.To become a professional social worker, especially in the field of promoting change and development for the community, students need to have certain professional knowledge. Besides, practical exposure is also an important factor to form future career skills. With the Community Service Learning model, Social Work majors at the University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University, Ho Chi Minh City have had the opportunity to apply learned specialized theories in practice. Consequently, they can develop a basic skill of a facilitator, which is to write a proposal for a community development project to address the challenges faced by the community. On the contrary, the community also receives professional support from students majoring in Social Work to get useful solutions to existing problems

    Một số tôn giáo lớn ở Trung Quốc và Việt Nam: nét tương đồng và khác biệt

    No full text
    Việt Nam và Trung Quốc đều là những quốc gia đa tôn giáo, có sự tương đồng về văn hóa và cùng nền tảng văn hóa phương Đông. Hai nước cũng có nền tảng chính trị tương đồng dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin và tầm nhìn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, cần nghiên cứu thực trạng tôn giáo của Trung Quốc và quan điểm, chính sách tôn giáo hiện nay của Trung Quốc rồi so sánh với Việt Nam để rút ra những khía cạnh thực tiễn chung và rút ra bài học kinh nghiệm cũng như những khác biệt tạo nên đời sống tôn giáo đặc trưng của mỗi nước. Bài viết này dựa trên quan điểm Mác-Lênin về vấn đề tôn giáo và phương pháp nghiên cứu khoa học để tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng Trung Quốc và đặt liền kề với thực trạng tôn giáo Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy tôn giáo ở Trung Quốc hiện nay khá đa dạng và phong phú, có nhiều điểm tương đồng với thực trạng tôn giáo ở Việt Nam trong sự đa dạng đa tôn giáo. Cũng có một số khác biệt trong các loại tôn giáo. Nghiên cứu cũng góp phần đưa ra những hàm ý cho sự hợp tác tôn giáo giữa hai nước.Vietnam and China are both multi-religious countries with cultural similarities and the same foundation of Oriental culture. The two countries also have similar political backgrounds based on Marxism - Leninism, and visions towards building socialism. Therefore, it is necessary to study the religious situations of China and China's current views and policies on religion and make a comparison to Vietnam to draw common practical aspects and experience lessons as well as the differences creating the distinctive religious life of each country. This article is based on the Marxist-Leninist viewpoints on religious issues and scientific research methods to synthesize, analyze and evaluate the current religious situation of China and juxtapose it with Vietnam’s religious situation. The research results show that religion in China today is quite diverse and rich with great similarities to Vietnam’s religious situations in the multi-religious diversity. There are also some differences in types of religion. The study also contributes to implications for the two countries' religious cooperation

    Hợp tác văn hóa - xã hội - môi trường giữa Việt Nam với các nước tiểu vùng Mekong giai đoạn 2020-2030 và tầm nhìn đến năm 2045

    No full text
    Từ năm 2020 đến nay, thông qua cơ chế ASEAN - Mekong, Việt Nam đã thúc đẩy hợp tác với các nước tiểu vùng Mekong trong các vấn đề môi trường, xã hội và văn hóa. Quá trình hợp tác này giúp Việt Nam và khu vực phối hợp giải quyết nhiều vấn đề có liên quan trực tiếp đến lợi ích an ninh, kinh tế, chính trị của các nước. Tuy vậy, Việt Nam và các nước tiêu vùng Mekong cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức nội tại như: an ninh nguồn nước, tội phạm xuyên biên giới, buôn bán ma túy ở khu vực và sự cạnh tranh nước lởn Mỹ - Trung đang ngày càng gia tăng. Bài viết tập trung phân tích chủ trương, chính sách và quá trình triển khai hợp tác của Việt Nam với các nước tiểu vùng Mekong về văn hóa, xã hội, môi trường nhằm đưa ra một số đánh giá và dự báo về chính sách này trong thời gian tới

    Ứng phó của lao động ngành du lịch trong bối cảnh dịch COVID-19 - Nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh

    No full text

    Vai trò của Phật giáo trong xây dựng đạo đức thanh niên thời đại cách mạng công nghiệp 4.0

    No full text
    Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) đang tạo ra những cơ hội và thách thức lớn cho sự phát triển mọi mặt của thanh niên Việt Nam, trong đó có vấn đề đạo đức, lói sống. Một bộ phận thanh niên đang tha hóa về đạo đức, sa vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật, xa rời các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Là một thành tố tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc, các giá trị của đạo đức Phật giáo đã giao thoa, hòa quyện với giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và ngày nay vẫn còn nhiều giá trị mang tính phổ quát cần được phát huy. Những giá trị nhân văn, hợp lý của đạo đức Phật giáo vẫn đang tích cực góp phần chấn hưng đạo đức xã hội, lan tỏa trong cộng đồng, điều chình ý thức đạo đức và hành vi đạo đức của thanh niên trước tác động đa chiều của toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0 hiện nay

    Hoạt động của hội chợ triển lãm Sài Gòn 1942 -1943 (qua báo chí thuộc địa)

    No full text
    Nếu như lĩnh vực kinh tế thương mại thông thường ít được những trang sử Việt Nam trong quá khứ quan tâm thì các ghi chép về mảng sinh hoạt hội chợ - triển lãm lại càng trở nên vắng vẻ. Hơn thế, bên cạnh tính kinh tế, hội chợ - triển lãm còn là một loại hình văn hóa vừa mới được du nhập từ phương Tây, thông qua sự quảng bá và khuếch trương mạnh mẽ bởi chính sách khai thác thuộc địa của Chính quyền liên bang Đông Dương. Nói cách khác, hội chợ - triển lãm thực tế đã dần dần trở thành sinh hoạt kép về kinh tế - văn hóa phổ biến trong dòng chảy lịch sử Việt Nam từ thời cận đại trở đi

    Khai quật di tích Chùa Hồ Bấc Xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam (Bắc Giang) Năm 2022

    No full text
    Chùa Hồ Bấc (hay chùa Phúc Chủ) nằm trên dãy núi Huyền Đình - Yên Tử, thuộc xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Nằm trên đỉnh một ngọn núi cao, chùa Hồ Bấc được bao quanh bởi nhiều ngọn núi cao và vực sâu. Chính những yếu tố này đã tạo nên một nơi yên tĩnh. Kết quả khai quật bước đầu cho thấy chùa Hồ Bắc được xây dựng từ thời Trần, sau đó được trùng tu, mở rộng vào thời Lê và tiếp tục tồn tại cho đến thời Nguyễn. Kết quả khai quật góp phần mang lại một nhận thức mới về khu vực Tây Yên Tử trong lịch sử. Họ cung cấp dữ liệu chính xác để làm rõ sự hình thành và tồn tại của di tích chùa Hồ Bấc. Chùa Hồ Bấc có vị trí rất quan trọng trong hệ thống chùa của Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử trên dãy núi Huyền Đình - Yên Tử. Nơi đây được coi là điểm trung chuyển của hai tuyến hành hương lên đỉnh Yên Tử: Tuyến Tây từ chùa Vĩnh Nghiêm và tuyến phía Đông từ chùa Thanh Mai. Cả hai gặp nhau tại chùa Hồ Bấc, điều này cho thấy Hồ Bấc giữ vị trí quan trọng bậc nhất trong hệ thống chùa thời Trần trên dãy núi Yên Tử trong suốt chiều dài lịch sử, đặc biệt là thời Trần

    Biến đổi xã hội, văn hóa nông thôn ven đô Hà Nội: trường hợp thôn Đồng Bụt, xã Ngọc Liệp, Huyện Quốc Oai

    No full text
    Chính sách đổi mới đưa ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12-1986) là một quyết sách lớn mang tính đột phá đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới. Bên cạnh chính sách đổi mới, những biến chuyển của nông thôn Việt Nam, đặc biệt là nông thôn vùng ven đô còn chịu chi phối bởi một yếu tố khác, đó là quá trình đô thị hóa. Quá trình này đã và đang diễn ra nhiều thập kỷ tại các đô thị lớn ỏ Việt Nam, trong đó có đô thị Hà Nội. Thực tế đó, xuất phát từ chủ trương và chính sách phát triển, quy hoạch đô thị của Đảng và Nhà nưóc cũng như yêu cầu thực tế của từng đô thị. Theo thời gian, quá trình đô thị hóa không ngừng mỏ rộng ra các vùng nông thôn ven đô đã trở thành động lực cơ bản và trực tiếp làm thay đổi diện mạo các vùng nông thôn ven đô

    Tích hợp nhiệm vụ dự án trong đánh giá năng lực mô hình hoá toán học của học sinh trung học phổ thông

    No full text
    Gắn toán học với thực tiễn cuộc sống và các ngành khoa học khác là một trong những mục tiêu tiếp cận đổi mới giáo dục ở Việt Nam. Trong đó, mô hình hóa toán học là quá trình chuyển đổi giữa các bài toán thực tế và toán học bằng cách tạo ra các mô hình toán học, từ đó giải và đánh giá mô hình. Cụ thể, các nhiệm vụ theo dự án - mức độ thực hành cao nhất (mô hình hóa thực sự) có thể hỗ trợ hiệu quả cho việc phát triển năng lực mô hình hóa toán học của học sinh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm để lồng ghép các nhiệm vụ dự án vào lớp học và tiến hành thực nghiệm nhằm đánh giá năng lực mô hình hóa toán học của học sinh. Việc lồng ghép các nhiệm vụ dự án vào lớp học tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm và giải quyết các vấn đề trong thế giới thực, từ đó giúp các em phát triển năng lực lập mô hình toán học.Connecting mathematics with real-life situations and other sciences is one of the targeted approaches of education reform in Vietnam. In particular, mathematical modeling is the process of conversion between practical and mathematical problems by creating mathematical models, thereby solving and evaluating the model. Specifically, project-based tasks - the highest practical level (true modeling) can effectively support the development of students’ mathematical modeling competency. The study used the pedagogical experimental research method to integrate project tasks into the classroom and conduct experiments to evaluate students' mathematical modeling capacity. Integrating project tasks into the classroom creates an opportunity for students to experience and solve real-world problems, thereby helping them develop mathematical modeling competency

    0

    full texts

    6,430

    metadata records
    Updated in last 30 days.
    Digital Library Library University of Social Sciences and Humanities, Viet Nam National University HCM City
    Access Repository Dashboard
    Do you manage Open Research Online? Become a CORE Member to access insider analytics, issue reports and manage access to outputs from your repository in the CORE Repository Dashboard! 👇