Digital Library Library University of Social Sciences and Humanities, Viet Nam National University HCM City
Not a member yet
6430 research outputs found
Sort by
Hiện tượng bạo lực ngôn từ trên mạng xã hội
Mạng xã hội trở thành nền tảng trung gian để dàn dựng, tạo không gian chia sẻ ý kiến giao tiếp hàng ngày, xây dựng một bản sắc truyền thống; song đặc thù khác của mạng cũng chứng thực sự gia tăng mở rộng của các yếu tố tiêu cực, trong đó có hiện lượng bạo lực ngôn từ, một trong những hình thức của bạo lực mạng, vấn đề đang gây lo ngại ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Bài viết nhằm lí giải thực trạng hiện tượng bạo lực ngôn từ trên không gian mạng hiện nay, các ngôn từ mang tính bạo lực đã được kiến tạo trong các tình huống xã hội và bị thao túng bởi tập hợp các diễn ngôn quyền lực như thế nào; kết quả nghiên cứu nhằm đóng góp phần nào cho xu hướng phát triển văn hoá ứng xử lành mạnh, tích cực trên không gian mạng
Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Nguyên nhân di cư : góc nhìn kinh tế và một số gợi mở phi kinh tế
Di cư là một hiện tượng kinh tế-xã hội ngày càng được chú ý trong giới khoa học. Tuy nhiên, những hiểu biết về di cư dường như vẫn chưa đầy đủ, trong khi những tranh luận xung quanh chủ đề này cũng chưa bao giờ kết thúc, nhất là nguyên nhân di cư. Bài viết nhầm tìm hiểu nguyên nhân di cư trong nhóm công nhân trong các khu công nghiệp. Kết quả cho thấy lực kéo và đấy trong quyết định di cư không chỉ phản ảnh những cân nhắc về kinh tế mà cả các yếu tố phi kinh tế giữa nơi đi và nơi đến. Điều này có ý nghĩa trong việc nhận diện các khu vực có tiềm năng thu hút lao động trẻ khu vực nông thôn
Công tác lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ tại văn phòng UBND tỉnh Khánh Hòa : thực trạng và giải pháp : luận văn Thạc sĩ : 8.32.03.03
Vài nét về văn học thời Minh, Thanh trong dòng chảy văn học cổ đại Trung Quốc
Ở Trung Quốc, triều Minh (1368-1644), triều Thanh (1644-1911) có sự kế thừa và phát huy văn học của các triều đại trước, phát triển nhiều loại hình tiểu thuyết cùng với sự xuất hiện nhiều tác phẩm kinh điển. Sáng tác văn học thời Minh chịu ảnh hưởng của hình thái kinh tế với các tác phẩm nổi bật như "Tam quốc diễn nghĩa”, "Tây du ký”, "Kim Bình Mai”. Đến thời Thanh, nhà văn và thương nhân có sự kết nối khiến văn hóa thương nghiệp ảnh hưởng toàn diện đến sự phát triển của văn học, với các tác phẩm tiêu biểu như "Liêu trai chi dị”, "Hồng lâu mộng”. Văn học hai triều đại Minh, Thanh có nhiều điểm chung về thể loại tiểu thuyết, nhóm văn nhân thươmg nhân, là cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận tự sự của tiểu thuyết Trung Quốc sau này.The Ming (1368-1644) and Qing (1644-1911) dynasties inherited and promoted Chinese literature of previous dynasties, developed many types of novels that emerged many classic works. Literary composition of the Ming dynasty was heavily influenced by economic forms. Prominent works of literature of the Ming Dynasty include Sanguo Yanyi (the Romance of the Three Kingdoms), Xi You Ji (Journey to the West), and Jinpingmei. By the Qing Dynasty, writers and merchants had a connection that made commercial culture comprehensively affect the development of literature, including typical works such as Liaozhai Zhiyi (Strange Tales from a Chinese Studio), Honglou Meng (The Dream of Red Mansions). The literature of the two dynasties of the Ming and Qing dynasties has much in common in terms of genre of novels, groups of writers and merchants, and is the basis of practice and theoretical of narratives of Chinese novels later on
Văn hóa tổ chức và ứng xử trong hoạt động mưu sinh của người Chăm theo đạo Islam ở Thành phố Hồ Chí Minh : luận án Tiến sĩ : 9.22.90.40
Saint Augustine: Người cha tinh thần của triết học Kito Giáo
Thánh Augustine (354-430) là một nhà thần học và triết học có nhiều ảnh hưởng trong Kitô giáo và triết học phương Tây. Tư tưởng của ông đã có ảnh hưởng sâu đậm đối với thế giới quan phương Tây về sau. Bên cạnh việc nêu khái quát tiểu sử và những tác phẩm tiêu biểu của Thánh Augustine, bài viết chủ yếu giới thiệu một số nội dung cơ bản trong triết học Kitô giáo của ông, như: vấn đề về quan hệ giữa tri thức và niềm tin, về sự sáng tạo và điều hành thế giới của Thiên Chúa, quan niệm hiện sinh hữu thần về phạm trù thời gian, triết lý về thân phận và đạo đức con người, v.v... Qua đó nêu lên ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại và những ảnh hưởng trong lịch sử triết học của nhà thần học trứ danh người Algeria này
Thiết chế tín ngưỡng dân gian vùng biển Nam Bộ
Nghiên cứu này tiếp cận thiết chế tín ngưỡng vùng biển Nam Bộ từ tên gọi (lăng thờ cá Ông, miếu Bà Thủy Long, miếu Bà Chúa Xứ, miếu Bà Thiên Hậu, đình/miếu thờ Thành Hoàng), phạm vi phân bố, kiến trúc, đối tượng thờ tự, sự biến đổi của không gian thờ tự, sự giao lưu văn hóa của cơ sở thờ tự... Góp phần nhận diện các dạng thức tín ngưỡng dân gian phổ biến ở một vùng sinh thái đặc thù trong quá trình hình và phát triển nơi vùng đất mới cũng như làm rõ nét hơn những đặc điểm tín ngưỡng của Nam Bộ.This study examines the institutions of folk religion in the Southern coastal region such as their names (fish worshiping mausoleum, Ba Thuy Long temple, Ba Chua Xu temple, Ba Thien Hau temple, communal temple for worshiping deity Thanh Hoang), architecture, objects of worship, changes in worship space, cultural exchange of worship facilities. This paper contributes to identifying popular forms of folk beliefs in a specific ecological region during the process of formation and development in the new land as well as making clearer the religious characteristics of the South
Hành xử của Nguyễn Thiếp trước thời cuộc và những đánh giá của hậu thế
Năm 1771, phong trào Tây Sơn bùng nổ và nhanh chóng giành được nhiều thắng lợi. Sự hưng khởi của Tây Sơn đưa đến hi vọng về một chính quyền mới có thể thống nhất được quốc gia, chấm dứt tình trạng khủng hoảng của chế độ quân chủ. Thời thế xoay vần, anh hùng xuãt thế, kẻ xu thời thì phải nhanh chóng theo về minh chủ mới. Tuy nhiên, thái độ và thế hành xử của Nguyễn Thiếp đối với triều Tây Sơn lại là một quá trình với những diễn biến phức tạp: từ lạnh lùng, bất hợp tác đến e dè cuối cùng mới cởi mở, chân thành đồng ý ra giúp sức
So sánh chức năng của từ OK trong tiếng Anh, tiếng Việt và tiếng Thái
Mặc dù từ OK được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, nhưng có sự khác biệt về chức năng của nó tùy thuộc vào văn hóa của mỗi xã hội và ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu, dựa trên khảo sát một số tác phẩm của Việt Nam và Thái Lan, cho thấy trong tiếng Việt và tiếng Thái, OK có nghĩa là sự đồng ý phản ánh tính cách, nghĩa là cả người Thái và người Việt Nam thường thể hiện sự đồng ý và chấp nhận của họ với tuyên bố của người đối thoại hơn là thể hiện sự không đồng ý hoặc chỉ trích. Tuy nhiên, trong tiếng Anh, từ này có hai vai trò đặc biệt: khẳng định quan điểm của một người và kết thúc một cuộc trò chuyện, không được sử dụng phổ biến trong cuộc trò chuyện vì nó được coi là bất lịch sự. Hơn nữa, người nói tiếng Anh không sử dụng OK nhiều lần như người nói tiếng Thái trong khi người Thái thích sử dụng OK nhiều lần để thể hiện sự nhiệt tình của người nói.Although the word OK is widely used throughout the world, there are differences in its functions depending on the culture of each society and language. The research results, based on surveys of several Vietnamese and Thai works, show that in Vietnamese and Thai, OK means consent which reflects personality, that is, both Thai and Vietnamese people often indicate their agreement and acceptance with interlocutor’s statement rather than expressing disagreement or criticism. However, in English, this word has two special roles: asserting one’s viewpoint and concluding a conversation, that are not commonly used in conversation because it is considered impolite. Moreover, English speakers do not employ OK repeatedly like Thai speakers while Thai people prefer to use OK repeatedly to show speaker’s enthusiasm