Digital Library Library University of Social Sciences and Humanities, Viet Nam National University HCM City
Not a member yet
6430 research outputs found
Sort by
Hệ thống cảng thị ở thành phố Hồ Chí Minh nhìn từ khảo cổ học đô thị và công nghiệp
Lịch sử phát triển của Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh đã gắn liền với sông Sài Gòn, nền kinh tế năng động và hội nhập của thành phố này gẳn liền với hệ thống cảng thị, văn hóa lối sống thành phố này có tính chất khai mở, phóng khoáng của sông của biển... Di sản đô thị, di sản công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh có giá trị to lớn về lịch sử công nghiệp và đô thị Việt Nam. Trong quá trình hình thành và phát triển vùng đất Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh, nhờ luôn hội tụ và phát huy những lợi thế về vị trí địa lý, sự giao thương rộng rãi với bên ngoài và nguồn lực vật chất của lưu vực Đồng Nai - cửu Long, “cảng thị sơ khai" cần Giờ xưa kia, cảng Bến Nghé thời Nguyễn, cảng Sài Gòn trong thế kỷ XXI và hiện nay là hệ thống cảng biển, thành phố Hồ Chí Minh đã giữ vững vai trò quan trọng trong những giai đoạn lịch sử khác nhau. Đó là một lợi thế mà hầu như không có một đô thị biển nào ở Việt Nam có được (Nguyễn Thị Hậu 2010)
Bản thể luận của triết học Long Thọ trong tác phẩm Trung quán luận : luận văn Thạc sĩ : 8.22.90.01
Tên tuổi Hồ Chí Minh mãi mãi khắc ghi trong tâm khảm những người bạn Liên Xô
Cách đây 100 năm, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã đến quê hương Cách mạng Tháng Mười. Từ đó về sau, quá trình cùng với Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã từng bước đặt nền móng, vun đắp mối quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô ngày càng gắn bó. Tình cảm này không đơn thuần là hoạt động ngoại giao mà xuất phát từ tấm lòng chân thành, biết ơn sâu sắc đối với đất nước, nhân dân Liên Xô đã luôn ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam cả về vật chất, tinh thần trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như xây dựng chủ nghĩa xã hội
Những nhân tố tác động đến vai trò của các tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ lý luận
Bảo vệ môi trường ngày nay không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó có các tổ chức xã hội. Từ phương diện lý luận, bài viết tập trung xem xét những nhân tố tác động đến vai trò của các tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường tại Việt Nam hiện nay, cụ thể là sự tác động của các nhân tố cơ bản sau: tác động từ nhận thức của các chủ thể xã hội có liên quan; tác động của khung pháp lý và chính sách; tác động của thể chế và cơ chế đến hoạt động bảo vệ môi trường của các tổ chức xã hội
Tư tưởng nhân văn trong tác phẩm "Những nguyên lý triết học tương lai" của Ludwig Feuerbach và ý nghĩa lịch sử của nó : luận án Tiến sĩ : 9.22.90.01
Quá trình Đảng lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc tế (2011-2021)
Bước vào thập kỉ thứ hai của thế kỉ XXI, trước sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, đồng thời tăng cường chỉ đạo quá trình hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đạt được kết quả tích cực, đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn, có quan hệ thương mại với trên 230 thị trường. Những thành tựu đạt được trong hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm quý báu
Luận bàn về tính chất và vai trò của xuất bản sách chính trị
Tính chất của xuất bản là những thuộc tính bản chất của hoạt động xuất bản, phản ánh qua quá trình xuất bản, chịu ảnh hưởng yếu tố thời đại và phương thức tư duy cá nhân. Ở góc độ truyền bá xã hội, xuất bản sách chính trị có tính chính trị, tính kinh tế và tính văn hoá. Ở góc độ truyền bá tư tưởng, xuất bản là công cụ mềm có sức thuyết phục mạnh mẽ, trực tiếp tác động vào nhận thức đối tượng. Nhận thức đúng đắn về tính chất, vai trò của xuất bản sách chính trị, hiểu biết về tính đặc thù của xuất bản sách liên quan chặt chẽ với xây dựng cơ chế, chính sách quản lý xuất bản cũng như vận hành của hệ thống xuất bản, đảm bảo cho xuất bản phát triển đúng định hướng, hiện thực hoá các giá tr
Ẩn dụ ngữ pháp trong phần dẫn thông cáo báo chí tiếng việt lĩnh vực giáo dục
Ẩn dụ ngữ pháp, lần đầu tiên được giới thiệu bởi Halliday (1985), được coi là một nguồn tài nguyên để tạo ra ý nghĩa trong diễn ngôn bằng cách chuyển từ chiều từ vựng ngữ pháp sang hệ thống chức năng-ngữ nghĩa trong khuôn khổ lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống. Khái niệm này bao gồm hai loại ẩn dụ ngữ pháp: ẩn dụ ngữ pháp chuyển tiếp và ẩn dụ ngữ pháp giữa các cá nhân. Sau đó, Martin (1992) tiếp tục điều tra và xác nhận sự tồn tại của phép ẩn dụ ngữ pháp văn bản là một trong ba loại trong ngôn ngữ học chức năng hệ thống. Dựa trên nền tảng lý luận này, bài viết phân tích hiện tượng ẩn dụ ngữ pháp trong các tiêu đề thông cáo báo chí giáo dục Việt Nam, xác định các phương thức biểu đạt khác nhau, vừa không tương thích (ẩn dụ) vừa tương thích (không ẩn dụ), nhằm truyền tải thông điệp truyền thông. Kết quả chỉ ra rằng cả ba loại ẩn dụ ngữ pháp đều xuất hiện trong các tiêu đề thông cáo báo chí giáo dục Việt Nam. Phép ẩn dụ ngữ pháp văn bản chiếm ưu thế, chiếm 34% tổng số dữ liệu được phân tích. Phép ẩn dụ ngữ pháp tạm thời được thực hiện thông qua việc đề cử các nhóm động từ và đề cử các mệnh đề, giảm quá trình cho người tham gia, chiếm 28%, phép ẩn dụ ngữ pháp giữa các cá nhân, như thể hiện qua phép ẩn dụ tâm trạng và ẩn dụ phương thức, chỉ chiếm 6%, phản ánh tính khách quan của thông cáo báo chí.Grammatical metaphor, first introduced by Halliday (1985), is considered a resource for creating meaning in discourse by shifting from the lexical-grammatical dimension to the functional- semantic system within the framework of systemic functional grammar theory. This concept encompasses two types of grammatical metaphor: transitivity grammatical metaphor and interpersonal grammatical metaphor. Subsequently, Martin (1992) further investigated and confirmed the existence of textual grammatical metaphor as one of the three types in systemic functional linguistics. Building on this theoretical foundation, the article analyzes the phenomenon of grammatical metaphor in Vietnamese educational press release headlines, identifying various modes of expression, both incompatible (metaphorical) and compatible (non-metaphorical), aimed at conveying the communication message. The results indicate that all three types of grammatical metaphor appear in Vietnamese educational press release headlines. Textual grammatical metaphor predominates, accounting for 34% of the total analyzed data. Transitivity grammatical metaphor is realized through nominalization of verb groups and nominalization of clauses, reducing process to participant, accounting for 28%, Interpersonal grammatical metaphor, as shown through mood metaphor and modality metaphor, only constitutes 6%, reflecting the objectivity of the press release
Một số vấn đề lý luận về khai thác dịch vụ cung cấp của hệ sinh thái đất ngập nước ven biển
Đất ngập nước ven biển có vai trò quan trọng đối với con người và thiên nhiên, giúp lưu trữ các-bon, chống lại các tác động của biến đổi khí hậu, là môi trường sống của nhiều loài sinh vật; bảo đảm nguồn cung cấp thức ăn và tạo nên các nguồn sinh kế cho người dân. Tuy nhiên, chất lượng các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển của Việt Nam đang đối mặt với nhiều nguy cơ, nhất là các vùng triều, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn. Trong khi đó, nhiều địa phương chưa đánh giá đúng và phát huy được giá trị dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước, còn tồn tại các xung đột trong việc hài hòa giữa mục tiêu phát triển và bảo tồn các vùng đất ngập nước; bài viết sẽ làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc khai thác dịch vụ cung cấp của hệ sinh thái đất ngập nước ven biển nhằm phục vụ sử dụng hợp lý các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển.Coastal wetlands play an important role for both humans and nature in helping to store carbon and combat the adverse effects of climate change. They are also the habitat of many species of creatures; provide food supplies and create livelihoods for local people. However, the quality of Vietnam's coastal wetland ecosystems is facing many risks, especially in areas affected by tides, seagrass beds, and mangroves. Meanwhile, many localities have not properly assessed and promoted the value of wetland ecosystem services. There are still conflicts in the harmonization of the goals of development and conservation of wetlands. Within the framework of this article, a number of theoretical and practical issues were clarified regarding the exploitation of services which are related to coastal wetland ecosystems in order to make more rational use of the economy and protect the environment
Giá trị, vai trò của hai dòng văn hoá, văn nghệ dân gian và bác học thời kì Đại Việt
Văn hoá Đại Việt là một nền văn hoá truyền thống được bắt đầu từ khi Ngô Quyền dựng nước (939) cho đến khi triều đình nhà Nguyễn kí với Pháp hiệp ước Patơnốt (1884). Thời kì này có hai dòng văn hoá, văn nghệ song song tồn tại là dân gian và bác học. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhìn chung vãn hoá, văn nghệ dân gian bị đánh giá thấp, thậm chí bị kì thị. Sau Cách mạng, các nhà giáo, nhà khoa học đầu ngành khẳng định có phần thái quá đối với văn hóa, văn nghệ dân gian; hạ thấp, xem thường văn hoá bác học. Thực ra, trong thời kì Đại Việt, cả hai dòng dân gian và bác học đều rất quan trọng, đều thể hiện bản sắc, tâm hồn dân tộc; trong không ít trường hợp, văn hóa, văn nghệ bác học đóng vai trò quyết định. Ngay ở những trường hợp đó, vẫn cần có sự tham gia tích cực của văn hóa, văn nghệ dân gian