Digital Library Library University of Social Sciences and Humanities, Viet Nam National University HCM City
Not a member yet
6430 research outputs found
Sort by
Cuộc xung đột Nga - U-crai-na: Một năm nhìn lại
Sáng 24/2/2022 (theo giờ Việt Nam), hãng thông tấn TASS đưa tin Tổng thống Nga Putin tuyên bố mở chiến dịch quân sự đặc biệt ở miền Đông U-crai-na nhằm đáp lại lời đề nghị hỗ trợ của lãnh đạo hai nước cộng hòa tự xưng Donetsk (DPR.) và Lugansk (LPR). Trước đó ngày 21/2, Nga đã công nhận nền độc lập của hai nước cộng hòa tự xưng này và việc thiết lập quan hệ ngoại giao được thực hiện ngay hôm sau ngày 22/2. Đến nay, cuộc chiến đã kéo dài hơn một năm. Giao tranh ác liệt giữa Nga và U-crai-na, với U-crai-na nhận được sự giúp sức mạnh mẽ chưa từng có của Mỹ và phương Tây, tiếp tục diễn ra. Bài viết nhằm đánh giá tổng thể cuộc xung đột này trong một năm qua và dự báo cho năm 2023
Khảo sát chiến lược nghe hiểu được sinh viên sử dụng trong lớp học tiếng Anh tại một trường đại học ở Việt Nam
Lắng nghe đóng một vai trò quan trọng trong giao tiếp, vì nó liên quan đến việc tiếp nhận và giải thích các kích thích thính giác. Nghiên cứu hiện tại nhằm mục đích tìm hiểu chiến lược nghe được sử dụng trong các lớp EFL tại Trường Đại học Kinh tế - Công nghiệp. Sử dụng phương pháp định lượng, bảng câu hỏi được phỏng theo Đặng Thị Hạnh et al. (2021) được thực hiện cho 56 sinh viên không chuyên tiếng Anh. Các phát hiện chỉ ra rằng học sinh sử dụng các chiến lược chủ yếu mang tính cảm xúc xã hội thường xuyên hơn các chiến lược nhận thức và siêu nhận thức. Đặc biệt, học sinh giảm bớt lo lắng bằng cách đưa ra dự đoán, thu thập kiến thức, tham gia thực hành lặp đi lặp lại và hợp tác với các bạn cùng lớp. Nghiên cứu cung cấp các kỹ thuật giảng dạy khác nhau cho giáo viên để cải thiện kỹ năng nghe của học sinh và thúc đẩy sự tương tác của họ. Một số khuyến nghị sư phạm cuối cùng được đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo.Listening plays a vital role in communication, as it involves the reception and interpretation of auditory stimuli. The current study aims to investigate the listening strategy used in EFL classes at the University of Economics - Technology for Industries. Using a quantitative methodology, a questionnaire adapted from Dang Thi Hanh et al. (2021) was administered to 56 non-English major students. The findings indicate that students used predominantly socio-affective strategies more frequently than cognitive and metacognitive strategies. Particularly, students reduced their anxiety by making predictions, gathering knowledge, participating in repeated practice, and collaborating with peers. The research provides various teaching techniques for teachers to improve students’ listening skills and promote their interactions. Several pedagogical recommendations are eventually proposed for further studies
Năng lực giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu của học sinh trung học cơ sở huyện Sìn Hổ, tỉnh Lai Châu và huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum
Vận dụng phương pháp điều tra xã hội học, bài báo đã tiến hành khảo sát thực trạng năng lực giảm thiểu rủi ro thiên tai (RRTT) và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) của 238 học sinh (HS) cấp trung học cơ sở (THCS) ở hai huyện Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu) và Kon Plông (tỉnh Kon Tum). Kết quả cho thấy, năng lực của HS còn rất hạn chế; điểm bình quân chỉ đạt 73,4 điểm, xếp ở mức “trung bình”; không có HS nào được đánh giá ở mức “tốt” trở lên, xếp loại “khá” chỉ có 15 HS (chiếm 6,3%), có tới 32 HS (13,4%) xếp loại “kém”. Đại đa số còn lại (191 HS, chiếm tỉ lệ 80,3%) nằm ở thang điểm “trung bình”. Trong số ba khía cạnh để đánh giá năng lực (kiến thức, kĩ năng và thái độ), phần đánh giá về kiến thức xếp loại thấp nhất, ở mức “kém”. Kết quả nghiên cứu có thể hữu ích cho các địa phương trong việc lựa chọn những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực giảm thiểu RRTT, thích ứng BĐKH cho HS.Using the method of sociological investigation, the authors conducted a survey on the current situation of disaster risk reduction and climate change adaptation capacity of 238 secondary school pupils in two districts of Sin Ho (Lai Chau) and Kon Plong (Kon Tum). The results show that their ability is still very limited. The average score is only 73.4 points, ranked at "medium" level. No pupil is rated at "good" or higher, rated "fairly good" only 15 pupils, accounting for 6.3% and up to 32 pupils (13.4%) were classified as "less good" level. The vast majority of the remaining (191/238 pupils, accounting for 80.3%) are in the "medium" scale frame. It is worth noting that, out of the three dimensions of competency assessment including knowledge, skills and attitudes, the assessment of knowledge is rated the lowest, at “less good” level. Research results can be useful for localities in choosing appropriate solutions to improve pupils' capacity to reduce disaster risk and adapt to climate change
Traversing boundaries: Contemporary Hindi cinema at international film festivals
Tạp chí mua quyền truy cập TAYLOR & FRANCISThe paper investigates the symbiotic relationship between international
film festivals and contemporary Hindi cinema. The years post
2010 have witnessed an increase in showcasing of Hindi cinema at
international film festivals. Unlike earlier Indian cinema that has
been celebrated at global platforms, the Hindi cinema under discussion
situates itself at a juncture between the commercial and the
art. In fact, a number of mainstream filmmakers who attempt
unconventional themes, are exploring international film festivals
as suitable avenues to reach a larger audience and to forge newer
alliances. The primary theoretical framework of this research will
draw upon Marijke‘s proposition that film festivals are ‘sites of
cultural legitimisation’ (77); along with, as an entry point, Pierre
Bourdieu’s understanding of the festival space as an active site for
the generation of economic and cultural capital. In addition, the
study also investigates how Hindi filmmakers use this platform to
market cinema and reach an international audience. This paper
attempts to evaluate the above dynamics through the prism of
three representative cinematic texts: Masaan (Dir. Ghaywan),
Newton (Dir. Masurkar) and Gully Boy (Dir. Akhtar)
Hoạt động truyền bá kinh sách Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam thời Lê Trung Hưng (1533 -1789)
Sau thời Trần (1226-1400), thời Hồ (1400-1407) và thời Lê Sơ (1428-1527), hoạt động truyền bá kinh sách Phật giáo ít được ghi chép. Song đến thời Mạc (1527-1592), Phật giáo nhận được sự quan tâm của chính quyền, tạo tiền đề cho sự phát triển ở thời vua Lê - chúa Trịnh. Đây cũng là thời kỳ Đoan Quận công Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn mở cõi ở phương Nam và dẫn đến việc phân tranh quyền lực giữa hai dòng họ Trịnh - Nguyễn từ năm 1627 đến năm 1672, từ đó hình thành cục diện Đàng Ngoài, Đàng Trong. Mặc dù có những phân tranh giữa họ Trịnh với họ Mạc, rồi họ Trịnh với họ Nguyễn diễn ra nhiều năm, nhưng Phật giáo vẫn có sự phục hồi và phát triển thông qua nhiều hoạt động khác nhau, trong đó có hoạt động truyền bá kinh sách trực tiếp hoặc gián tiếp từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII
A New Scene of Thought: On Waldow’s Experience Embodied
In her book Experience Embodied, Anik Waldow challenges and reimagines the
traditional interpretative approach to the concept of experience in the early
modern period..
Di sản hóa thực hành tôn giáo tín ngưỡng và sự quản trị cái thiêng: Nghiên cứu trường hợp lễ Hết Chá của người Thái ở Mộc Châu, Sơn La_Phạm Đặng Xuân Hương _Đỗ Thị Thu Hà
Lý thuyết về di sản tôn giáo, đúng chủ ý là sự phê bình mối quan hệ giữa di sản hóa và tính thiêng (Meyer & Marleen de Witte 2013, Isnart & Nathalie Cerezales 2020, Salemink 2013, 2016, 2022,...) đã nhấn mạnh về quá trình thế tục hóa khi phục dựng một thực hành tôn giáo tín ngưỡng vì một mục đích phi tôn giáo của các cơ quan công quyền. Đây cũng được xem là một biểu hiện của sự chiếm đoạt văn hóa khi các thực hành văn hóa cụ thể bị đưa ra khỏi ngữ cảnh, bị "những người ngoại đạo” diễn giải, đóng gói và trình bày cho khán giả bên ngoài như một di sản đích thực cần bảo tồn, từ đó làm "xói mòn ” các quyền (quản lý, tổ chức, tạo ra và nhận lợi ích) của cộng đồng sở hữu di sản. Tuy nhiên, sự phê phán này dễ dàng bỏ qua các trường hợp cụ thể, nơi những nhóm và cá nhân được xem là "bên dưới ” (bottom-up), "yếu thế" đã nắm bắt tình thế, dùng cái thiêng để tái chiếm đoạt quyền quản trị di sản, xây dựng lại kịch bản trình diễn di sản và nỗ lực để đảm bảo cho sự tồn tại của cái thiêng. Quá trình di sản hóa, mặt nào đó cũng có tác dụng nối lại sự ngắt quãng các thực hành văn hóa, tín ngưỡng, phục hồi vũ trụ quan vạn vật hữu linh của cộng đồng bản địa. Bài viết phân tích về các động thái này qua trường hợp lễ hội Hết Chá của người Thái trắng ở Mộc Châu, Sơn La
Cách tiếp cận phức hợp về an ninh phi truyền thống trong bối cảnh chiến tranh lai và ảnh hưởng sâu rộng của tiến trình chuyển đổi số trong nền an ninh quốc gia (kỳ 1)
Một trật tự toàn cầu mới đang được định hình, điều đó cũng đồng nghĩa với một sự đòi hỏi về cách tiếp cận an ninh mới do những luật chơi mới định hình. Chiến tranh lai cùng với tiến trình chuyển đổi số đang đặt ra một sự tác động đồng thời, thay đổi bản chất sức mạnh của mỗi quốc gia. Bối cảnh mới này đòi hỏi phải có một tư duy mới về an ninh, tư duy phức tạp, để có thể đồng lúc nhìn thấy từ nhiều chiều kích khác nhau, những tác động an ninh trong một tương quan tổng thể. Thay vì tập trung vào các danh mục của các mối đe dọa, ngăn chặn và phòng ngừa, vấn đề an ninh quốc gia hiện nay được chuyển hướng vào một mục tiêu duy nhất đó là an ninh quốc gia tổng thể, việc ngăn chặn và phòng ngừa cũng phải chuyển hướng sang thích ứng và phản ứng linh hoạt hiệu quả trước mọi tình huống, bằng mọi biện pháp và từ mọi điểm tiếp cận. Các trọng tâm chiến lược cho an ninh quốc gia cũng chuyển từ các mục tiêu cụ thể theo thứ bậc ưu tiên, sang việc dịch chuyển liên lục các mục tiêu theo hướng tấn công vào bất kỳ điểm tiếp cận nào có thể làm suy yếu theo hiệu ứng mạng lưới một cách nhanh nhất sức mạnh quốc gia. Những thách thức mới này, do vậy, đòi hỏi chúng ta phải có một cách tiếp cận phức hợp về an ninh và hình thành nên một khái niệm an ninh phi truyền thống mới - trong đó an ninh truyền thồng và các vấn đề phi truyền thống hòa nhập thành một tổng thể
Sự biến đổi về âm học của phụ âm tiếng Ba Na qua giá trị VOT (voice onset time - thời gian khởi thanh)
Ngôn ngữ Bahnar đã được xác định với ba phương ngữ chính được đặc trưng bởi các tính năng khác nhau trong các phụ âm ban đầu. Nhìn chung, xu hướng quay của phụ âm được thể hiện ở các chế độ và vị trí khớp nối. Các nhóm phụ âm ban đầu thường xoay bao gồm: [p, b], [d, t], [g, k). Cần lưu ý rằng phụ âm đầu tiên có xu hướng bị phát âm hoặc đang trong giai đoạn tranh chấp giữa phe đối lập không có giọng nói. Việc xác định biến thể phụ âm, dựa trên dữ liệu VOT và phân tích quang phổ, cho phép các nhà nghiên cứu mô tả sự tinh tế trong cách phát âm của phụ âm ban đầu trong phương ngữ Bahnar. Tùy thuộc vào loại phụ âm ban đầu, các giá trị F0, và F2 của nguyên âm là khác nhau.The Bahnar language has been identified with three main dialects characterized by different features in the initial consonants. In general, the rotation trend of consonants is shown in the modes and position of articulation. Groups of initial consonants that often rotate include: [p, b], [d, t], [g, k). It is noted that the first consonant tends to be devoiced or is in the stage of dispute between the voiceless - voiced opposition. The determination of consonant variation, based on VOT data and spectral analysis, allows researchers to describe the subtleties of vocalization of initial consonants in Bahnar dialects. Depending on the type of initial consonant, the F0, Fl and F2 values of the vowel are different
Vai trò của mạng xã hội trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
Việt Nam nằm trong top 6 các quốc gia có lượng người dùng mạng xã hội lớn nhất thế giới, trong đó mạng xã hội đang trở thành công cụ đắc lực cho các thế lực thù địch thực hiện âm mưu phá hoại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Bài viết phân tích và làm rõ vai trò của mạng xã hội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của mạng xã hội đối với công tác này hiện nay