Journal of Vietnamese Environment
Not a member yet
    249 research outputs found

    Optimization production conditions of photosynthetic purple bacteria biomass at pilot scale to remove sulphide from aquaculture pond: Tối ưu hóa các điều kiện để sản xuất sinh khối vi khuẩn tía quang hợp ở quy mô pilot tạo chế phẩm xử lý sulphide trong đáy ao nuôi trồng thủy sản

    Full text link
    For the purpose of sulphide removal in aquaculture ponds, three strains (name: TH21, QN71, QN51) were isolated and selected with the highest sulphide removal activity from Thanh Hoa and Quang Ninh coastal zones. These strains have identified and tested in a number of aquaculture ponds in different areas with good water quality results. With the objective of purple non sulfur bacteria biomass production containing 3 selected strains for wide application and suitable price for farmers, in this study, we study on optimum conditions of mixed purple non sulfur bacteria biomass production at pilot scale. The results showed that the sources of substrates were soybean meal (1g/l) and acetate (0.5g/l). These substrates are low cost, easy to find, convenient in large culture. The mixture of photosynthetic bacteria can be cultured in glass tanks, under micro aerobic and natural lighting conditions that produce highly concentrated photosynthetic bacteria and lowest rest media. Nhằm mục tiêu xử lý sulphide trong môi trường nuôi trồng thủy sản, chúng tôi đã phân lập và lựa chọn được ba chủng vi khuẩn tía quang hợp có khả năng loại bỏ sulphide cao nhất ký hiệu TH21, QN71, QN52 từ các vùng ven biển Thanh Hóa và Quảng Ninh. Các chủng này đã được định loại và thử nghiệm tại một số ao nuôi thủy sản ở các vùng khác nhau thu được kết quả tốt về chất lượng nước. Để tạo chế phẩm vi khuẩn tía quang hợp từ 3 chủng lựa chọn được ứng dụng rộng rãi và có giá thành phù hợp cho nông hộ, trong nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu tối ưu hóa các điều kiện sản xuất sinh khối hỗn hợp 3 chủng vi khuẩn tía quang hợp ở quy mô pilot. Kết quả cho thấy đã tìm kiếm được nguồn cơ chất là bột đậu tương (1g/l) và acetate (0.5g/l) là những chất có giá thành thấp, dễ tìm kiếm, thuận tiện trong nhân nuôi ở quy mô lớn. Hỗn hợp vi khuẩn tía quang hợp có thể nuôi trong các bể kính, ở điều kiện vi hiếu khí, có ánh sáng chiếu tự nhiên có thể sản xuất được chế phẩm vi khuẩn tía quang hợp có mật độ cao, cơ chất còn lại sau sản xuất là ít nhất

    Effects of some microelements on antifungal activity and biomass of the Actinomyces producing Validamycin-A: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến hoạt tính kháng nấm và sinh khối của xạ khuẩn sinh kháng sinh Validamycin-A

    Full text link
    Validamycin A (Val-A) is an aminoglycoside\u27s antibiotic with anti-fungal activity. Val-A synthesized by Streptomyces hygroscopicus strain depending on the growth and development of this actinomyces. In this study, the effects of Mn and Zn on the antifungal activity and biomass of the Streptomyces hygroscopicus were conducted. The results showed that micronutrients Mn, Zn had significant effects on biomass as well as antifungal activity of strain Streptomyces hygroscopicus-DA15. With the addition of Mn at a concentration of 1μg/l of the nutrient medium, biomass of Streptomyces hygroscopicus was 2.85 ± 0.02 g/ml, the anti-fungal Rhizoctonia solani (R. solani) round diameter reached 3.5 ± 0.2 cm. With the addition of Zn = 3 µg/l of the nutrient medium, biomass of Streptomyces hygroscopicus DA15 was 4.5 ± 0.02 g/ml, the anti-fungal R. solani diameter reached 3.4 ± 0.2 cm. Validamycin A (val-A) là một loại kháng sinh có khả năng kháng nấm, được tổng hợp bởi xạ khuẩn Streptomyces hygroscopicus và phụ thuộc vào quá trình sinh trưởng, phát triển của xạ khuẩn. Bài báo này đánh giá ảnh hưởng của nguyên tố vi lượng Mn, Zn đến hoạt tính kháng nấm Rhizoctonia solani (R. solani) và sinh khối của chủng Streptomyces hygroscopicus DA15. Khi bổ sung Mn vào môi trường nuôi cấy với nồng độ 1μg/l, sinh khối của Streptomyces hygroscopicus-DA15 đạt 2,85±0,02g/ml, đường kính vòng kháng nấm đạt 3,5±0,2cm. Bổ sung Zn vào môi trường nuôi cấy với hàm lượng Zn=3µg/l, sinh khối của Streptomyces hygroscopicus DA15 đạt 4,5±0,02g/ml và đường kính vòng kháng nấm đạt 3,4±0,2cm

    Optimized extraction conditions of polysaccharides from Pseuderanthemum crenulatum (Wall. ex Lindl.) Radlk.: Nghiên cứu các điều kiện thích hợp chiết xuất polysaccharide từ cây Xuân hoa răng Pseuderanthemum crenulatum (Wall. ex Lindl.) Radlk.

    Full text link
    Polysaccharide has attracted great attentions for its benefits to human health. Polysaccharide from natural sources have diverse anti-inflammatory, anticoagulant and wound healing activities. Polysaccharide is not only valuable in medicine, also widely used in foodstuffs such as gel thickening or emulsifying agents, emulsifiers, fillers. Recently there has been an increase in the demand for polysaccharides, so research into new sources of polysaccharide with plant-based bio-activity is essential. Pseuderanthemum crenulatum (Wall. ex Lindl.) Radlk belong to genus of Pseuderanthemum. Common names (Vietnamese): Xuân hoa răng. This species is native in the forests of Vietnam. The polysaccharide content in P. crenulatum leaves was (7.47 ± 0.6) % in dry weight. The appropriate polysaccharide extraction conditions were determined: material/ water ratio (1g/25ml), extracted temperature of 60°C, extraction time 12 hours. The polysaccharide composition was purified by TCA 10%, with a purity of (55.6 ± 1.19) %. Trong những năm gần đây, polysaccharide là nhóm hợp chất rất được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm do các tác dụng quan trọng của chúng về tăng cường miễn dịch, kháng viêm, làm lành vết thương, chống ung thư… Polysaccharide không những có giá trị trong Y học mà còn được sử dụng rộng rãi trong thực phẩm như các chất tạo độ đặc hay tạo gel, chất làm bền nhũ tương, chất độn… Hiện nay, nhu cầu sử dụng polysaccharide từ thực vật ngày càng gia tăng nên việc điều tra, khai thác nguồn polysaccharide mới có hoạt tính sinh học là rất cần thiết. Pseuderanthemum crenulatum (Wall. ex Lindl.) Radlk thuộc chi Pseuderanthemum sp, tên thông thường là cây Xuân hoa răng, là cây mọc tự nhiên trong rừng Việt nam. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tách chiết, xác định hàm lượng và tinh sạch sơ bộ polysaccharide từ lá cây Pseuderanthemum crenulatum. Hàm lượng polysaccharide trong lá cây Xuân hoa răng đạt (7.47 ± 0.6) % trọng lượng khô. Các điều kiện chiết rút polysaccharide thích hợp đã được xác định: nhiệt độ chiết rút 60°C, tỷ lệ nguyên liệu/nước (1g mẫu khô/25ml nước), thời gian chiết rút 12 giờ. Chế phẩm polysaccharide đã được tinh sạch bằng TCA 10%, có độ sạch đạt (55.6 ± 1.19)%

    Study on forest tenure in Vietnam in terms of justice, dispute resolution, gender, pro-poor and inclusiveness: Hưởng dụng rừng ở Việt Nam về các khía cạnh công bằng, giải quyết tranh chấp, giới, vì người nghèo và sự bao trùm

    Full text link
    This article is an important content of the research on "Assessment of Forest Tenure Policies and Regulation in Vietnam ". This assessment reviewed 79 legal documents related to forest land tenure that includes: 1 Constitution; 8 Laws; 1 Resolution; 20 Decrees; 30 Circulars, 18 Decisions and 1 Directive. The objective of this paper was to assess some facets of Justice, Dispute Resolution, Gender, Pro-poor and Inclusiveness in the system of Vietnam forest tenure policies. The main research method was based on the assessment framework Voluntary Guidelines on the Responsible Governance of Tenure of Land, Forests and Fisheries. The results of 2 theme groups (a-Access to justice and resolution of tenure rights; and b-Gender equity and pro-poor and inclusiveness), corresponding to the seven sub-themes/criteria showed that its marks were at from 1 to 2 (the system of forest tenure policies in Vietnam has attained “slightly addressed” to “moderately addressed” for the facets of forest tenure rights), has not gained the levels of “mostly addressed” (mark 3) or “fully addressed” (mark 4). Bài báo này là một phần nội dung quan trọng của nghiên cứu “Đánh giá các Chính sách và Quy định hưởng dụng rừng ở Việt Nam”. Công trình nghiên cứu đã rà soát phần lớn các chính sách hiện hành quan trọng của hưởng dụng rừng với tổng số 79 văn bản, gồm: 1 Hiến pháp; 8 Luật; 1 Nghị quyết; 20 Nghị định; 30 Thông tư; 18 Quyết định và 1 Chỉ thị. Mục tiêu của bài viết này là đánh giá các mặt công bằng, giải quyết tranh chấp, giới, vì người nghèo và sự toàn diện trong hệ thống các chính sách hưởng dụng rừng ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu chính được dựa trên khung đánh giá của Hướng dẫn tự nguyện về Quản trị chịu trách nhiệm của hưởng dụng đất, lâm nghiệp và thủy sản. Kết quả nghiên cứu 2 nhóm chủ đề (a-Tiếp cận đến sự công bằng và giải pháp giải quyết tranh chấp hưởng dụng; b-Giới và công bằng, vì người nghèo và sự toàn diện), tương ứng với 7 chủ đề phụ/tiêu chí đều cho thấy mới đạt mức điểm từ 1 – 2 (tức là hệ thống chính sách hưởng dụng rừng hiện hành ở Việt Nam mới “giải quyết một phần” đến “giải quyết trung bình” các khía cạnh về quyền hưởng dụng rừng), chứ chưa “giải quyết phần lớn” (điểm 3) hoặc “giải quyết đầy đủ” (điểm 4)

    Application of DPSIR framework to access environmental impact of white limestone mining and processing in Luc Yen, Yen Bai province: Ứng dụng mô hình DPSIR đánh giá tác động môi trường của hoạt động khai thác và chế biến đá vôi trắng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

    Full text link
    Application of DPSIR framework (Drivers, Pressures, States, Impacts and Responses) aims to assess the current impact of the environment through a process starting with “driving forces” through “pressures” to “states” and “impacts” eventually leading to political “responses” in mineral mining in Luc Yen district. Research results show that the main drivers in Luc Yen are resources consumption (Wi = 3.675), the demand for industrial development (Wi = 3.575), followed by diversification and size of mines (Wi = 3.250). The environmental pressures are solid (Wi = 4.025), dust (Wi = 3.900) and wastewater (Wi = 3.625). The current state of environment is the most affected by air (Wi = 3.400). The soil and water are almost unaffected. The current environmental impacts have positive and negative social, economic and environmental impacts. Specifically, the positive impacts are employment opportunities, income (Wi = 3.325) and an increase in state budget (Wi = 3.000). There are no positive improvements of the environment related to mining activities, such as negative impacts on ecological landscape (Wi = 3.050) and infrastructure (Wi = 3.075). Improving environmental quality and mitigating environmental impacts have been applied, including innovative technology (Wi = 3.175), pollution monitoring and environmental quality monitoring (Wi = 3.400). Communication activities to enhance community participation in Luc Yen area were also highly appreciated by people (Wi = 3.375). Việc ứng dụng mô hình DPSIR (Drivers, Pressures, States, Impacts and Responses) nhằm mục đích đánh giá tác động môi trường theo một quá trình từ động lực, áp lực, hiện trạng và tác động đến đáp ứng để giải quyết vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động khai thác khoáng sản tại huyện Lục Yên. Kết quả nghiên cứu cho thấy động lực dẫn tới hoạt động khai thác đá vôi trắng tại huyện Lục Yên là nhu cầu sử dụng tài nguyên (Wi = 3,675), nhu cầu phát triển hoạt động công nghiệp (Wi = 3,575), tiếp đến là sự đa dạng, quy mô các mỏ khoáng (Wi = 3,250). Áp lực môi trường là chất thải rắn (Wi = 4,025), tiếp đến là bụi (Wi = 3,900) và nước thải (Wi = 3,625). Hiện trạng môi trường tự nhiên hiện nay tại khu vực Lục Yên chịu ảnh hưởng mạnh nhất là không khí (trọng số Wi = 3,400), môi trường đất và nước gần như chưa bị tác động. Tác động môi trường hiện nay tại huyện Lục Yên thể hiện qua tác động đến môi trường xã hội và môi trường tự nhiên. Cụ thể, tác động giải quyết việc làm, tăng thu nhập (Wi = 3,325) và tăng ngân sách nhà nước (Wi = 3,000). Tác động tiêu cực tới cảnh quan sinh thái (Wi = 3,050) và cơ sở hạ tầng (Wi = 3,075). Các giải pháp cải thiện và giảm thiểu tác động môi trường đã áp dụng hiện nay là đổi mới công nghệ khai thác theo hướng tiên tiến (Wi = 3,175), giám sát ô nhiễm và quan trắc chất lượng môi trường (Wi = 3,400). Giải pháp truyền thông tăng cường sự tham gia của cộng đồng tại khu vực Lục Yên cũng được người dân đánh giá cao với trọng số (Wi = 3,375)

    Anaerobic co-digestion cow dung and corn stalk - effect of corn stalk pre-treated timing: Đồng phân hủy yếm khí phân bò và thân bắp - Ảnh hưởng của thời gian tiền xử lý thân bắp

    Full text link
    The study was aimed to investigate the effect of corn stalk pre-treatment duration on biogas production when cow dung and corn stalk was co-digested in an anaerobic digestion. Corn stalks were pre-treated in different durations: 2-days, 5-days, and 8-days before being added to cow dung into anaerobic co-digesters. The experiments were set up randomly by using triplicate batch anaerobic apparatus in 21 L containers that run in 60-days. The mixing ratio between a corn stalk and cow dung was 50%: 50% (based on the volatile solid value of each material), but corn stalk was cut into small pieces with around 10 cm length, while the cow dung was air dried. The results of the study indicated that all operation parameters such as temperature, pH, and alkalinity in the anaerobic batch were suitable for biogas production. The results showed that there was a significant improvement in total gas produced in the pre-treated 5-days treatment (206.4±8.4 L) compared to 2-days (153.4±9.6 L), and 8-days ones (174±11.1 L). The biogas yield of the pre-treated 2-days, 5-days, and 8-days treatments were 392.7±9.8 L/kg VSfermented, 469.8±10.1 L/kg VSfermented and 497.1±13.3 L/kg VSfermented, respectively, that was not significantly different (5%). In all treatments, low concentration of methane in the beginning phase had been observed but increased and reached the optimum value for energy use after 10 days. The result of the study showed that it is preferable to have 5-days pre-treatment of corn stalk before the corn stalk is loaded to an anaerobic digester in combination with cow dung. Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của thời gian xử lý thân cây bắp lên năng suất sinh khí khi ủ phối trộn phân bò và thân cây bắp trong điều kiện yếm khí. Ba mức thời gian xử lý thân cây bắp được chọn là 2 ngày, 5 ngày, và 8 ngày. Các thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên trong các bình ủ yếm khí theo mẻ 21 L, vận hành trong 60 ngày liên tiếp và có 3 lần lặp lại. Nguyên liệu ủ được phối trộn theo tỷ lệ 50% phân bò và 50% thân bắp, trong đó thân bắp được cắt nhỏ cỡ 10 cm. Kết quả thí nghiệm cho thấy tất cả các thông số pH, nhiệt độ, độ kiềm của mẻ ủ đều phù hợp để vận hành. Lượng khí sinh ra của các nghiệm thức xử lý ở 2 ngày, 5 ngày, 8 ngày được ghi nhận là 153,4±9,6 L, 206,4±8,4 L và 174±11,1 L; năng suất sinh khí của các nghiệm thức không khác biệt và đạt giá trị 392,7±9,8 L/kg VSphânhủy, 469,8±10,1 L/kg VSphânhủy và 497,1±13,3 L/kg VSphânhủy. Tất cả các nghiệm thức đều sản sinh lượng CH4 thấp ở giai đoạn đầu nhưng tăng dần theo thời gian ủ và đạt hiệu quả sử dụng sau 10 ngày ủ. Kết quả cho thấy có thể chọn mốc thời gian 5 ngày để xử lý thân cây bắp trước khi đưa vào hầm ủ biogas

    Study on the environmental state in Tan Rai bauxite mining area Bao Lam district, Lam Dong province: Nghiên cứu hiện trạng môi trường vùng khai thác mỏ bauxite Tân Rai tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng

    Full text link
    Planting trees in mining zones for post-mining rehabilitation is of great interest. Therefore, it is important and necessary to study the current state of the air, water, and soil environment in the mine exploited area. Therefore, this article studied and assessed the environmental state in Tan Rai bauxite mining area at Bao Lam district, Lam Dong province through the environmental components of air, water and soil, as a basis for selection of suitable crops for post-mining rehabilitation. The research result showed that the air quality in the bauxite mining area met the standard 3733/2002/QĐ-BYT. Almost monitoring parameters of surface water and wastewater is within the allowed threshold of Vietnam standards. However surface water had a sign of TSS and COD pollution (TSS and COD at the Danos stream after the received point of wastewater from No.6 tailing lake were 1.6 times and 1.07 times higher than those in standard). Ground water was polluted by Coliform (20-63,3 times over standard) and cation NH4+ (1.1-1.5 times over standard); Soil in exploiting region was strongly impacted, soil profile has changed, red-yellow soil dominated, soil fertility is pretty high, pHH20 and pHKC were from acid to neuter. This studied environment state is very suitable for planting pine and acacia. These results will be useful references, as a basis for orientation of post-mining rehabilitation. Việc trồng cây xanh để phục hồi các vùng mỏ sau khai thác hiện đang rất được quan tâm. Do vậy, việc nghiên cứu hiện trạng môi trường không khí, nước và đất ở vùng khai thác mỏ là rất quan trọng và cần thiết. Bài báo nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường vùng khai thác mỏ Bauxite Tân Rai, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng thông qua các thành phần môi trường không khí, nước, đất, làm cơ sở cho việc lựa chọn loại cây trồng phù hợp cho công tác phục hồi môi trường sau khai thác mỏ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng môi trường không khí tại vùng khai thác mỏ Bauxite đạt tiêu chuẩn 3733/2002/QĐ-BYT. Hầu hết các thông số quan trắc của nước mặt và nước thải đều nằm trong giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam, tuy nhiên môi trường nước mặt cũng đang có dấu hiệu ô nhiễm TSS và COD (TSS và COD tại suối Danos phía dưới điểm tiếp nhận nước thải hồ quặng đuôi số 6 tương ứng gấp 1,6 lần và 1,07 lần so với tiêu chuẩn). Nước ngầm đang bị ô nhiễm Coliform (vượt quy chuẩn cho phép từ 20-63,3 lần) và NH4+ (vượt quy chuẩn cho phép từ 1,1-1,5 lần); Đất tại khu vực khai thác bị tác động mạnh mẽ, phẫu diện đất bị thay đổi, đất đỏ vàng chiếm ưu thế, đất có độ phì khá, pHH2O và pHKCl từ chua đến trung tính. Kết quả hiện trạng môi trường như vậy là phù hợp với trồng thông và keo. Những kết quả này là tài liệu tham khảo hữu ích, làm cơ sở cho việc định hướng phục hồi đất sau khai thác mỏ

    Nanosilica synthesis and application for lead treatment in water: Nghiên cứu tổng hợp nanosilica và ứng dụng xử lí kim loại chì trong nước

    Full text link
    Lead is a naturally occurring element that has high atomic weight (207u) and density (11.3 g/cm3). Their multiple industrial, domestic, agricultural, medical and technological applications have led to their wide distribution in the environment, raising concerns over their potential effects on human health and the environment. At present, extensive application of nanosilica in environmental pollution treatment has led to the development of silica extraction methodologies out of various chemical and waste products. In this study, nanosilica is synthesized by sol-gel method from tetraethoxysilane (TEOS) with base catalysts and volumetric ratio TEOS/C2H5OH/H2O/NH4OH: 5/30/1/1 and identified characteristics by some modern techniques such as Energy-dispersive X-ray spectroscopy (EDX), Fourrier Transformation Infrared (FTIR) and X-ray diffraction (XRD), Scanning electron micrograph (SEM), field emission scanning electron microscopy (FESEM). The results showed that the prepared SiO2 nanoparticles were amorphous phase with the average size about 60-100 nm and can be used as an immediately utilization for lead treatment. At the pH of 5, shaking within 1 hours with speed 150rpm/min, lead treatment efficiency is 96.17% for initial Pb2+ concentration 10 mgPb2+/L. Maximum adsorption concentration Qmax = 30.3 mg/g, and adsorbent and adsorbate constant b = 0.868 L/g. Therefore, extracted nanosilica from TEOS has high lead treatment efficiency. In addition, synthesis nanosilica from rice husk with similar characteristics is a new research approach to improve application and economic value of the material. Chì là nguyên tố tự nhiên có khối lượng nguyên tử cao (207 đvC), tỉ trọng lớn (11,3 g/cm3) và được ứng dụng phổ biến trong công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, y tế và công nghệ. Việc sử dụng rộng rãi chì trong nhiều lĩnh vực làm tăng mối quan ngại về tác động tiềm tàng của chúng đối tới sức khỏe con người và môi trường. Hiện nay việc áp dụng rộng rãi nanosilica vào xử lí ô nhiễm môi trường đã và đang dẫn đến sự phát triển của các phương pháp tách chiết silica từ hóa chất và các phế phụ phẩm. Trong nghiên cứu này, nanosilica được tổng hợp bằng phương pháp sol-gel từ tetraetoxysilan (TEOS) với xúc tác bazo theo tỷ lệ thể tích TEOS/C2H5OH/H2O/NH4OH là 5/30/1/1 và xác định các đặc tính bằng một số kỹ thuật hiện đại như phổ tán sắc năng lượng tia X (EDX), quang phổ hồng ngoại (FTIR) và nhiễu xạ tia X (XRD), kính hiển vi điện tử quét (SEM), kính hiển vi điện tử quét phát xạ trường (FESEM). Kết quả cho thấy các hạt nano SiO2 tách chiết được có pha vô định hình với kích thước trung bình khoảng 60-100 nm và được sử dụng trực tiếp cho xử lí chì. Tại điều kiện pH=5, lắc trong 1 giờ với tốc độ 150 vòng/phút, hiệu quả xử lý chì đạt 96,17% đối với nước nhiễm kim loại chì có nồng độ ban đầu là 10mgPb2+/L. Lượng hấp phụ cực đại Qmax = 30,3mg/g; hằng số đặc trưng của chất hấp phụ và chất bị hấp phụ b = 0,868L/g. Như vậy, hiệu quả xử lý kim loại chì của vật liệu nano silica được tổng hợp từ TEOS là rất cao. Bên cạnh đó, nghiên cứu chế tạo nanosilica từ vỏ trấu với các đặc tính tương tự là một hướng đi mới giúp nâng cao tính ứng dụng và giá trị kinh tế của vật liệu

    Methane removal using materials from biofilters at composting plants: Loại bỏ khí Mê-tan bằng cách sử dụng vật liệu trong các bể lọc khí sinh học ở các cơ sở sản xuất phân vi sinh

    Full text link
    Methane (CH4) source of Greenhouse Gases should be considered; CH4 is formed by composting under anaerobic conditions. Using microbial Methane oxidation is a solution with low cost and effective. In this study, 27 bio-filters and 18 laboratory-scale bioreactors were used to investigate the potential for CH4 removal in biogas. The CH4, Dinitrogen monoxide (N2O) and Carbon dioxide (CO2) concentrations at the inlet and outlet of the air purifier were measured by gas chromatography. The results showed that the CH4 concentration decreased in experiments while the CO2 and N2O content increased in all experiments. An experiment was conducted with 1 kg of biofilter material with the input of 800 ppm CH4 contained in a 5-liter flask for 49 hours containing. The results also showed that the CH4 concentration decreased by 71% after 20 hours and N2O was formed in the reactor. Mê-tan (CH4) là nguồn khí gây nên hiệu ứng nhà kính cần được quan tâm, khí CH4 được sinh ra trong quá trình ủ vi sinh trong điều kiện kị khí. Một giải pháp với chi phí thấp là sử dụng vi sinh vật oxy hóa khí CH4 cố định trên giá thể là vật liệu sử dụng trong thiết bị lọc sinh học. Trong nghiên cứu này, 27 thiết bị lọc sinh học trên thực tế và 19 bình lọc tại phòng thí nghiệm đã được sử dụng nhằm mục đích khảo sát khả năng loại bỏ CH4 có trong khí sinh học. Nồng độ khí CH4, N2O và CO2 ở đầu vào và đầu ra bể lọc khí được đo đạc bằng phương pháp sắc ký khí. Kết quả cho thấy nồng độ khí CH4 giảm sau khi qua hệ thống lọc sinh học ở một số bình, trong khi nồng độ khí CO2 và N2O lại tăng lên ở tất cả các bình. Khi khảo sát khả năng oxi hóa CH4 ở nồng độ 800 ppm của 1kg vật liệu thiết bị lọc sinh học chứa trong bình phản ứng thể tích 5L với thời gian 49 giờ. Kết quả cho thấy nồng nồng độ CH4 giảm 71% sau 20 giờ. Tuy nhiên, N2O đã được ghi nhận có hình thành trong bình phản ứng đó

    Assessment of water quality of some aquaculture ponds in Ho Chi Minh City: Đánh giá chất lượng nước của một vài ao hồ nuôi trồng thủy sản ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh

    Full text link
    Eutrophication in aquaculture ponds is one of the major issues related to both the environment and the health of consumers. This study has selected and conducted a water-quality survey of nine freshwater aquaculture ponds in Ho Chi Minh City. The empirical results showed that these ponds were seriously polluted with COD and BOD5 whose values did not meet the B2 column of the Vietnamese National Technical Regulation on Surface Water Quality (QCVN 08-MT:2015/BTNMT). On the other hand, most N-NH4+ and N-NO2- concentrations in the ponds met the threshold value of B2 column. The values ​​of the chlorophyll-a are greater than 10 μg/L, indicating that investigated ponds are in a state of eutrophication. In addition, the results of the TSI calculations showed that most of the sites that are in hyper-eutrophication state and phosphorus is identified as the eutrophication limit factor in these sites. Phú dưỡng hóa nguồn nước nuôi trồng thủy sản là một trong các vấn đề lớn liên quan đến cả môi trường và sức khỏe người tiêu dùng. Nghiên cứu này đã lựa chọn và tiến hành khảo sát chất lượng nước của chín ao hồ nuôi thủy sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả phân tích cho thấy các ao hồ trên bị ô nhiễm hữu cơ nặng với thông số COD và BOD5 đều không đạt chuẩn B2 theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (QCVN 08-MT:2015/BTNMT). Về mặt ô nhiễm các chất dinh dưỡng, nồng độ N-NH4+ và N-NO2- đa số chỉ thỏa mãn loại B2, thậm chí vượt ngưỡng quy định của cột B2. Các giá trị của thông số chlorophyll-a đều lớn hơn 10 µg/L, chứng tỏ các ao hồ khảo sát đều đang trong tình trạng phú dưỡng. Thêm vào đó, kết quả tính toán chỉ số TSI cho thấy hầu hết các vị trí nghiên cứu đang ở trạng thái siêu phú dưỡng và photpho được xác định là yếu tố giới hạn sự phú dưỡng của các vị trí khảo sát nêu trên

    244

    full texts

    249

    metadata records
    Updated in last 30 days.
    Journal of Vietnamese Environment
    Access Repository Dashboard
    Do you manage Open Research Online? Become a CORE Member to access insider analytics, issue reports and manage access to outputs from your repository in the CORE Repository Dashboard! 👇