Journal of Vietnamese Environment
Not a member yet
249 research outputs found
Sort by
Phytoplankton diversity and its relation to the physicochemical parameters in main water bodies of Vinh Long province, Vietnam: Đa dạng thực vật phù du và mối liên quan của nó với các thông số hóa lý ở các thủy vực chính trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, Việt Nam
Phytoplankton samples were collected in 2016 during the dry and rainy seasons at nine sampling sites in Vinh Long province, Vietnam. Some basic environment parameters such as temperature, pH, dissolved oxygen, nitrate and phosphate were measured and a total of 209 phytoplankton species (six phyla, 96 genera) were identified. The phylum that had the greatest number of species was Bacillariophyta (82 species), followed by Chlorophyta (61 species), Cyanophyta (39 species), Euglenophyta (21 species), Chrysophyta (three species) and Dinophyta (three3 species). The phytoplankton density ranged from 4,128 to 123,029 cells/liter. The dominant algae recorded in the study area include Microcystis aeruginosa, Merismopedia glauca, Oscillatoria perornata, Jaaginema sp., Planktothrix agardhii, Coscinodiscus subtilis, Melosira granulata. In particular, Microcystis aeruginosa was the most density dominant species in the total number of sampling sites during the dry season survey, and this species was classified as a group producing toxins harmful to the environment. Surface water quality, according to QCVN 08: 2015/BTNMT was classified into Column A1 for pH, nitrate and Column B1 for dissolved oxygen, and Column B2 for phosphate. Phytoplankton community structure and environmental factors changed substantially between dry and rainy seasons. A Pearson (r) correlation coefficient was used for the relative analysis. The results indicated that the number of phytoplankton species were a significantly positive correlation with pH, dissolved oxygen and nitrate in the rainy season. The phytoplankton abundance was uncorrelated with environmental factors in both seasons.
Các mẫu thực vật phù du được thu thập trong năm 2016 (mùa khô và mùa mưa) tại 9 vị trí ở tỉnh Vĩnh Long, Việt Nam. Một số thông số môi trường như nhiệt độ, pH, oxy hòa tan, nitrat và phốt phát được đo ngay tại hiện trường. Tổng cộng 209 loài thực vật phù du được ghi nhận (6 ngành, 96 chi). Số lượng loài cao nhất là tảo Silic (82 loài), kế đến là tảo Lục (61 loài), tảo Lam (39 loài), tảo Mắt (21 loài), tảo Vàng ánh (3 loài) và tảo Giáp (3 loài). Mật độ thực vật phù du dao động từ 4.128 đến 123.029 tế bào/ lít. Các loài ưu thế ghi nhận được ở khu vực nghiên cứu gồm có: Microcystis aeruginosa, Merismopedia glauca, Oscillatoria perornata, Jaaginema sp., Planktothrix agardhii; Coscinodiscus subtilis, Melosira granulata. Trong đó, loài Microcystis aeruginosa chiếm ưu thế nhiều nhất trên tổng số điểm thu mẫu trong đợt khảo sát mùa khô, đồng thời loài này được xếp vào nhóm sản sinh độc tố gây hại cho môi trường. Chất lượng nước mặt theo QCVN 08:2015/BTNMT được xếp vào loại A1 đối với thông số pH, nitrat và loại B1 đối với thông số oxy hòa tan, và loại B2 đối với phốt phát. Cấu trúc quần xã thực vât nổi và các yếu tố môi trường thay đổi đáng kể giữa mùa mưa và mừa khô. Hệ số tương quan Pearson (r) được dùng để phân tích. Kết quả cho thấy số lượng thực vật phù du có tương quan thuận với pH, oxy hòa tan và nitrat trong mùa mưa và có ý nghĩa về mặt thống kê. Mật độ của thực vật phù du không tương quan với các yếu tố môi trường trong cả hai mùa
Place-based education: outdoor and environmental education approaches: Các tiếp cận giáo dục môi trường tại thực địa
By analyzing the relationships among place-based education, outdoor education, and environmental education, the authors developed the proposal for the practical work in place-based education and its application to guide instruction and research in Vietnam. Some examples are given as evidence.
Trên cơ sở phân tích các mối quan hệ giữa giáo dục tại thực địa, ngoài lớp học và giáo dục môi trường của những tác giả khác. Các tác giả phát triển chương trình định hướng thực hành trong giáo dục môi trường tại thực địa để ứng dụng trong giảng dạy và nghiên cứu tại Việt Nam. Các ví dụ được đề cập như là những minh chứng thực tiễn
Biosorption combined with lipid production and growth inhibition of copper on the microalgal Pediastrum sp.: Khả năng hấp thu kết hợp với tích lũy sản phẩm lipid và ức chế sinh trưởng của đồng trên vi tảo lục Pediastrum sp.
The contamination of heavy metals in surface waters is an environmental concern due to their persistence and non-degradation that poses a risk to the ecosystem and human health. Microalgae have been known for their ability to remove metals from wastewater and to produce biodiesel. In this study, the copper (Cu) stress on the growth and lipid contents of the green microalgal Pediastrum sp. were evaluated along with the removal capacity. The green microalga was grown in a culture medium with the presence of copper at concentrations of 0, 0.1, 0.5, 2, 5 and 15 mg/L for one week. Results indicated that the growing tolerance levels of Pediastrum sp. in the presence of copper up to 2 mg/L and Cu inhibited the algal growth with the 96h-EC50 value of 6.67 mg/L. However, the Pediastrum sp. showed a promising metal removal efficiency. Cu removal was from 83 to 95% by Pediastrum sp. with an initial concentration of Cu less than 2 mg/L. The presence of a low level of Cu increased the lipid yield up to 18%, but a high concentration of Cu has resulted in low removal efficiencies and decreasing lipid accumulation. The present study suggested the potential of employing green microalgae for wastewater treatment and biodiesel.
Ô nhiễm kim loại nặng trong nước mặt đang là vấn nạn môi trường ở nhiều quốc gia bởi vì kim loại nặng tồn tại lâu, khó có khả năng phân hủy và gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái. Vi tảo từ lâu được biết đến vì có khả năng loại bỏ kim loại nặng trong nước thải đồng thời tích lũy lipid cho sản xuất nhiên liệu sinh học. Trong nghiên cứu này khảo sát các tác động của đồng (Cu) như ức chế tăng trưởng, ảnh hưởng lên hàm lượng lipid tích lũy, khả năng loại bỏ kim loại cũng nhưhàm lượng kim loại tích lũy trong nội bào lên vi tảo lục Pediastrum sp. Vi tảo lục được phơi nhiễm với Cu ở các nồng độ 0, 0,1, 0,5, 2, 5 và 15 mg/L trong thời gian 1 tuần ở điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy vi tảo lục Pediastrum sp. có khả năng chống chịu với Cu ở ngưỡng nồng độ nhỏ hơn 2 mg/L. Nồng độ gây ức chế sinh trưởng 50% sau 96h (96h-EC50) là 6,67 mg/L. Pediastrum sp. cho thấy có khả năng loại bỏ hiệu quả Cu ở ngưỡng nồng độ thấp hơn 2 mg/L với khả năng loại bỏ Cu lên đến 95%. Ở nồng độ Cu 0,1 và 0,5 mg/L cũng cho thấy gia tăng hàm lượng lipid 18% so với lô đối chứng, tuy nhiên khả năng loại bỏ kim loại Cu và hàm lượng lipid tích lũy giảm đi đáng kể khi Cu đồng ở ngưỡng 5 mg/L và 15 mg/L. Nghiên cứu này cho thấy có thể sử dụng vi tảo Pediastrum sp. để xử lý ô nhiễm Cu ở nồng độ thấp và thu hồi lipid cho sản xuất nhiên liệu sinh học
Ethnic minorities and forest land use: a case in Can Tien National Park: Dân tộc thiểu số và sử dụng đất rừng: một trường hợp ở Vườn quốc gia Cần Tiên
Based on the surveys in Cat Tien National Park (CTNP), this paper explored the situation of forest land use among ethnic minorities (EMs). Overall, 170 households in 6 sampled hamlets of CTNP were interviewed. In-depth interviews and the Rapid Rural Appraisal (RRA) method were implemented to obtain the data. The result showed that the more the EMs participated in natural resource management and conservation activities the less they extracted the forest land resource (Pearson Chi-Square Test, p = 0.002). Moreover, the ratio of the natural resource use in terms of encroached forest land differed significantly between indigenous EMs and migrant ones (Pearson Chi-Square Test, p = 0.000). It is recommended that more participation of the EMs in forest management or environmental services may be one of the effective strategies for sustainable management of the forest land in CTNP, especially in the CZs. Additionally, different management arrangements between two groups is necessary.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy được thực trạng sử dụng đất rừng trong cộng đồng người dân tộc thiểu số tại Vườn quốc gia Cát Tiên. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn và phỏng vấn sâu được vận dụng để nghiên cứu 170 nông hộ mẫu thuộc 6 thôn tại vườn quốc gia. Kết quả cho thấy đồng bào dân tộc thiểu số càng tham gia các hoạt động quản lý và bảo tồn tài nguyên thì họ càng ít lấn chiếm đất rừng. Hơn nữa, tỉ lệ sử dụng đất rừng nhóm dân tộc thiểu số bản địa và di cư là khác biệt. Thu hút thêm sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số trong quản lý tài nguyên hay dịch vụ môi trường rừng là giải pháp hữu hiệu cho công tác quản lý tài nguyên bền vững ở Vườn quốc gia Cát Tiên, đặc biệt đối với vùng lõi. Nghiên cứu cũng đề xuất cần có những giải pháp quản lý thích hợp cho từng nhóm đồng bào dân tộc thiểu số tham gia quản lý tài nguyên hay dịch vụ môi trường rừng
Review of postharvest rice straw use: change in use and the need for sustainable management policies in Vietnam: Tổng quan việc sử dụng rơm rạ sau thu hoạch: Thay đổi trong sử dụng và cần chính sách quản lý bền vững ở Việt Nam
Annually, about 40-60 million tons of postharvest straw are generated in Vietnam. Although considered as renewable resources and economic goods, straw is still burned in the field because there is no longer needed for cooking, roofing and fodder as before 1990s. The general economic development of the country and the rural area changed all the previous practices of using straw. This paper analyzes the socio-economic and technical causes of this phenomenon and summarizes the economic and environmentally friendly uses of rice straw in the future. In addition, it points out that policy failures in the management of straw currently exist and that policies for integrated straw management are needed to improve the value chain in the supply and consumption of straw products; to enhance the effectively use of this resource and minimize environmental pollution.
Hàng năm phát sinh khoảng 40-60 triệu tấn rơm sau thu hoạch ở Việt Nam. Mặc dù được coi là tài nguyên tái tạo và hàng hóa kinh tế, song rơm vẫn bị đốt bỏ ở ngoài ruộng do không còn nhu cầu nhiều cho đun nấu, lợp mái nhà và chăn nuôi như trước những năm 1990. Tình hình phát triển kinh tế chung của đất nước và khu vực nông thôn đã làm thay đổi tất cả thói quen dùng rơm rạ trước đây. Bài báo này phân tích một cảnh tổng quan những nguyên nhân kinh tế - xã hội và kỹ thuật dẫn đến hiện tượng này, tổng hợp những khả năng sử dụng kinh tế và thân thiện môi trường của rơm rạ trong tương lai. Ngoài ra chỉ ra những thất bại về chính sách trong quản lý rơm rạ hiện nay và cần có các chính sách quản lý tổng hợp rơm rạ để nâng cao chuỗi giá trị trong cung ứng và tiêu thụ các sản phẩm rơm rạ, tăng cường việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên này và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Human health risk assessment of Agent orange/dioxin from contaminated soil in A Luoi district in central Vietnam: Đánh giá rủi ro sức khỏe người dân do đất bị ô nhiễm Chất Da cam/dioxin ở huyện A Lưới miền Trung Việt Nam
During the US – Vietnam War (1961 – 1972), Vietnam was subjected to widespread spraying of the chemical herbicide that is also called Agent Orange containing the most toxic dioxin congener, of 2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo(p)dioxin (2,3,7,8-TCDD). A Luoi district belongs to Thua Thien-Hue province, located in the western part of the North Central coast region of Vietnam. During the Ranch Hand campaign (1965 -1970), A Luoi was heavily sprayed with this herbicide. In order to assess potential human health risks for people due to 2,3,7,8-TCDD exposure from contaminated soil, more than 50 soil samples were collected in A Luoi district area in 2013 and 2014 to determine dioxin concentrations by HRGC/HRMS. Human health risk assessment was applied using internationally recognized approaches. Hazard Quotient (HQ) values, assuming 2,3,7,8-TCDD to be a threshold contaminant, were calculated to be 13.2 and 6.1; and Incremental Lifetime Cancer Risk (ILCTR) values, assuming 2,3,7,8-TCDD to be carcinogenic non threshold, were 0.00314 and 0.00627 for adults and children, respectively. These results from exposures in A Luoi show risk values, which are several hundred times higher than acceptable TRVs. The results of this study indicate that, although the war ended nearly 50 years ago, communities living in A Luoi are still at risk of residual dioxin exposure from soils contaminated. Therefore, risk management and mitigation measures are needed, including targeted soil remediation and provision of improved medical and health systems. To our knowledge, this is the first human health risk assessment (HRRA) study in areas sprayed by herbicides during the war in Vietnam.
Trong thời kỳ chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam (1961 - 1972), Việt Nam phải hứng chịu một lượng lớn chất diệt cỏ còn gọi là chất Da cam, trong đó chứa chất hóa học siêu độc 2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo (p) dioxin (2,3,7,8-TCDD). Huyện A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, nằm ở phía tây của vùng duyên hải Bắc Trung Bộ Việt Nam. Trong chiến dịch Ranch Hand (1965-1970), huyện A Lưới đã nhiều lần bị phun rải chất diệt cỏ này. Trong 2 năm 2013 và 2014, hơn 50 mẫu đất và thực phẩm đã được thu thập ở khu vực huyện A Lưới và phân tích xác định nồng độ dioxin nhằm đánh giá rủi ro về sức khỏe đối với người dân sống trong vùng bị phun rải chất diệt cỏ trong chiến tranh. Nếu giả định chất 2,3,7,8-TCDD là chất độc có ngưỡng, giá trị HQ (hệ số rủi ro) tính được là 13,2 và 6,1; và nếu giả định 2,3,7,8-TCDD là chất độc gây ung thư không ngưỡng, các giá trị ILCR (nguy cơ ung thư tăng dần suốt đời) tìm được là 0,00314 và 0,00627, tương ứng đối với người lớn và trẻ em sống ở A Lưới. Khi so sánh với các giá trị TRVs (rủi ro chấp nhận được) cho thấy các giá trị rủi ro ở A Lưới cao hơn vài trăm lần. Từ kết quả này chỉ ra mặc dù chiến tranh đã kết thúc gần 50 năm trước, cộng đồng ở A Lưới vẫn có nguy cơ phơi nhiễm dioxin. Cần thiết phải sớm có các biện pháp quản lý rủi ro và giảm thiểu phơi nhiễm dioxin cho người dân, bao gồm việc xử lý đất và cung cấp các hệ thống bảo vệ môi trường, y tế và cải thiện sức khỏe. Đây là bài báo đầu tiên về đánh giá rủi ro sức khỏe cộng đồng dân cư do phơi nhiễm dioxin ở những vùng bị phun rải chất diệt cỏ trong chiến tranh
Developing densified products to reduce transportation costs and improve the quality of rice straw feedstocks for cattle feeding: Phát triển sản phẩm nén từ rơm nhằm giảm chi phí vận chuyển với mục đích sử dụng làm thức ăn trong chăn nuôi
Densification of rice straw such as compacting and pelletizing is an important process to increase the density of rice straw resulting in a reduction of transportation cost. Within this research, we conducted a techno-economic investigation of rice straw densification to produce compressed bales and pellets, which are later used for animal feed. In line with the main deliverable of the performance of rice straw compacting and pelletizing processes, we also looked into the quality of the product in terms of uptake and digestibility of the cattle feed which could be improved by adding amendments such as urea during the compacting process. The compacting technology resulted in a 400% increase of bale density (from 94 to 390 kg.m-3). This could reduce transportation costs by about 60% for a 60 km driving distance using trucks. The net profit that resulted from compacted bales was USD 0.0062 kg-1. Although the pelletizing technology increased the cost of the densified product by 40–50%, its density increases by 700%, from 94 to 666 kg.m-3. The enriched-rice straw pellets contained 12.1% protein, 2.8% lipid, 32.7% raw fibre, and 11.2% ash. In addition, a test of this product for cattle feeding illustrated an increase in its eating desirability for cows. Findings from this study contribute to reducing feedstock cost and developing densified rice straw products. These, therefore, provide more alternative options to increase the benefits from rice production and thus, reduce the unsustainable burning of rice straw in the field.
Nén ép rơm là quá trình quan trọng và cần thiết để tăng khối lượng thể tích với mục đích giảm chi phí vận chuyển. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu đánh giá tính khả thi về kỹ thuật và kinh tế đối với nội dung nén ép rơm cuộn và ép viên rơm. Cùng với mục đích chính là tăng dung trọng của sản phẩm từ rơm, chúng tôi cũng đánh giá chất lượng sản phẩm làm thức ăn cho bò giúp cho tăng kích thích quá trình tiêu hóa. Kết quả nén ép cuộn rơm đã làm tăng dung trọng của kiện rơm đến 400% (từ 94 đến 398.7 kg.m-3). Qua đó, đã giảm được chi phí vận chuyển 60% được ước tính cho 60 km khoảng cách vận chuyển. Đối với ép viên rơm, dung trọng tăng đến 700% (từ 94 đến 666 kg.m-3). Hàm lượng dinh dưỡng của viên nén hỗn hợp rơm gồm protein (12,1%), chất béo (2,8%), chất xơ (32,7%), và lượng tro tổng (11,2%). Ngoài ra, kết quả thử nghiệm cho bò ăn sản phẩm viên nén này cho thấy bò có cảm giác thích và ăn hết toàn bộ viên nén. Kết quả của nghiên cứu đã góp phần giảm chi phí khi sản xuất thức ăn cho bò, tăng thu nhập cho người nông dân và từ đó giảm tác động môi trường do việc đốt rơm trên đồng
Effect of fertilizer on lead (Pb) accumulation ability of Polygonum hydropiper L.: Ảnh hưởng của phân bón lên khả năng hấp thụ chì (Pb) của nghể răm Polygo- num hydropiper L.
Polygonum hydropiper L. was cultivated on alluvial soil (Pb = 2.6 mg/kg, dry weight) and Pb contaminated soil (Pb = 1,380 mg/kg dry weight) without and with amendment of 2 g organic fertilizer/kg soil and 2.5; 5.0; 10.0 g NPK fertilizer/1kg soil. After 45 days of cultivation, the growth in height and biomass of P. hydropiper in Pb contaminated soil without amendment of fertilizer was lower than that in alluvial soil, but the Pb content in the above-ground part of the P. hydropiper was higher. In the formula 4, on Pb contaminated soil (Pb = 1,380 mg/kg dry weight), when amending 2 g of microbiological organic fertilizer + 5 g NPK fertilizer per 1 kg of soil (with the total nutrients amended were: N = 0.25, P2O5= 0.52, K2O = 0.15, and organic matter = 0.21 g/kg soil), growth of P. hydropiper was optimal (its height and biomass were up to 244.0% and 284.9% in comparison to that of before experiment) and their Pb extraction potential was promoted to the highest level among the formulae used. The average level of Pb accumulated in the above-ground part of P. hydropiper cultivated at formula 4 was 1,098.3 mg/kg dry weight (DW) after 45 days of cultivation that was 1.6 time higher than the one of formula 2 without fertilizer amendment (687.8 mg/kg DW). The potential of Pb extracted and stored in the above-ground part of P. hydropiper cultivated at formula 4 after 45 days was 479.2 g/ha that was 2.85 time higher than the one of formula 2 without fertilizer amendment (168.02 g/ha).
Nghể răm Polygonum hydropiper L. được trồng theo 5 công thức trên đất phù sa không ô nhiễm chì (Pb = 2,6 mg/kg khô) và đất ô nhiễm chì (Pb = 1380 mg/kg khô)không bón phân và có bón phân với các liều lượng 2 g phân hữu cơ vi sinh/1 kg đất và 2,5; 5,0; 10,0 g phân NPK /1 kg đất. Sau 45 ngày thí nghiệm trồng cây, tăng trưởng về chiều cao và sinh khối của cây trên đất ô nhiễm Pb không bón phân thấp hơn trên đất phù sa, nhưng hàm lượng Pb trong phần trên mặt đất của cây cao hơn. Ở công thức (CT) 4, trên đất ô nhiễm chì (Pb = 1380 mg/kg khô) khi bón phân với liều lượng 2 g hữu cơ + 5 g NPK/1 kg đất (với tổng hàm lượng dinh dưỡng được bón là: N = 0,25, P2O5= 0,52, K2O = 0,15, và chất hữu cơ = 0,21 g/kg đất) thì tăng trưởng của câynghể răm đạt tối ưu (chiều cao và khối lượng đạt 244,0 % và 284, 9% so với trước thí nghiệm) và tiềm năng hút thu Pb của chúng cũng được thúc đẩy cao nhất trong số các công thức được sử dụng. Lượng Pb trung bình tích lũy trong phần trên mặt đất của nghể răm ở CT 4 đạt 1.098,3 mg/kg khô sau 45 ngày trồng, cao gấp 1,6 lần so với cây ở công thức 2 không bón phân (687,8 mg/kg khô). Khả năng loại bỏ Pb từ đất ô nhiễm của nghể răm khi được bón phân ở CT4 đạt 479,2 g/ha sau 45 ngày trồng, cao gấp 2,85 lần so với cây ở CT 2 không bón phân (168,02 g/ha)
Study on synthesis of MoS2 modified g-C3N4 materials for treatment of Direct black 38 dye: Nghiên cứu tổng hợp các vật liệu g-C3N4 biến tính MoS2 ứng dụng trong xử lý chất màu direct black-38
Pure g-C3N4 and MoS2 modified g-C3N4 materials were synthesized using a facile heating method and a low-temperature hydrothermal method, respectively. The obtained samples were characterized by XRD pattern and N2 adsorption-desorption technique at 77K. The adsorption and photocatalytic performance of all obtained samples were investigated by discoloration of direct black 38 dye in the dark and under visible light irradiation. The results showed that all obtained samples exhibited good discoloration efficiency of direct black 38 dye. The two factors including pH values and Mo loading effected mainly on elimination efficiency of direct black 38 dye. MoS2 modified g-C3N4 materials possessed the more enhanced adsorption and photocatalytic performance in comparison to pure g-C3N4 at pH value of 3.5, with adsorbent dosage of 0.1 g/L. Furthermore, it was found that the adsorption process and photo-catalysis simultaneously occurred under visible light irradiation and followed up a pseudo-second-order kinetic reaction of Langmuir - Hinshelwood model.
g-C3N4 và g-C3N4 biến tính bởi MoS2 đã được tổng hợp theo phương pháp nung đơn giản và phương pháp thủy nhiệt ở nhiệt độ thấp tương ứng. Các mẫu tổng hợp đã được đánh giá đặc trưng bởi các phương pháp hiện đại như giản đồ nhiễu xạ tia X, phương pháp hấp phụ-khử hấp phụ N2 ở 77K. Khả năng hấp phụ và quang hóa xúc tác của các vật liệu tổng hợp đã được nghiên cứu bởi quá trình phân hủy màu thuốc nhuộm direct black 38 trong điều kiện bóng tối và chiếu sáng bởi ảnh sáng nhìn thấy của đèn chiếu sáng sợi đốt wolfram (220V-100W). Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các mẫu tổng hợp đều có hiệu suất xử lý màu cao đối với thuốc nhuộm direct black 38. Hai yếu tố gồm pH dung dịch và hàm lượng MoS2 ảnh hưởng chính đến hiệu suất xử lý màu direct black 38. g-C3N4 biến tính bởi MoS2 luôn thể hiện hiệu suất hấp phụ và quang hóa cao hơn so với g-C3N4 tinh khiết. Hơn nữa, khi được chiếu sáng bởi ánh sáng nhìn thấy thì quá trình hấp phụ và quá trình quang hóa thuốc nhuộm direct black 38 trên các vật liệu tổng hợp đã xảy ra đồng thời và mô hình Langmuir - Hinshelwood động học bậc 2 đã được đề xuất cho quá trình này
Microbial contamination in the surface water in the Ba Vi National Park, Ha Noi: Ô nhiễm vi sinh vật trong môi trường nước mặt Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội
Ba Vi National Park, one of 28 Vietnamese National Parks, is currently preserved and exploited for a variety of purposes, including the preservation of intact natural forest ecosystems and genetic resources of rare plants and animals. This paper presents the monitoring results of microbial contamination in surface water environment of the Ba Vi National Park (Ha Noi) in the period 2013-2014 and 2018. The results showed that total coliform (TC) density varied from 23 to 11,000 MPN/100ml in bimonthly observation in 2013-2014 which was lower than that one of sampling campaign in 2018, from 900 MPN/100ml to 8,100 MPN/ml. Fecal coliform (FC) densities varied from 0 to 110 MPN/100ml in 2013-2014, lower than in 2018, when it varied from 0 MPN/100ml to 600 MPN/100ml. At several observation times, both TC and FC were higher than the allowable values of the Vietnam national technical regulation QCVN 08-MT: 2015/BTNMT column A1 for surface water quality. The exceeded values of TC and FC than the allowable values and the increase trend from the 2013 to 2018 periods indicated the potential risks to the public health in this region when people use water for domestic and agricultural purposes. Our results provide dataset for environmental management in the Ba Vi National Park in order to protect the eco-environment in parallel with social-economic development.
Vườn Quốc gia Ba Vì, một trong 28 vườn quốc gia của Việt Nam hiện đang được bảo tồn và khai thác cho nhiều mục đích, trong đó có bảo tồn nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng tự nhiên, các nguồn gen động, thực vật quý hiếm, các đặc sản rừng và các di tích lịch sử, cảnh quan tự nhiên trong vùng. Bài báo trình bày kết quả quan trắc, đánh giá mức độ ô nhiễm vi sinh vật trong môi trường nước mặt tại Vườn Quốc Gia Ba Vì, Hà Nội giai đoạn 2013-2014 và 2018. Kết quả cho thấy mật độ coliform tổng số (TC) biến đổi trong khoảng từ 23 – 11.000 MPN/100ml trong các đợt quan trắc định kỳ 2 tháng/lần trong hai năm 2013 - 2014 và trong khoảng từ 900 – 8.100 MPN/100ml trong một đợt quan trắc năm 2018. Mật độ fecal coliform (FC) biến đổi trong khoảng từ 0 - 110 MPN/100ml năm 2013 -2014 và từ 0 - 600 MPN/100ml vào năm 2018. Vào một số thời điểm quan trắc, mật độ FC và TC vượt giá trị cho phép của quy chuẩn kỹ thuật Quốc Gia QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột A1 về chất lượng nước mặt. Các giá trị TC và FC vượt quá giá trị cho phép và xu hướng gia tăng TC và FC từ 2013 -2018 cho thấy nguy cơ tiềm tàng khi người dân sử dụng nguồn nước này cho các mục đích sinh hoạt và nông nghiệp. Như vậy, kết quả của nghiên cứu này nhấn mạnh nhu cầu giám sát thường xuyên chất lượng nước và cần thực hiện các giải pháp hiệu quả để xử lý và quản lý nguồn gây ô nhiễm trong khu vực nhằm bảo vệ môi trường sinh thái song song với phát triển kinh tế - xã hội của khu vực