Journal of Vietnamese Environment
Not a member yet
    249 research outputs found

    Biotechnological process of chitin recovery from shrimp waste using Lactobacillus plantarum NCDN4: Thu hồi chitin từ phế liệu tôm bằng phương pháp sinh học sử dụng Lactobacillus plantarum NCDN4

    Get PDF
    Chitin in shrimp waste is tightly associated with proteins, lipids, pigments and mineral deposits. Therefore, these source materials have to be pretreated to remove these components. For a long time, chemical process has been used widely for extraction of chitin from shrimp waste. The chemical process however led to severe environmental damage and low chitin quality. The biological process has been shown promising to replace the harsh chemical process to reduce the environment impact. In our previous study chitin recovery from sterilized shrimp waste by Lactobacillus plantarum NCDN4 was investigated. However in large scale it is uneconomical to sterilize the shrimp waste. For that reason, in this study the microbial process using Lactobacillus plantarum NCDN4 for chitin recovery from unsterilezed shrimp waste has been investigated. Factors affecting the demineralization by this strain such as inoculum size, glucose concentration, initial pH, NaCl concentration and fermentation time were investigated. It was found that when unsterilized shrimp waste fermented with 20% L. plantarum inoculum, 12,5% glucose, and pH 6 for 4 days at 30°C, 99. 28% demineralization and 48.65% deproteination could be achieved. The ash and protein content of fermented residues were 1.33% and 22.46% respectively. Compared to sterilized condition the efficiency of demineralization and deproteination was similar. Chitin trong phế liệu tôm liên kết chặt chẽ với protein, sắc tố và khoáng. Do vậy để thu được chitin cần có các bước tiền xử lí để loại các thành phần không phải chitin ra. Phương pháp hóa học được sử dụng rộng rãi từ lâu để tiền xử lí chitin. Tuy nhiên do phương pháp hóa học gây hại cho môi trường và tạo ra chitin chất lượng thấp, các nhà khoa học nỗ lực nghiên cứu tìm ra các phương pháp thay thế. Phương pháp sinh học được xem là rất khả quan để thay thế phương pháp hóa học. Trong nghiên cứu trước của chúng tôi, quá trình lên men phế liệu tôm thanh trùng bằng Lactobacillus plantarum NCDN4 đã được nghiên cứu. Tuy nhiên việc thanh trùng phế liệu tôm không kinh tế. Trong nghiên cứu này quá trình lên men phế liệu tôm không thanh trùng bằng Lactobacillus plantarum NCDN4 đã được khảo sát. Các yếu tố như tỷ lệ giống, nồng độ đường glucose, nồng độ NaCl, pH ban đầu của môi trường lên men và thời gian lên men đã được nghiên cứu. Kết quả cho thấy ở điều kiện 20% giống theo thể tích, 12,5% dịch đường glucose, 2% muối theo khối lượng, pH ban đầu 6, sau 5 ngày lên men lượng khoáng và protein trong nguyên liệu giảm tương ứng 99.28% và 48.65%. Lượng khoáng và protein còn lại tương ứng 1.33% và 22.46% (tính theo trọng lượng khô). So với phế liệu tôm không thanh trùng, hiệu quả loại khoáng và protein là tương đương

    Study on treatment of domestic wastewater of an area in Tu Liem district, Hanoi, by water hyacinth: Nghiên cứu xử lý nước thải sinh hoạt tại một khu dân cư thuộc quận Từ Liêm, Hà Nội, bằng Bèo lục bình

    Get PDF
    Domestic wastewater is one of the most interested environmental issues in Vietnam, especially in big cities and suburban residential areas. Most of the wastewater was not treated in the right way before discharging to environment. In this research, the author used water hyacinth as a main aquatic plant in aquatic pond model to treat wastewater. The experiment was operated continuously in 1 year with hydraulic retention time (HRT) is 11 and 18 days. Hydraulic loading rate (HRL) is 300 and 500 m3/ha/day, respectively. Treatment efficiency of the model for TSS is 90% (remaining 6 -12mg/l); COD, BOD5 is 63 - 81% (remaining 10 - 48mg/l); TP is 48 – 50% (remaining 3.5 - 9.8mg/l); TKN is 63 - 75% (remaining 8 - 17mg/l). Polluted parameters in effluent were lower than A and B levels of Vietnam standard QCVN 14: 2008/BTNMT and QCVN 40: 2011/BTNMT. The doubling time of water hyacinth in summer is 18days, and in autumn and winter is 28.5 days. Experiment results showed that we can use water hyacinth in aquatic pond to treat domestic wastewater with medium scale. We can apply this natural treatment method for residential areas by utilizing existing natural ponds and abandoned agricultural land with capacity up to 500m3/ha day. However, to get better efficiency we should combine with other aquatic plant species to treat wastewater and improve environmental landscape. Nước thải – xử lý nước thải sinh hoạt hiện đang là một trong những vấn đề môi trường được quan tâm tại Việt Nam nhất là tại các thành phố lớn và các khu dân cư. Hầu hết lượng nước thải chưa được xử lý đúng cách trước khi thải ra môi trường. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô hình hồ thủy sinh và sử dụng cây Bèo lục bình để xử lý nước thải sinh hoạt của một khu dân thuộc huyện Từ Liêm, tại khu vực này nước thải bị thải trực tiếp vào sông Nhuệ. Thực nghiệm đã được tiến hành trong khoảng thời gian một năm, trải qua các mùa của khu vực miền Bắc với hai chế độ vận hành HRT là 18 và 11 ngày, tương ứng với tải trọng thủy lực HRL là 300 và 500 m3/ha/ngày. Kết quả cho thấy mô hình thủy sinh sử dụng cây bèo lục bình cho kết quả tốt, hiệu suất xử lý với các chất ô nhiễm đạt được như sau: chất rắn lơ lửng đạt 90%, COD, BOD5 đạt 63 - 81%, Phốt pho tổng giảm tới 48 - 50%, Nitơ tổng giảm tới 63 - 75%. Hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thải đầu ra của mô hình đều thấp hơn ngưỡng A và B của các tiêu chuẩn QCVN 14: 2008/BTNMT và QCVN 40: 2011/BTNMT. Bên cạnh đó tác giả cũng đã xác định định được tốc độ sinh trưởng của cây bèo tại khu vực miền Bắc là 18 ngày vào mùa hè và 28.5 ngày vào mùa thu đông. Kết quả nghiên cứu cho thấy có thể sử dụng bèo lục bình để xử lý nước thải sinh hoạt, với qui mô vừa và nhỏ và nên áp dụng cho các khu vực ven đô, nông thôn nơi có diện tích đất rộng hoặc tại các hồ sinh thái của các khu đô thị. Tuy nhiên, để hiệu quả tốt hơn ta cần kết hợp với nhiều loại thực vật thủy sinh khác để ngoài tác dụng xử lý nước thải mà còn tạo cảnh quan môi trường xung quanh

    Physiological properties of new species of Acidithiobacillus isolated from abandoned Tin mine in Ha Thuong, Thai Nguyen province: Một số đặc điểm sinh lý của vi khuẩn Acidithiobacillus spp. phân lập được từ mỏ thiếc bỏ hoang ở Hà Thượng, tỉnh Thái Nguyên

    Get PDF
    Acidophilic bacteria are able to tolerate acidic environment and also contribute to the lowering of environmental pH value, implying potential applications in metal-leaching technology extracting metals from tailings and electronic wastes. In this study, we conducted a sampling campaign in abandoned Tin mine in Ha Thuong, Thai Nguyen province, to isolate acidophilic bacteria and to study physiological characteristics of the isolated bacteria. As a result, two acidophilic bacteria were successfully isolated and identification by 16S rDNA gene sequences showed that the two bacteria are similar to Acidithiobacillus ferrooxidans and Acidithiobacillus thiooxidans (98% and 94% of similarity, respectively). Both strains are tolerant of pH in the range of 3 and have the ability to grow optimally at temperatures of 30°C. Vi khuẩn ưa axit có ý nghĩa ứng dụng trong công nghệ tách rút kim loại từ quặng đuôi và ngay cả từ rác thải linh kiện điện tử. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành thu mẫu ở mỏ thiếc bỏ hoang ở Hà Thượng, Thái Nguyên nhằm phân lập được nhóm vi khuẩn ưa axit và qua đó nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý của vi khuẩn này. Kết quả chúng tôi đã phân lập được hai chủng vi khuẩn ưa axit. Định dạng bằng nhận diện trình tự gen 16S rADN cho thấy hai vi khuẩn này có độ tương đồng là 98% với vi khuẩn Acidithiobacillus ferrooxidans và 94% Acidithiobacillus thiooxidans. Cả hai chủng vi khuẩn đều có tính chịu pH trong khoảng 3 và có khả năng sinh trưởng tối ưu ở nhiệt độ 30°C

    Production of renewable biofuels and chemicals by processing bio-feedstock in conventional petroleum refineries: Nghiên cứu khả năng tích hợp chế biến nguyên liệu sinh khối trong nhà máy lọc dầu để sản xuất nhiên liệu sinh học và hóa phẩm cho hóa dầu

    Get PDF
    The influence of catalyst characteristics, i.e., acidity and porosity on the product distribution in the cracking of triglyceride-rich biomass under fluid catalytic cracking (FCC) conditions is reported. It has found that the degradation degree of triglyceride molecules is strongly dependent on the catalysts’ acidity. The higher density of acid sites enhances the conversion of triglycerides to lighter products such as gaseous products and gasoline-range hydrocarbons. The formation of gasoline-range aromatics and light olefins (propene and ethene) is favored in the medium pore channel of H-ZSM-5. On the other hand, heavier olefins such as gasoline-range and C4 olefins are formed preferentially in the large pore structure of zeolite Y based FCC catalyst (Midas-BSR). With both catalysts, triglyceride molecules are mainly converted to a mixture of hydrocarbons, which can be used as liquid fuels and platform chemicals. Hence, the utilization of the existing FCC units in conventional petroleum refineries for processing of triglyceride based feedstock, in particular waste cooking oil may open the way for production of renewable liquid fuels and chemicals in the near future. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu khả năng tích hợp sản xuất nhiên liệu sinh học và hóa phẩm từ nguồn nguyên liệu tái tạo sinh khối giầu triglyceride bằng công nghệ cracking xúc tác tấng sôi (FCC) trong nhà máy lọc dầu. Kết quả nghiên cứu cho thấy xúc tác có ảnh hưởng mạnh đến hiệu quả chuyển hóa triglyceride thành hydrocarbon. Tính acid của xúc tác càng mạnh thì độ chuyển hóa càng cao và thu được nhiều sản phẩm nhẹ hơn như xăng và các olefin nhẹ. Xúc tác vi mao quản trung bình như H-ZSM-5 có độ chọn lọc cao với hợp chất vòng thơm thuộc phân đoạn xăng và olefin nhẹ như propylen và ethylen. Với kích thước vi mao quản lớn, xúc tác công nghiệp FCC dựa trên zeolite Y ưu tiên hình thành C4 olefins và các olefin trong phân đoạn xăng. Ở điều kiện phản ứng của quá trình FCC, triglyceride chuyển hóa hiệu quả thành hydrocarbon mà có thể sử dụng làm xăng sinh học cho động cơ và olefin nhẹ làm nguyên liệu cho tổng hợp hóa dầu

    Biomass and waste as a renewable and sustainable energy source in Vietnam: Nguồn năng lượng tái tạo bền vững từ sinh khối và rác thải sinh học ở Việt Nam

    Get PDF
    Due to Vietnam’s economic development its energy demand will continue to rise by 12–16% annually over the next few years. The government has realized that supply problems in the energy sector pose a significant threat to further development. Therefore, it is making concerted efforts to modernize the existing energy sector and expand the generating structure. There are ambitious expansion plans in the field of renewable energy sources, too. Owing to its very high potential, biomass could play a key role in energy production. This paper attempts to analyze the current status of biomass based energy production in Vietnam addressing variety of aspects such as biomass potential, legal framework as well as financial aspect. Section 4 contains an overview of ongoing bioenergy projects. Instead of providing a complete picture, these examples are intended to illustrate the various ways in which biomass can be used in different economic sectors. Finally existing barriers as well as action to incentivise bioenergy are discussed. Do phát triển kinh tế, nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng 12-16% mỗi năm trong vài năm tới. Chính phủ đã nhận ra rằng vấn đề cung cấp trong lĩnh vực năng lượng gây ra một mối đe dọa đáng kể cho sự phát triển tiếp theo. Vì vậy, có các nỗ lực để hiện đại hóa ngành năng lượng hiện có và mở rộng cấu trúc sản sinh năng lượng. Cũng có những kế hoạch mở rộng đầy tham vọng trong lĩnh vực nguồn năng lượng tái tạo. Do có tiềm năng rất cao, sinh khối có thể đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất năng lượng. Bài viết này cố gắng phân tích tình trạng hiện tại của sản xuất năng lượng sinh khối tại Việt Nam giải quyết nhiều khía cạnh như tiềm năng sinh khối, khuôn khổ pháp lý cũng như các khía cạnh về tài chính. Tổng quan về các dự án năng lượng sinh học đang diễn ra được trình bày trong phần 4. Thay vì cung cấp một bức tranh hoàn chỉnh, các ví dụ được dùng để minh họa cho những cách khác nhau, trong đó sinh khối có thể được sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau. Rào cản cuối cùng hiện tại cũng như hành động để khuyến khích năng lượng sinh học sẽ được thảo luận

    Creating nano composite TiO2.Fe2O3/laterite material applying to treat arsenic compound in groundwater: Chế tạo vật liệu nano composite TiO2.Fe2O3/đá ong ứng dụng xử lý asen trong nước ngầm

    Get PDF
    This article presents nano composite TiO2.Fe2O3/laterite materials, which were successfully prepared by hydrometallurgical method. The materials were modified using urea as the nitrogen source. The particles size of the materials is from 20-30 nanometers. The obtained materials can not only absorb arsenic compounds but also enhance the ability of converting As (III) or As (V) into Aso, which is removed from solution. Arsenic removal efficiency of these materials is high. Using sunlight in a hydraulic retention time, about 180 minutes, the arsenic value at the inflow was about 10 mg/L but the outflow was negligible. Covering TiO2.Fe2O3 nano on laterite have brought high economical efficiency, on one hand, it saved material and on the other hand, it can be continuously operated without the centrifugal separation of the nano material. Bài báo này giới thiệu về phương pháp điều chế vật liệu nano TiO2.Fe2O3 biến tính nitơ được phủ trên đá ong bằng phương pháp thủy luyện. Vật liệu nano thu được có kích thước 20-30 nm. Vật liệu thu được không những có khả năng hấp phụ các hợp chất của asen mà còn có khả năng khử As (III) hoặc As (V) thành Asokhi được chiếu sáng. Sử dụng ánh sáng mặt trời chiếu vào hệ thống xử lý trong thời gian 180 phút có thể loại bỏ được gần như hoàn toàn asen ra khỏi nước mặc dù hàm lượng đầu vào là 10 mg/l. Việc phủ vật liệu TiO2.Fe2O3 nano lên đá ong đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, một mặt nó tiết kiệm được vật liệu, mặt khác, vật liệu có thể sử dụng một cách liên tục mà không cần phải tách bằng phương pháp ly tâm

    Energy-saving biomass stove: Bếp tiết kiệm năng lượng dùng nguyên lý khí hóa trấu

    Get PDF
    This paper introduces an energy-saving biomass stove. The principle of energy-saving biomass stove is gasification. It is a chemical process, transforms solid fuel into a gas mixture, called (CO + H2 + CH4) gas. Emission lines in the stove chimneys typically remain high temperatures around 90° to 120°C. The composition of the flue gas consists of combustion products of rice husk which are mainly CO2, CO, N2. A little volatile in the rice husk, which could not burn completely, residual oxygen and dust will fly in airflow. The amount of dust in the outlet gas is a combination of un-burnt amount of impurity and firewood, usually occupied impurity rate of 1 % by weight of dry husk. Outlet dust of rice husk furnace has a normal size from 500μm to 0.1 micron and a particle concentration ranges from 200-500 mg/m3. Gas emissions is created when using energy-saving stove and they will be used as the main raw material in combustion process Therefore the CO2 emission into the environment when using the stove will be reduced up to 95% of a commonly used stove. Bài báo giới thiệu một bếp tiết kiệm dùng năng lượng sinh khối. Bếp tiết kiệm năng lượng thực hiện nguyên lý khí hóa sinh khối. Đó là một quá trình hóa học, chuyển hóa các loại nhiên liệu dạng rắn thành một dạng hỗn hợp khí đốt, gọi là khí Gas (CO + H2 + CH4). Dòng khí thải ra ở ống khói của bếp thông thường có nhiệt độ vẫn còn cao khoảng 90° ~ 120°C. Thành phần của khói thải bao gồm các sản phẩm cháy của trấu, chủ yếu là các khí CO2, CO, N2, một ít các chất bốc trong trấu không kịp cháy hết, oxy dư và tro bụi bay theo dòng khí. Lượng bụi tro có trong khói thải chính là một phần của lượng không cháy hết và lượng tạp chất không cháy có trong củi, lượng tạp chất này thường chiếm tỷ lệ 1% trọng lượng trấu khô. Bụi trong khói thải lò đốt trấu thông thường có kích thước hạt từ 500μm tới 0,1μm, nồng độ dao động trong khoảng từ 200-500 mg/m3. Lượng khí thải được sinh ra khi sử dụng bếp tiết kiệm năng lượng, sẽ được dùng làm nguyên liệu đốt cháy chính của quá trình đó. Do đó lượng khí CO2 thải ra môi trường khi sử dụng bếp tiết kiệm sẽ được giảm xuống 95 % so với sử dụng bếp thường

    Collection, conservation, exploitation and development of rice genetic resource of Vietnam: Một số đặc điểm sinh lý của vi khuẩn Acidithiobacillus spp. phân lập được từ mỏ thiếc bỏ hoang ở Hà Thượng, tỉnh Thái Nguyên

    Get PDF
    Genetic resources are important for the development of every country and for humanity. Collection, conservation and reasonable utilization of genetic resource is required mission. Understanding the importance of genetic resource, especially rice germplasm, since 2001, Center for conservation and development of crop genetic resources (CCD-CGR) of Hanoi University of Agriculture (Vietnam National University of Agriculture) has been collected, conserved and evaluated rice germplasm from different provinces of Vietnam for breeding programs. So far, 1090 accessions of local rice of Vietnam have been collected. Evaluation of agronomic properties and screening of some important genes using DNA molecular markers have revealed that Vietnamese rice germplasm has high level diversity and containing important genes for quality and resistance for disease and pests. These genetic resources are potential materials for national breeding programs. Based on the collected germplasm, 3 new glutinous rice varieties have been successfully created with high yield and good quality. In addition, the degradation of local rice varieties is also a matter of concern. So far, 4 specialty rice varieties Deo Dang, Ble chau, Pu de and Khau dao have been successfully restored for the north provinces of Vietnam. The main results of this study are germplasms for rice breeding programs and new improved varieties that bring economic benefits to farmers and the country. Nguồn gene là tài nguyên sống còn của mỗi quốc gia và của toàn nhân loại. Vì vậy thu thập, bảo tồn, đánh giá và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên này có ý nghĩa rất lớn. Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn gen nhất là nguồn gen cây lúa, ngay từ đầu những năm 2000, Trung tâm bảo tồn và phát triển nguồn gene cây trồng thuộc Trường Đại học nông nghiệp, nay là Học Viện nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành thu thập, lưu giữ, đánh giá và khai thác nguồn gene lúa. Kết quả đã thu thập, lưu giữ được 1090 mẫu giống lúa địa phương Việt Nam. Đánh giá đặc điểm nông sinh học và phát hiện một số gene quy định các tính trạng chất lượng và kháng sâu bệnh bằng chỉ thị phân tử DNA. Đây là nguồn gene quan trọng cho chọn tạo giống. Dựa vào nguồn gene thu thập được, cho đến nay, Trung tâm bảo tồn và phát triển nguồn gene cây trồng đã lai và chọn tạo được thành công 03 giống lúa nếp chất lượng cao. Ngoài ra, thoái hóa giống cũng là vấn đề đang được quan tâm. Cho đến nay 4 giống lúa đặc sản Đèo đàng, Ble châu, Pu đe và Khẩu dao đã được phục tráng và đưa vào sản xuất. Kết quả của những nghiên cứu này là ngân hàng các giống lúa làm nguồn gene để chọn tạo giống mới đem lại lợi ích kinh tế cho người nông dân và đất nước

    Nghiên cứu khử màu nước thải nhuộm hoạt tính bằng Poly Aluminium Chloride: Nghiên cứu khử màu nước thải nhuộm hoạt tính bằng Poly Aluminium Chloride

    Get PDF
    Color removal of some reactive dyes (Blue 19, Black 5 and Red 195) using a local Poly Aluminium Chloride (PAC) was investigated with Jar-test experiment. The dyes were removed (above 94%) at optimal pH 7 (Red 195) and pH 10 (Blue 19 and Black 5). The PAC dosage of 220 mg/L(Blue 19 and Black 5) and 160 mg/L (Red 195) were found to be best for decreasing dye up to 50 mg/L (Black 5, Red 195) and 100 mg/L (Blue 19). Reaction time and agitation speed also affected the decolorization process. That result indicates that Vietnamese PAC can be a robust and economical coagulant for discolorization of reactive dyeing process. Chất keo tụ Poly Aluminium Chloride (PAC) sản xuất tại Việt nam được ứng dụng khử màu của một số màu nhuộm hoạt tính phổ biến (Blue 19, Black 5 and Red 195) trên thí nghiệm Jar-test. Kết quả cho thấy màu bị loại gần như hoàn toàn (trên 94 %) tại pH 7 (Red 195) hoặc 10 (Blue 19 và Black 5). Nồng độ PAC đạt hiệu quả tốt nhất tại 220 mg/L (Blue 19 và Black 5) và 160 mg/L (Red 195) ứng với nồng độ màu 50 mg/L (Black 5, Red 195) hay 100 mg/L (Blue 19). Thời gian phản ứng, tốc độ khuấy cũng có tác động đến hiệu suất khử màu. Kết quả nghiên cứu cho thấy PAC sản xuất tại Việt nam không những là một chất keo tụ tốt mà còn rất kinh tế cho việc khử màu hoàn toàn trong nước thải nhuộm hoạt tính.Chất keo tụ Poly Aluminium Chloride (PAC) sản xuất tại Việt nam được ứng dụng khử màu của một số màu nhuộm hoạt tính phổ biến (Blue 19, Black 5 and Red 195) trên thí nghiệm Jar-test. Kết quả cho thấy màu bị loại gần như hoàn toàn (trên 94 %) tại pH 7 (Red 195) hoặc 10 (Blue 19 và Black 5). Nồng độ PAC đạt hiệu quả tốt nhất tại 220 mg/L (Blue 19 và Black 5) và 160 mg/L (Red 195) ứng với nồng độ màu 50 mg/L (Black 5, Red 195) hay 100 mg/L (Blue 19). Thời gian phản ứng, tốc độ khuấy cũng có tác động đến hiệu suất khử màu. Kết quả nghiên cứu cho thấy PAC sản xuất tại Việt nam không những là một chất keo tụ tốt mà còn rất kinh tế cho việc khử màu hoàn toàn trong nước thải nhuộm hoạt tính

    State of the environment and natural resources in Vietnam: Thực trạng môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam

    Get PDF
    Vietnam is considered as one of the countries having rich resources from forest and sea, with a high average annual rainfall. However, in view of IWRA, water volume per capita annually in Vietnam is lower than the standard for nations having water resources at average level. Vietnam was recognized by the World Wildlife Fund (WWF) as having three out of more than 200 biological zones of the world. Flora and fauna in Vietnam are very rich and abundant, but due to indiscriminate exploitation, along with weak management, biodiversity levels are significantly reduced. This is also one of the causes of environmental pollution and degradation in Vietnam, besides the impacts from production activities, population migration from rural areas to urban areas, rapid urbanization, climate change and sea level rise, etc. Việt Nam được coi là một trong những quốc gia giàu nguồn tài nguyên từ rừng và biển, có lượng mưa trung bình hàng năm cao. Tuy nhiên, lượng nước bình quân đầu người hàng năm ở Việt Nam thấp hơn so với tiêu chuẩn cho quốc gia có nguồn nước ở mức trung bình theo quan điểm của Hiệp hội nước quốc tế (IWRA). Việt Nam được Quỹ Quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên (WWF) công nhận có 3 trong số hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu. Hệ động thực vật ở Việt Nam rất phong phú, nhưng do vấn nạn khai thác bừa bãi, cùng với sự quản lý yếu kém, mức đa dạng sinh học đã bị giảm đáng kể. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm và suy thoái môi trường ở Việt Nam, bên cạnh các tác động từ hoạt động sản xuất, di dân, đô thị hóa, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, v.v..

    244

    full texts

    249

    metadata records
    Updated in last 30 days.
    Journal of Vietnamese Environment
    Access Repository Dashboard
    Do you manage Open Research Online? Become a CORE Member to access insider analytics, issue reports and manage access to outputs from your repository in the CORE Repository Dashboard! 👇