Thư viện số Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu (Baria Vungtau University)
Not a member yet
16200 research outputs found
Sort by
Entrepreneur’s Human Capital and Business Model Innovation: The Meditation Role of Access to Start-Up Resources
Based on human capital theory, this study aims to explain start-up resources formation and business model innovationThe study examined the effect of entrepreneur’s human capital (including managerial skills and entrepreneurial skills) on business model innovation via access to start-up resources as a mediator. The Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM) was conducted with the size sample of 220 founders/ co-founders of start-up firms in Vietnam. The research results supported the positive links from managerial skills and entrepreneurial skills to business model innovation through the mediating mechanism of access to start-up resources. The study explored the meditation role of access to start-up resources between entrepreneur’s human capital and business model innovation. In addition, the results provide practical value to entrepreneurs in improving managerial skills and entrepreneurial skills in order to facilitate the access to outside support resources and promote business model innovation. Finally, the study suggests some managerial implications for entrepreneurs, research limitations and further research directions
Cooperative learning in EFL reading classes at Lam Dong Minority Boarding School: Master of TESOL
Learning depends on teaching. Therefore, a teacher must think of ways and means to stimulate and encourage learning. In teaching reading, teachers might place emphasis on Cooperative Learning as an effective instructional method in which students of all levels might work together in small groups to achieve a common goal. Hence, this study examines the effect of cooperative learning with respect to EFL learners in reading comprehension at Lam Dong Minority Boarding school, and it investigates students’ attitudes towards cooperative learning. The
total population of the study was 61 students in Grade 11 at Lam Dong Minority Boarding school.. To answer Research Question 1, a quasi-experiment was conducted over a period of 8 weeks. Firstly, a standardized pre-test was given to the participants in both the control and experimental groups, and the results were analyzed. The experimental group adopted a cooperative strategy while the control
group did not. After analyzing, another standardized post-test was conducted. Finally, an Independent sample t-test and paired sample t-test were conducted to examine whether there were significant inter- and intra-group differences in reading comprehension. To answer Research Question 2, a questionnaire and semistructured interviews were carried out for 31 members in the experimental group. Content analysis was utilized to analyze experimental group reflective reports
regarding CL. The results of the study revealed two things. First of all, when preand post-tests were analyzed, cooperative learning helped students achieve significant progress; they easily outperformed students in the conventional learning group with respect to English reading performance. Secondly, the findings also revealed that the students in the experimental group expressed highly positive attitudes towards the use of cooperative learning in EFL reading classes
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người nộp thuế đối với công tác quản lý thuế tại Chi cục Thuế Thành phố Nha Trang: Luận văn Thạc sĩ
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng trong quá trình quản lý thuế tại Chi cục Thuế thành phố Nha Trang, thông qua khảo sát 178 người nộp thuế đang được Chi cục Thuế thành phố Nha Trang quản lý và đang sử dụng dịch vụ tại đây. Người nộp thuế là cá nhân,
tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Nha Trang. Công cụ Cronbach's Alpha, EFA và phân tích mô hình hồi qui bội được sử dụng. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra 3 nhân tố ảnh hưởng lớn đến sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ trong quá trình quản lý thuế tại Chi cục Thuế Nha Trang và được sắp xếp theo
mức độ tác động giảm dần: Năng lực phục vụ, Minh bạch và tin cậy, Sự linh hoạt và chủ động. Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm giúp các nhà quản trị đề ra các biện pháp thiết thực nhằm hoàn thiện chất lượng dịch vụ trong công tác quản lý thuế tại Chi cục Thuế Nha Trang
Phát triển hoạt động Bancassurance của các công ty bảo hiểm tại các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước Việt Nam: Luận văn Thạc sĩ
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của cán bộ, công chức, viên chức tại UBND huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà: Luận văn Thạc sĩ
Sự hài lòng trong công việc sẽ tạo động lực làm việc cho nhân viên, đồng thời làm cho họ phấn khởi yên tâm trong công tác, giữ vững niềm tin và sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức, đem lại hiệu quả, hiệu suất và chất lượng trong công việc. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của CBCCVC tại
UBND huyện Diên Khánh là yếu tố cần thiết, đặc biệt đối với dịch vụ công ngày nay, bởi Chính phủ cần phải đánh giá được việc sử dụng CBCCVC và chất lượng đào tạo để từ đó đưa ra được giải pháp cải cách hành chính cho phù hợp để bộ máy Nhà nước làm việc hiệu quả hơn, tiết kiệm được ngân sách cho Nhà nước. Xuất phát từ sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, đến nay chưa có một nghiên cứu cụ thể về chỉ số hài lòng trong công việc của CBCCVC UBND huyện Diên Khánh. Do đó, lãnh đạo UBND huyện Diên Khánh chưa thể đánh giá toàn diện được mong muốn của đội ngũ CBCCVC do mình quản lý tác đông đến mức độ hài lòng của họ. Đề tài "Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của CBCCVC tại UBND huyện Diên Khánh" được nghiên cứu nhằm đánh giá chất lượng của đội ngũ CBCCVC của UBND huyện Diên Khánh, làm động lực thúc đẩy CBCCVC tích cực với công việc, giúp cho họ phấn khởi yên tâm trong công tác, giữ vững
niềm tin và sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức, đem lại hiệu quả, hiệu suất và chất lượng trong công việc; đồng thời, giúp cho Lãnh đạo UBND huyện Diên Khánh xây dựng được chính sách nhân sự một cách hợp lý, có cách thức thay đổi hành vi cho phù hợp để làm cho CBCCVC hài lòng hơn trong công việc, thu hút được nhân tài, hạn chế sự "chảy máu" chất xám, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động chuyên mô
Nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ cung cấp nhớt Caltex tại Công ty TNHH Vạn Hương: Luận văn Thạc sĩ
Một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại huyện Diên Khánh tỉnh Khánh Hoà đến năm 2025: Luận văn Thạc sĩ
Các nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế của người nộp thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế Thành phố Nha Trang: Luận văn Thạc sĩ
Luật thuế TNCN ra đời đã đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc và tạo bước ngoặt trong lịch sử phát triển hệ thống thuế Việt Nam, nhằm đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội, đảm bảo động viên một cách hợp lý thu nhập của NNT, khuyến khích mọi cá nhân ra sức lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng. Thuế TNCN không còn là trách nhiệm chỉ của những người có thu nhập cao, mà về nguyên tắc, mọi cá nhân có thu nhập đều phải thực hiện nghĩa vụ thuế. Có thể nói, việc ban hành Luật thuế TNCN năm 2007 là phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với tình hình nước ta khi gia nhập WTO phải thực hiện các cam kết về tài chính và có sự kế thừa có chọn lọc những quy định trong chính sách thuế hiện hành.Thuế TNCN ra đời đã điều hòa thu nhập, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp trong xã hội. Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNCN đã có những hiểu quả rõ rệt về ý thức kê khai nộp thuế của Người nộp Thuế. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế mà cơ quan thuế phải quản lý chặt chẽ hơn nữa mới đảm bảo được tính công bằng trong điều tiết thu nhập chịu thuế của các tầng lớp dân cư trong xã hội, qua đó thu hẹp khoảng cách về thu nhập trong xã hội. Vấn đề này thể hiện rõ nét trong việc kê khai nộp thuế của các cá nhân hành nghề kinh doanh tự do như: ca sỹ, diễn viên, người mẫu; các cá nhân kinh doanh qua mạng xã hội. Hơn nữa thói quen thanh toán bằng tiền mặt đang là một rào cản rất lớn cho công tác quản lý của cơ quan thuế đối với Người nộp thuế nói chung và Thuế TNCN nói riêng