Dalat University Journal of Science / Tạp chí khoa học Đại học Đà Lạt
Not a member yet
558 research outputs found
Sort by
KHẢO SÁT CÁC BIỆN PHÁP PHƠI NẮNG, XÔNG HƠI SINH HỌC, ĐỐT ĐẤT VÀ GIỮ CHO ĐẤT KHÔ ĐẾN HIỆU LỰC PHÒNG TRỪ TUYẾN TRÙNG NỐT SƯNG (Meloidogyne sp.) HẠI XÀ LÁCH TẠI LÂM ĐỒNG
Root-knot nematodes (Meloidogyne sp.) are an important plant – parasitic group on green lollo lettuce. Experiments, included solarizion, bio-fumigation, burning and keep drying soil were carried out to control root-knot nematodes on lettuces in Lamdong province. The results showed that burning method was the most effective (in soil) with only 28 juveniles/100g of soil and 96.75% after treating compared to the control with 1312 nematodes/100g of soil. The infection proportion of root-knot nematodes (1.433) and the number of juveniles of root-knot nematodes (201 juveniles/5g of root) in the burning were the lowest. Therefore, the height and the yield of crop treated with this method were the highest, proved by 25.99 cm and 30.25 tons/ha, respectively. In contrast, the root infection proportion in the control was the highest, accounting for 5.733 while the figures for the height (18.8 cm) and the yield of crop (15.93 tons/ha) were the lowest.Tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne sp. là nhóm tuyến trùng ký sinh chủ yếu gây bệnh sưng rễ trên xà lách lollo xanh. Sử dụng biện pháp phơi nắng, xông hơi sinh học, đất đốt và giữ cho đất khô để khảo sát hiệu lực phòng trừ tuyến trùng nốt sưng trên cây xà lách Lollo xanh tại Lâm Đồng. Kết quả cho thấy biện pháp đốt đất có hiệu quả xử lý tuyến trùng cao nhất, chỉ còn 28 con/100g đất và hiệu lực đạt 96,75% sau khi xử lý so với nghiệm thức đối chứng là 1312 con/100g đất. Tỉ lệ xâm nhiễm của tuyến trùng nốt sưng trong rễ ở nghiệm thức đốt đất là 1,433 và số lượng tuyến trùng tuổi 2 trong rễ (201 con/5 g rễ) ở mức thất nhất và đồng thời có chiều cao cây (26,0 cm) và năng suất cao nhất (30,25 tấn/ha). Ngược lại, đối chứng có tỷ lệ xâm nhiễm của tuyến trùng là cao nhất đạt 5,733, chiều cao cây và năng suất trung bình thấp nhất, chỉ số lần lượt là 18,8 cm và 15,93 tấn/ha
CÂU CHUYỂN TÁC BỊ ĐỘNG TỪ GÓC NHÌN CỦA TÍNH CHUYỂN TÁC VÀ SỰ TRI NHẬN
oai:ojs.pkp.sfu.ca:article/20This paper is on passive transitive sentences - a topic that many scholars have discussed - in a different perspective. Specifically, this paper discusses the passive transitive sentences within the participant structure, semantic structure roles of transitive sentences and these roles are associated with their cognitive prominence. Through this cognitive prominence, the paper shows that foregrounding this role or other roles in the passive transitive is motivated cognitively. This is a universal feature of human thoughts.Bài báo này bàn về câu chuyển tác bị động - một chủ đề mà các học giả đi trước đã bàn - nhưng ở một góc nhìn khác biệt. Cụ thể, chúng tôi sẽ thảo luận câu chuyển tác bị động trong cách nhìn cấu trúc tham tố, cấu trúc vai nghĩa của câu chuyển tác gắn với sự nổi bật tri nhận của những vai này về phương diện nhận thức, để cho thấy “việc nêu lên tiền cảnh” vai này hay vai kia trong cấu trúc tham tố, cấu trúc vai nghĩa câu chuyển tác bị động luôn có động cơ về mặt tri nhận, và đó là một nét phổ quát của tư duy con người
CẤP PHÁT BÍT SỬ DỤNG THÔNG TIN ĐA LỚP CHO CHUẨN NÉN VIDEO HIỆU QUẢ CAO NHIỀU LỚP SHVC
Bit allocation is essential for a video encoder to accurately control the generated bits, and thus greatly influences the visual quality. In this paper, an improved bit allocation algorithm is proposed at the frame level for the emerging Scalable High-efficiency Video Coding (SHVC) standard. At the spatial base and enhancement layers, the bit budget is derived jointly from the hierarchical level and the visual complexity of the current frame, where the latter is measured by the inter-layer predicted MAD (Mean Absolute Difference) to allocate the bit budget of each frame. Experimental results show that the proposed method achieves more accurate bitrates with higher visual quality in the average PSNR up to 1.40dB, and controls buffer occupancy more satisfactorily, as compared with the-state-of-the-art approaches in the literature.Cấp phát bít rất cần thiết cho một chuẩn nén video để kiểm soát các bít được tạo ra một cách chính xác, và do đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng video. Trong bài báo này, thuật toán cấp phát bít được đề xuất ở cấp độ khung ảnh (frame) cho chuẩn nén video hiệu quả cao nhiều lớp SHVC (Scalable High-efficiency Video Coding). Lượng bít được cấp phát dựa trên cấp độ khung ảnh và độ phức tạp của khung ảnh hiện tại, trong đó độ phúc tạp khung ảnh được đo bằng MAD (Mean Absolute Difference). MAD của các lớp nâng cao được xác định dựa trên thông tin đa lớp giữa lớp nâng cao và cơ sở. Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng phương pháp đề xuất đạt được các tỉ lệ bít (bit-rate) chính xác hơn, chất lượng video tốt hơn với PSNR trung bình cao hơn 1.40dB, và kiểm soát vùng đệm hiệu quả hơn trong việc phòng tránh hiện tượng tràn và lãng phí vùng đệm, so với các phương pháp tiếp cận khác hiện nay cho chuẩn nén video hiệu quả cao nhiều lớp SHVC
PESTALOTIOPSIS SP. – TÁC NHÂN GÂY BỆNH KHÔ LÁ CÂY DÂU TÂY (FRAGARIA x ANANASSA DUCH.) TẠI ĐÀ LẠT
Study on the pathogens causing strawberries crown rot disease was complied with the methodology of Koch. Results from isolating 150 samples of infected plant parts collected from three strawberry cultivated areas in Dalat (Ward 7, Ward 8 and Ward 12) indicated that there were 327 isolates belonging to six fungal species. Most fungi isolated from infected parts were identified as Botrytis cinerea, Verticillium sp., Cylindrocarpon destructans, Fusarium oxysporum, Rhizoctonia sp. and Pestalotiopsis sp., in which the main fungi consistently isolated were Pestalotiopsis sp.. By fulfilling Koch’s postulates, the results of pathogenesis test indicated that Pestalotiopsis sp. was a pathogen causing the crown rot disease on strawberries in Dalat. This is the first report on the association of Pestalotiopsis sp. with crown rot disease of strawberries in Vietnam.Nghiên cứu tác nhân gây bệnh khô lá trên giống dâu tây Mỹ Đá (Fragaria x ananassa Duch.) được thực hiện tuân theo các bước của định đề Koch. Kết quả phân lập từ 150 mẫu bộ phận của cây bệnh thu thập từ 3 vùng khác nhau (Phường 7, Phường 8 và Phường 12) tại Đà Lạt thu được 327 mẫu vi sinh vật thuộc 6 loài nấm. Tất cả các mẫu nấm phân lập từ các bộ phận bị bệnh đã được định danh là Pestalotiopsis sp., Verticillium sp., Botrytis cinerea, Cylindrocacpon destructans, Fusarium oxysporum, và Rhizoctonia sp.. Trong đó, Pestalotiopsis sp. là loài có tần xuất hiện diện cao nhất ở tất cả các bộ phận cây bệnh của cả ba vùng lấy mẫu. Tính gây bệnh của Pestalotiopsis sp. cũng được đánh giá trên cây dâu tây giống Mỹ Đá và kết quả cho thấy Pestalotiopsis sp. chính là tác nhân gây bệnh khô lá trên cây dâu tây tại Đà Lạt. Đây được xem là báo cáo đầu tiên về Pestalotiopsis sp. gây bệnh trên cây dâu tây tại Việt Nam
PHÂN TÍCH SWOT VỀ TIỀM NĂNG DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
The Southern Central region has notable tourism potential. Tourism potential is the basic condition for tourism development. This paper uses techniques for SWOT analysis to identify strengths, weaknesses of tourism potential in the Southern Central region and opportunities and challenges to cope with. The specific elements of the tourism potential of the region have been identified, and the results of the study are recommended for further studies.Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có tiềm năng du lịch rất đa dạng và phong phú.Tiềm năng du lịch là điều kiện cơ bản của sự phát triển du lịch. Bài báo này sử dụng kỹ thuật phân tích SWOT để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức về tiềm năng du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Những nhân tố cụ thể về tiềm năng du lịch của vùng đã được xác định, tổng hợp và kết quả nghiên cứu được đề nghị cho nghiên cứu tiếp theo
MỘT ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG LƯỚI 3D KHÉP KÍN ĐỂ GIẤU TIN
This paper proposes a structure presentation of 3D mesh and closed mesh, which can apply for hidden messages. Based on shifting value coordinates of vertices, the technique allows information hidden on the triangular 3D mesh model. This above process is controled by rule secret key. The article also mentions a reverse to decode data from stego.Kỹ thuật giấu tin trong đối tượng lưới 3D được đưa ra trong [4], [5] là phương pháp giấu tin trên các đỉnh của một tập các tam giác Theo chuỗi bit khóa sinh ra trong quá trình giấu. Các phương pháp này, trong một số trường hợp, nếu gặp phải lưới hở thì không thực hiện được. Bài báo trình bày phương pháp xác định lưới 3D khép kín, từ đó đề xuất áp dụng các phương pháp giấu tin trong [4], [5] trên kiểu lưới kín đề xuất. Với kỹ thuật này, người nhận chỉ cần biết quy tắc của chuỗi khóa bí mật là có thể giải mã thông tin, sẽ làm tăng tính bảo mật cho các kỹ thuật giấu tin. Thực nghiệm với phương pháp MEP [4] trên các lưới 3D kín cho thấy kỹ thuật này đáp ứng được các yêu cầu giấu tin, có tính bảo mật cao và không cần gửi theo chuỗi bít khóa
NGHIÊN CỨU CÁC THUẬT TOÁN PHÂN BIỆT DẠNG XUNG NEUTRON – GAMMA CHO DETECTOR NHẤP NHÁY
The four neutron - gamma pulsed shape discrimination algorithms for the model NE213 scintillation detector by using digital signal processing were developed. In this study, a pulse generator, pulse digitizer and neutron - gamma pulsed shape discrimination algorithms are simulated in Matlab, Simulink software. The results obtained show that the method to rise-time discrimination has a quality factor (Figure-of-Merits: FOM=1.09), pulsed gradient analysis method (FOM = 0.66), charge comparison method (FOM = 2.21), and correlation pattern method (FOM = 1.97). This result is the basis for building systems for measurements of neutron using scintillation detectors.Bốn thuật toán phân biệt dạng xung cho mô hình detector nhấp nháy NE213 bằng kỹ thuật xử lý tín hiệu số đã được phát triển. Trong nghiên cứu này bộ phát xung, bộ số hóa và các thuật toán phân biệt dạng xung neutron-gamma được mô phỏng trong phần mềm Simulink-Matlab. Kết quả thu được cho thấy phương thức phân biệt theo thời gian tăng có hệ số phẩm chất (Figure-of-Merits: FOM = 1,09), phương pháp phân tích độ dốc xung (FOM = 0,66), phương thức so sánh diện tích xung (FOM = 2,21) và phương thức tương quan mẫu (FOM = 1,97). Kết quả này là cơ sở để xây dựng hệ thống đo neutron sử dụng detector nhấp nháy
MẤY Ý KIẾN BƯỚC ĐẦU VỀ SỐ TIỀN CỔ TÌM THẤY Ở THÔN PĂNG TIÊNG (XÃ LÁT, HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG)
In recent years, Pangtieng villagers (Lat commune, Lacduong district, Lamdong province) have found quintals of ancient coins. Only a small amount of them remains while the rest was lost (because of scrapselling). With 416 remained ancient coins, the authors have verified 42 ancient coin names, including a number of Vietnamese names (An Phap Nguyen Bao, Canh Hung Thong Bao...), and many those of Chinese currency (coin names in the age of the Tang, Northern Song, Ming and Qing dinasties). It is possible that the coins found are stolen by Champa aristocracy in the attacks on the palace of Nguyen Lords in Thuan Thanh in the end of eighteenth century. In order to avoid the arrest of Nguyen Lords, the Chams resided temporarily in Pang Tieng. Later, the Chams buried the money in Pang Tieng before taking refuge in Cambodia.Trong những năm gần đây, những người dân thôn Păng Tiêng (xã Lát, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng) đã tìm thấy hàng tạ tiền cổ tại địa phương, nhưng rất tiếc, số tiền cổ đã bị thất thoát (bán phế liệu), chỉ còn lại một phần không đáng kể. Từ 416 đồng tiền cổ còn lưu lại, các tác giả đã xác minh được 42 hiệu tiền cổ, trong đó có một số hiệu tiền của Việt Nam (An Pháp nguyên bảo, Cảnh Hưng thông bảo,…), còn lại là các hiệu tiền Trung Quốc (các hiệu tiền thời Đường, Ngũ đại thập quốc, Bắc Tống và Minh mạt- Thanh sơ). Các tác giả cho rằng, khả năng lớn số tiền trên đây là do các quý tộc Chăm pa đã thu được trong các cuộc tấn công vào các phủ thành của chúa Nguyễn vùng Thuận Thành vào cuối thế kỷ XVIII. Sau đó, để tránh sự truy nã của quan quân chúa Nguyễn, họ lánh nạn lên vùng Păng Tiêng và trước khi tỵ nạn sang Campuchia, họ đã chôn lại số tiền trên ở vùng này
ẢNH HƯỞNG CỦA DUNG DỊCH DIỆT KHUẨN DIOX FORTE (CHLORINE DIOXIDE - CLO2) ĐẾN KHẢ NĂNG KÉO DÀI TUỔI THỌ CỦA NHO VÀ CÀ CHUA
This paper reports a study of the effect of disinfection solution Diox Forte (chlorine dioxide - ClO2) at 0, 10, 20, 40, 80 and 160 ppm on the shelflife of grapes and tomatoes at room temperature and cold store (5oC). The shelflives of grapes and tomatoes were significantly increased when treated with Diox Forte at 40 ppm for grapes and 10 – 20 ppm for tomatoes. The shelflife of grapes treated with Diox Forte at 40 ppm at room temperature and cold store (5oC) was increased for up to 17 days and 22 days, respectively. Meanwhile, the shelflife of tomato cultivars ‘Rista’ and ‘Triatlon’treated with Diox Forte at 40 ppm was significantly increased by 45 days and 29 days, respectively, compared to those of untreated tomatoes; the shelflife of cultivar ‘Octavio’ treated with Diox Forte at 10 ppm reached a maximum at 46 days, compared to untreated tomatoes; and cultivar ‘Olivade’ did not response to Diox Forte solutions. In the absence of Diox Forte, the shelflife of cultivar ‘Octavio’ was the highest with 40 days, followed by ‘Olivade’ (31 days) and ‘Triatlon’ (25 days) as compared to cultivar ‘Rista’ (24 days).Ảnh hưởng của dung dịch diệt khuẩn Diox Forte (chlorine dioxide - CLO2) ở ồng độ 0, 10, 20, 40, 80 và 160 ppm lên tuổi thọ của nho và cà chua trong điều kiện nhiệt độ phòng và nhiệt độ lạnh 5oC được tiến hành nghiên cứu. Tuổi thọ của nho và cà chua tăng một cách có ý nghĩa khi sử dụng dung dịch Diox Forte ở nồng độ 40 ppm cho nho và 10 – 20 ppm cho cà chua. Tuổi thọ của nho tăng thêm 64% (17 ngày) và 103% (22 ngày) khi sử lý với Diox Forte ở nồng độ 40 ppm và bảo quản trong điều kiện nhiệt độ phòng và trong bảo quản lạnh ở nhiệt độ 5oC, theo thứ tự tương ứng. Tuổi thọ giống cà chua Rista (45 ngày) và Triatlon (29 ngày) đạt cực đại với Diox Forte nồng độ 40 ppm và cao hơn 87,5% và 16% so với khi không xử lý Diox Forte, theo thứ tự tương ứng. Trong khi đó tuổi thọ giống Octavio (46 ngày) đạt cực đại với Diox Forte nồng độ 10 ppm và cao hơn 6 ngày so với không xử lý. Trái lại thì tuổi thọ giống Olivade hầu như không không tăng đáng kể khi sử dụng Diox Forte. Trong số các giống cà chua khảo sát thì giống Octavio có tuổi thọ lớn nhất (40 ngày), theo sau là giống Olivade (31 ngày) và Triatlon (25 ngày). Giống Rista có tuổi thọ nhỏ nhất (24 ngày) so với các giống khác khi không dùng dung dịch diệt diệt khuẩn Diox Forte
TỪ LÁY VẦN TRONG THƠ TÌNH XUÂN DIỆU
Reduplication is a special part of Vietnamese language. Each reduplicative word itself shows its user’s exquisite and vivid appreciation of social phenomena. Therefore, reduplication is considered an effective means of expression in literature and art, especially in poetry. Each writer or poet has his/her own ways of using reduplication, which forms the writer’s uniqueness and creativity in word forming. This article will focus on rhyming words in Xuan Dieu\u27s poems of love, through which the article reaffirms his distinct creativeness in word usage.Từ láy thuộc loại đơn vị ngôn ngữ đặc biệt của tiếng Việt. Mỗi từ láy chứa đựng trong mình sự thể hiện tinh tế và sinh động về sự cảm thụ chủ quan của người nói trước hiện tượng đời sống xã hội. Đây được xem là phương tiện tạo hình đắc lực của văn học nghệ thuật, đặc biệt là thi ca. Mỗi nhà thơ, nhà văn đều có những cách sử dụng từ láy mang tính sáng tạo riêng. Chính điều này đã tạo nên phong cách cá nhân, khả năng tạo từ đặc sắc của người nghệ sĩ. Bài viết dưới đây sẽ khảo sát về từ láy vần trong thơ tình Xuân Diệu, qua đó khẳng định tài năng sáng tạo từ ngữ rất riêng của nhà thơ