Dalat University Research Information Management System
Not a member yet
4401 research outputs found
Sort by
Khắc phục hiện tượng bất thường và cải thiện tích lũy hợp chất thứ cấp trong vi nhân giống một số cây dược liệu
Xem xét bậc phân loại của Chi Sồi gỗ (Pachylarnax), họ Ngọc Lan (Magnoliaceae) tại Việt Nam
Enhancing perception and self-assessed critical thinking of lecturers and students in using generative AI
The impact of' private and public human capital investment on Economic growth and inequality mitigotion
ĐIỀU CHẾ ACETAMINOPHEN CÙNG CÁC DẪN XUẤT VÀ PHÂN TÍCH NHỮNG HỢP CHẤT NÀY DỰA TRÊN ĐIỆN CỰC ĐƯỢC CẢI TIẾN BỀ MẶT BẰNG KỸ THUẬT ĐIỆN HÓA
Bắt đầu khởi nghiệp hay tiếp quản doanh nghiệp?. Nền tảng kinh doanh gia đình tác động như thế nào đến những ý định khởi nghiệp này?
Tổng hợp màng lọc thẩm thấu thuận (Forward Osmosis – FO) nâng cao và ứng dụng công nghệ FO để xử lý nước nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu
Translanguaging in generative AI prompting among Vietnamese EFL learners: an exploratory mixed-methods study
As generative artificial intelligence (GenAI) tools are increasingly integrated into academic language learning, research has largely focused on AI-generated outputs, with limited attention to how learners design prompts to guide these systems, particularly in multilingual EFL contexts. Adopting a translanguaging perspective, this study investigates how Vietnamese EFL university students draw on their linguistic repertoires when constructing prompts for GenAI-assisted academic English tasks and examines learner-related factors shaping these practices. Using an exploratory mixed-methods design, survey data from 68 students were analysed to examine reported translanguaging strategy use and its predictors, complemented by an analysis of open-ended responses capturing learners' reflections on multilingual prompting practices. The results indicate that translanguaging is a common and purposeful feature of prompt design, particularly during planning, idea formulation, and iterative refinement. Regression analyses show that attitudes toward translanguaging significantly predicted strategy use, whereas English proficiency, AI confidence, and gender did not. Qualitative findings further reveal that learners used Vietnamese to clarify intentions, evaluate AI-generated outputs, and regulate cognitive and affective demands. Based on these findings, the study introduces transprompting to conceptualise strategic movement across languages during AI prompt design and highlights pedagogical implications for scaffolding multilingual prompt literacy in AI-supported EFL contexts.001–1
Các di tích công xưởng chế tác công cụ đá thời Tiền sử ở Tây Nguyên
Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng - là địa bàn chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước. Nơi đây còn là địa bàn nghiên cứu hấp dẫn của khoa học xã hội và nhân văn - trong đó có khảo cổ học. Trước năm 1975, trên địa bàn Tây Nguyên hầu như không có hoạt động nghiên cứu khảo cổ học nào đáng kể. Sau năm 1975 đến nay, ở Tây Nguyên đã có nhiều phát hiện, thám sát, khai quật và nghiên cứu sâu về khảo cổ học tiền sử. Một loạt chương trình, dự án, đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Cơ sở liên quan đến khảo cổ học tiền sử Tây Nguyên được thực hiện trong năm thập kỷ vừa qua.
Đến nay, trên địa bàn Tây Nguyên đã phát hiện gần 300 di tích khảo cổ thời tiền sử; trong đó có hơn 30 địa điểm đã được khai quật và nghiên cứu có hệ thống. Trong số đó, đáng chú ý là có hơn 50 di tích công xưởng chế tác công cụ đá, với 10 địa điểm đã được khai quật. Những di tích này có tuổi hậu kỳ Đá mới - sơ kỳ Kim khí, phân bố trên địa bàn 4 tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Thông thường, các di tích công xưởng phân bố trong một số nhóm; mỗi nhóm có quy mô lớn nhỏ khác nhau; sử dụng nguồn nguyên liệu đá khác nhau; có quy trình, kỹ thuật chế tác khác nhau; loại hình sản phẩm, phạm vi giao lưu trao đổi sản phẩm rộng hẹp cũng khác nhau. Tất cả điều đó cho thấy tính đa dạng của loại hình di tích công xưởng (hoạt động chế tác) chế tác công cụ đá ở Tây Nguyên.
Những thành tựu nghiên cứu về thời tiền sử ở Tây Nguyên đã được đăng tải trên Tạp chí Khảo cổ học; trong Những phát hiện mới về khảo cổ học thường niên; trong các hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế; các tạp chí trong nước và quốc tế khác,…; hay, một số công trình chuyên khảo về khảo cổ học Tiền sử, Sơ sử và Lịch sử; một số luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ đã được bảo vệ. Những công bố trên ít nhiều đề cập đến các di tích công xưởng, song chưa có một công trình mang tính chuyên khảo về hệ thống các công xưởng chế tác công cụ đá ở Tây Nguyên.
Trong gần 30 năm vừa qua, bản thân tác giả cuốn sách đã trực tiếp điều tra, phát hiện và khai quật một số di tích công xưởng chế tác công cụ đá; được tham gia cùng các đồng nghiệp trên nhiều công trường khảo cổ khác ở Tây Nguyên. Trong hoạt động điền dã, tác giả nhận ra rằng, việc nghiên cứu các di tích công xưởng chế tác công cụ đá là góp phần nghiên cứu các thành tựu của hoạt động thủ công chế tác công cụ lao động của cư dân tiền sử; về vấn đề phân công lao động; con đường giao lưu, trao đổi và đặc biệt là quá trình tạo dựng tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa tiền sử ở Tây Nguyên. Đây là những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn cơ bản của khảo cổ học vùng, góp phần nghiên cứu tiền sử khu vực, làm tiền đề cho công tác điều tra phát hiện mới; xây dựng quy hoạch bảo vệ di tích; biên soạn giáo trình giảng dạy chuyên đề cho sinh viên/học viên ở các trường đại học.
Cuốn sách này là thành quả của luận án Tiến sĩ do tác giả thực hiện, được bảo vệ thành công trước Hội đồng cấp Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam năm 2015. Từ năm 2016 đến nay, những tư liệu về công xưởng nói riêng, các di tích tiền sử ở Tây Nguyên nói chung tiếp tục được tác giả nghiên cứu, cập nhật và hiệu đính. Công trình này được biên soạn dưới dạng chuyên khảo, gồm bốn phần, kèm theo là danh mục tài liệu tham khảo và các minh họa. Nội dung cơ bản như sau:
Phần thứ nhất trình bày khái quát về địa - nhân văn của địa bàn Tây Nguyên; đặc điểm hành chính và dân cư trong lịch sử cũng như hiện tại có mối tương quan và tác động như thế nào đến sự ra đời, tồn tại và phát triển của các cộng đồng cư dân trên vùng đất Tây Nguyên. Ở phần này, chúng tôi cũng đã tổng hợp tất cả những tư liệu điều tra, thám sát và khai quật các di tích công xưởng chế tác công cụ đá thời tiền sử hiện biết ở Tây Nguyên. Với kết quả nghiên cứu, phần một còn đánh giá những thành tựu đạt được, những vấn đề đặt ra và các vấn đề cần tiếp tục giải quyết khi nghiên cứu về công xưởng chế tác công cụ đá, cũng như những định hướng nghiên cứu về công xưởng trong tương lai.
Phần thứ hai tiếp cận các hoạt động thủ công chế tác công cụ đá theo hướng nghiên cứu một ngành sản xuất trong xã hội tiền sử, như: Các công đoạn, quy trình sản xuất tạo ra sản phẩm; nghiên cứu nhu cầu xã hội; mức độ đáp ứng của các công xưởng chế tác trong việc thỏa mãn nhu cầu sản xuất,... Dựa trên những kết quả điều tra, thám sát và khai quật; ứng dụng các phương pháp của khoa học tự nhiên để xác định nguồn gốc nguyên liệu và công cụ đá. Thông qua đó, phần hai phác thảo diện mạo của các di tích công xưởng từ quy trình chế tác công cụ, các sản phẩm đặc trưng và mối quan hệ của các di tích công xưởng trong không gian tiền sử ở Tây Nguyên.
Theo đó, tư liệu chỉ ra rằng, vào giai đoạn hậu kỳ Đá mới - sơ kỳ Kim khí ở Tây Nguyên đồng loạt ra đời các công xưởng chế tác công cụ đá và hình thành các trung tâm công xưởng; ngoài những nét chung thì ở mỗi trung tâm lại tạo ra những sắc thái riêng mang tính vùng. Trong bốn trung tâm lớn, ở mỗi trung tâm lại có sự chuyên hóa theo từng công đoạn chế tác công cụ, mỗi địa điểm đảm nhận một hoặc hai công đoạn trong quy trình chế tác. Điều đó cho thấy, vào giai đoạn hậu kỳ Đá mới - sơ kỳ Kim khí ở Tây Nguyên đã có sự phân công lao động mà sự phân công ấy đã vượt ra khỏi bộ tộc, vươn tới các bộ tộc liền kề. Đây là các yếu tố tích cực, có tác động đến sự phát triển sản xuất; và, các hoạt động ở công xưởng đã tạo nên sự thống nhất trong đa dạng về văn hóa của các cộng đồng cư dân tiền sử ở Tây Nguyên.
Phần thứ ba trình bày những đặc trưng di tích và di vật; tính chất của các di tích công xưởng ở Tây Nguyên. Qua tư liệu có thể thấy rõ các trung tâm công xưởng có tính đặc thù riêng trong hoạt động chế tác công cụ từ loại hình sản phẩm đến chất liệu chế tác, như: Trung tâm công xưởng H’lang chuyên chế tạo rìu, bôn vai xuôi bằng đá opal; Trung tâm Ia Mơr - Làng Krông chuyên chế tạo rìu vai xuôi và bôn răng trâu chủ yếu bàng đá phtanite, ít đá opal và silic; Trung tâm Chư K’tur - Taipêr chuyên chế tác rìu bôn có vai, rìu thắt eo bằng đá opal; Trung tâm Thôn Bốn - Hoàn Kiếm – Phúc Hưng chuyên chế tạo rìu bôn tứ giác, nguyên liệu chế tác gần như tuyệt đối là đá opal; di tích/nhóm các di tích ở Thôn Tám, thôn Tân Lập, các di tích trong hang động núi lửa (Đắk Nông), Buôn Kiều, Buôn Hằng 1C, Hố Tre (Đắk Lắk), nhóm các di tích ở Làng Gà (Gia Lai) thì chuyên chế tác rìu bầu dục, rìu ngắn, nạo hình đĩa, rìu mài lưỡi bằng đá basalt, basaltic andesite, andesite, dacite, rhyolite, latite, trachyte.
Ngoài ra, tư liệu còn cho biết thêm, vào giai đoạn hậu kỳ Đá mới - sơ kỳ Kim khí ở Tây Nguyên còn có sự tách rời một cách tương đối giữa di tích cư trú với di tích công xưởng chế tác công cụ rìu, bôn bằng đá lửa và đá opal. Tuy nhiên, trong phần lớn các di tích công xưởng vẫn tồn tại những di tồn văn hóa liên quan đến cư trú nhưng mức độ đậm nhạt có sự khác nhau. Sự đa dạng về loại hình di tích được biểu hiện, như: Thuần cư trú, thuần mộ táng, cư trú - mộ táng; cư trú - xưởng, cư trú - xưởng và mộ táng. Thông thường, các di tích cư trú thường phân bố chung quanh khu vực công xưởng. Những di tích này tạo thành hệ thống các di tích dạng làng cổ và tạo nên những nét văn hóa đặc trưng cho từng hệ thống. Khi nghiên cứu các di tích công xưởng, một đặc điểm dễ nhận thấy là các công xưởng hợp lại với nhau thành trung tâm; mỗi trung tâm như vậy thường gồm vài di tích và chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; tạo thành hệ thống trong chuỗi quy trình chế tác công cụ đá. Ngoài những nét chung thì ở mỗi trung tâm lại tạo ra những sắc thái riêng mang tính tiểu vùng.
Ở phần này, chúng tôi còn đề cập đến vấn đề niên đại của các di tích công xưởng. Mặc dù còn những hạn chế về tư liệu nhưng qua phân tích loại hình cũng như địa tầng, phân tích niên đại tuyệt đối và nghiên cứu so sánh với các niên đại tuyệt đối trong văn hóa Lung Leng (Kon Tum); hay hệ thống các niên đại C14 trong hang động núi lửa C6.1, C6’ ở Krông Nô, di chỉ Thôn Tám (Đắk Nông), trong di tích Buôn Kiều (Đắk Lắk), tác giả đồng quan điểm cho rằng các di tích công xưởng ở Tây Nguyên có tuổi hậu kỳ Đá mới – sơ kỳ Kim khí như hiện nay là hợp lý. Tuy vậy, vấn đề này sẽ được trở lại luận bàn khi có thêm những kết quả phân tích niên đại tuyệt đối C14 của nhiều di tích khác ở Tây Nguyên.
Phần thứ tư đánh giá về những giá trị nổi bật của các di tích công xưởng trong tiền sử Tây Nguyên nói chung, cũng như những tác động của hoạt động công xưởng trong cơ cấu kinh tế nguyên thuỷ; trong giao lưu trao đổi thông qua sản phẩm công xưởng; vấn đề phân công lao động; đặc biệt là tạo dựng tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa tiền sử ở Tây Nguyên. Ngoài ra, phần này cũng đề cập đến các giả thuyết về chủ nhân của các văn hóa khảo cổ; mặc dù còn những hạn chế nhưng chuyên khảo cũng đã bước đầu phác thảo nên bức tranh ngôn ngữ tộc người tương ứng với các văn hóa khảo cổ hay nhóm các di tích tiền sử phân bố trên từng tiểu vùng địa lý khác nhau ở Tây Nguyên.
Bên cạnh đó, khi xem xét mối quan hệ văn hóa giữa các di tích giai đoạn hậu kỳ Đá mới - sơ kỳ Kim khí ở Tây Nguyên với một số di tích ở ven biển ở Trung Bộ, vùng Đông Nam Bộ và các nơi khác, tác giả cho rằng, để hình thành nên đặc trưng văn hóa của mình, ngoài điều kiện tự nhiên và sự phát triển tự thân, cư dân tiền sử Tây Nguyên còn có quan hệ rộng với cư dân đương thời ở các khu vực nói trên.
*****
Nhân dịp cuốn chuyên khảo này được xuất bản, tôi chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Khắc Sử, TS. Trần Văn Bảo hai người thầy đã tận tình hướng dẫn khoa học cho tôi trước và sau khi bảo vệ luận án Tiến sĩ, đã tạo nhiều điều kiện cho tôi tham gia công tác điều tra, phát hiện, thám sát và khai quật trên nhiều công trường khảo cổ học tiền sử ở Tây Nguyên. Và giờ đây, PGS.TS Nguyễn Khắc Sử còn viết Lời giới thiệu cho chuyên khảo này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Nhà trường, Khoa chuyên môn đã tạo điều kiện cho tôi thời gian, hỗ trợ cho tôi về mặt kinh phí trong quá trình học tập và nghiên cứu; cảm ơn các đồng nghiệp ở Viện Khảo cổ học, Bảo tàng các tỉnh ở Tây Nguyên đã quan tâm, chia sẻ tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành luận án và hoàn thiện cuốn sách. Và, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để chuyên khảo này được ra mắt bạn đọc.
Mặc dù đã rất nỗ lực hiệu đính và bổ sung tư liệu, đưa ra những luận giải mới về khoa học nhưng chắc chắn chuyên khảo vẫn còn những vấn đề thiếu sót nên rất mong các đồng nghiệp góp ý và phê bình. Tôi hy vọng, chuyên khảo này sẽ phần nào hữu ích cho những ai quan tâm nghiên cứu diễn trình lịch sử - văn hóa Tây Nguyên nói riêng, Việt Nam và khu vực nói chung. Cuốn sách là tài liệu hữu ích cho công tác bảo tồn, nghiên cứu, phát huy giá trị văn hóa của các di tích, di vật; tài liệu tham khảo tốt cho công tác giảng dạy và nghiên cứu ở các trường đại học